Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SƠN LA

Bản án số: 90/2025/HS-ST

Ngày 12 - 6 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuấn Minh.

Thẩm phán: Bà Điêu Thị Kim Liên.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Dũng; bà Lèo Thị Chan; ông Cầm Văn Chinh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Quỳnh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 84/2025/HSST ngày 03 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo:

Sồng A P; tên gọi khác: Không; sinh ngày 22/12/1983 tại tỉnh Sơn La; nơi thường trú: Bản L, xã L, huyện V, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Mông; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Sồng A V (đã chết) và bà Giàng Thị D; vợ là Tráng Thị D1 (đã chết) và có 06 con (con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm 2018); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam theo lệnh truy nã từ ngày 15/12/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Bá L - Đoàn Luật sư tỉnh S. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 10/2005, Bùi Văn T, Đỗ Văn L1, Trần Huy Đ từ Hải Phòng lên huyện M, tỉnh Sơn La để tìm mua ma túy (Heroine) về bán kiếm lời. T gọi điện cho Nguyễn Hữu B (sinh năm 1977, nhà ở tiểu khu A, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sơn La) bàn với B mua 02 bánh Heroine, B đồng ý và đi đến nhà Giàng A C ở bản L, xã L, huyện V, tỉnh Sơn La để hỏi mua 02 bánh Heroine nhưng C nói không có, phải đi tìm. Sau đó, C đến nhà Sồng A V ở bản L, xã L, huyện M (nay là huyện V), tỉnh Sơn La hỏi mua 02 bánh Heroine, V nói có nhưng hẹn Chờ ngày hôm sau đến lấy.

Sáng hôm sau, V mua 02 bánh Heroine với giá 4.400 USD/01 bánh của hai người nam giới tên L2 và X (V không biết rõ họ tên đầy đủ và địa chỉ cụ thể). Đến chiều, Giàng A C dẫn Nguyễn Hữu B đến nhà Sồng A V để mua Heroine, tại đây có Sồng A V và Sồng A P (là con trai thứ hai của V), C giới thiệu B là người mua Heroine. V bảo Sồng A P vào buồng lấy 02 bánh Heroine ra để lên bàn uống nước, B lấy dao nhọn chọc ở giữa mỗi bánh Heroine và lấy một ít ra để thử, thử xong thì hỏi V giá bán Heroine thế nào, V nói giá 4.500 USD/01 bánh. B và C đồng ý mua nhưng không mang theo tiền nên muốn mua chịu, V không đồng ý, B và C ra về.

Chiều ngày hôm sau, B và C đi xe máy mang theo 9.000 USD đến nhà V để mua Heroine, V nói P nhận và đếm tiền, P đếm đủ 9.000 USD và đưa lại cho V, V bảo P vào buồng lấy 02 bánh Heroine ra giao cho B và C. Khi ra về, B và C yêu cầu V và P đi trước cảnh giới xem có Công an không, P đồng ý và đi xe máy trước dò đường, còn B đi xe máy chở C cầm 02 bánh Heroine đi sau. Khi về đến nhà C, C giao lại 02 bánh Heroine cho B, B mang về nhà sau đó giao lại cho T, L1. Do chất lượng Heroine kém không bán được, khoảng mấy ngày sau T mang 02 bánh Heroine đến nhà B yêu cầu Bắc đổi lại 02 bánh khác. Bắc mang 02 bánh Heroine đến gặp C rồi cùng C đến nhà V yêu cầu đổi 02 bánh Heroine khác. Khoảng 3-4 ngày sau, L2 và X đến nhà V, V yêu cầu đổi lại 02 bánh Heroine khác, L2 và X bắt phải bù thêm 200 USD vì 02 bánh Heroine bị khoét ở giữa nhiều quá, V đồng ý.

Sau khi V đổi được 02 bánh Heroine khác thì đem cất trong buồng ngủ, khi B và C quay lại V bảo P vào buồng lấy 02 bánh Heroine mới đổi được đưa cho B và C và yêu cầu bù thêm 200 USD, B đưa thêm cho P 200 USD và nhận 02 bánh Heroine mang về. Sau khi đổi được 02 bánh Heroine, B và C mang đi đâu giao cho ai thì V không biết.

Sau khi bị bắt theo quyết định truy nã (ngày 15/12/2024), Sồng A P khai nhận: Năm 2005 Sồng A P đã có tham gia hành vi mua bán trái phép chất ma túy nêu trên với vai trò giúp sức, cụ thể: Khi Nguyễn Hữu B và Giàng A C đến nhà P để mua ma túy thì P giúp bố đẻ là Sồng A V vào trong buồng lấy 02 bánh Heroine ra đưa cho B và C. Khi B và C trả tiền mua ma túy thì V thì P là người đếm tiền, khi nhận tiền và giao ma túy xong thì V bảo P đi trước dò đường cảnh giới cho C và B mang ma tuý về.

Quá trình điều tra, Sồng A P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, lời khai của Sồng A P phù hợp với lời khai của Sồng A V, Giàng A C, Nguyễn Hữu B và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Căn cứ lời khai của Sồng A P, Sồng A V, Nguyễn Hữu B, Giàng A C và tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ kết luận: Sồng A P, Sồng A V, Nguyễn Hữu B, Giàng A C đã thực hiện hành vi mua bán trái phép 02 bánh Heroine có khối lượng 700 gam (khối lượng 700 gam được xác định theo các bản án đã xét xử, có hiệu lực pháp luật). Hành vi này của Nguyễn Hữu B, Giàng A C, Bùi Văn T, Đỗ Văn L1, Trần Huy Đ đã bị xét xử tại Bản án hình sự sơ thẩm số 457/2007/HSST ngày 27/12/2007; Bản án hình sự phúc thẩm số 380/2008/HSPT ngày 29/05/2008; Sồng A V đã bị xét xử tại Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2009/HSST ngày 22/12/2009.

Đối với các đối tượng liên quan là 02 người đàn ông tên L2 và X, các bị cáo Sồng A V, Sồng A P khai không rõ nhân thân lai lịch nên chưa đủ cơ sở xác minh làm rõ.

Tại bản Cáo trạng số: 4256/CT-VKSTC-V4 ngày 02 tháng 4 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã truy tố Sồng A P về tội Mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015; Giao cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La thực hành quyền công tố và Kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án Sồng A P.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Bị cáo Sồng A P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu và xin giảm nhẹ hình phạt.

- Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015. Tuyên bố bị cáo Sồng A P phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Sồng A P 20 năm tù và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với vật chứng của vụ án đã được giải quyết trong vụ án trước nên không đề cập xử lý; đối với 01 chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo, xác định không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo.

- Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo: Nhất trí về tội danh, điều luật do đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trong vụ án, bị cáo phạm tội với vai trò giúp sức, bị cáo chỉ thực hiện hành vi phạm tội khi có sự chỉ đạo của bị cáo Sồng A V, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 58 Bộ luật hình sự 2015 mở lượng khoan hồng xử phạt bị cáo mức hình phạt tù có thời hạn như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và miễn hình phạt bổ sung, án phí cho bị cáo.

- Bị cáo nhất trí với lời bào chữa chủa vị Luật sư, không có ý kiến tranh luận. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Xét lời khai nhận tội của bị cáo Sồng A P tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của các bị cáo khác trong vụ án gồm Sồng A V, Giàng A C, Nguyễn Hữu B,...; phù hợp với Biên bản nhận dạng người qua ảnh của Giàng A C và Nguyễn Hữu B đã nhận dạng ảnh của Sồng A P và phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã truy tố đối với Sồng A P, thể hiện:

Khoảng tháng 10 năm 2005 tại bản Lũng Xá, xã L, huyện M (nay là bản L, xã L, huyện V, tỉnh Sơn La), Sồng A P cùng Sồng A V đã thực hiện hành vi mua bán trái phép 02 bánh Heroine tương đương với khối lượng 700 gam. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã bỏ trốn, đến ngày 15/12/2024 Sồng A P bị bắt theo quyết định truy nã. Do đó có đủ cơ sở kết luận Sồng A P phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, tội phạm được quy định tại Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 (nay là Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015).

[3] Về tình tiết định khung hình phạt:

Bị cáo Sồng A P có hành vi mua bán trái phép 02 bánh Heroine tương đương với khối lượng 700 gam, vi phạm tình tiết định khung “Heroine, C1, M, A, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng 100 gam trở lên” quy định tại điểm b khoản 4 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 (nay là điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015), khung hình phạt có mức hình phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Nhân thân: Bị cáo là nhân dân lao động, chưa có tiền án, tiền sự.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không..

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có ông nội là Sồng A T1 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và vai trò của bị cáo trong vụ án:

Bị cáo Sồng A P là người có năng lực hành vi, nhận thức rõ việc Nhà nước nghiêm cấm các hành vi mua bán trái phép chất ma túy, nhưng do nhận thức còn hạn chế đã bất chấp pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Trong vụ án, bị cáo Sồng A P là người giúp sức cho Sồng A V bán trái phép 700 gam Heroine cho Giàng A C và Nguyễn Hữu B (Sồng A V là bố đẻ của bị cáo đã bị Toà án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử 20 năm tù tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 24/2009/HSST ngày 22/12/2009). Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma túy, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy cần có mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội đối với bị cáo.

[6] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính là hình phạt tù, bị cáo Sồng A P còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, số Imei 1: 358913807303724, số Imei 2: 358913807303732, bên trong gắn 01 sim điện thoại, đã qua sử dụng (thu giữ của Sồng A P). Quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại trên bị cáo không sử dụng vào việc mua bán trái phép chất ma túy. Do đó, cần trả lại cho bị cáo Sồng A P.

[8] Về án phí:

Bị cáo Sồng A P là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc đối tượng được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Sồng A P phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Sồng A P 20 (Hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 15/12/2024).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Sồng A P.

2. Về xử lý vật chứng, tài sản vụ án: Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, số Imei 1: 358913807303724, số Imei 2: 358913807303732, bên trong gắn 01 sim điện thoại, đã qua sử dụng (thu giữ của Sồng A P).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C2 với Cục thi hành án dân sự tỉnh Sơn La hồi 14 giờ 20 phút ngày 15/4/2025).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Sồng A P.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo Sồng A P được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 12/6/2025)./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - Cục THADS tỉnh Sơn La;
  • - Công an tỉnh Sơn La;
  • - Cơ quan hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Sơn La;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Trại tạm giam công an tỉnh Sơn La;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phạm Tuấn Minh

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 90/2025/HS-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về mua bán trái phép chất ma túy (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 90/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger