Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 90/2025/HS-ST

Ngày: 03-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thương Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Tùng
2/ Bà Lê Thị Nhanh
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Quang - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Thuận - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 1055/2024/TLST-HS ngày 19/12/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 216/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 2215/2025/HSST-QĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Công T; giới tính: Nam; sinh ngày 08 tháng 3 năm 1986, tại Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: 1 T, Phường 1, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn Q và bà Nguyễn Thị L; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Tuyết N và có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2023); tiền án: không; tiền sự: không.

Nhân thân:

  • + Ngày 28/02/2006, bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 202/2006/HSST;
  • + Ngày 05/6/2007, bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” nhưng, tổng hợp với Bản án số 202/2006/HSST bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 05 năm tù, đã chấp hành xong bản án ngày 21/8/2010;
  • + Ngày 26/12/2017, bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 18 tháng theo Quyết định số 225/QĐ-TA;
  • + Ngày 27/02/2020, bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng theo Quyết định số 42/QĐ-TA.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 09/01/2024 tại Trại tạm giam C - Công an Thành phố H. (Có mặt)

- Bị hại: Chị LI LE TU, sinh năm: 2004, quốc tịch: Trung Quốc (hiện đã xuất cảnh)
Nơi lưu trú trước khi xuất cảnh: A Đ, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Trúc Quỳnh
Trú tại: A đường Â, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

- Người làm chứng:
1/ Chị WU JINGHAN, sinh năm: 2004, quốc tịch: Trung Quốc.(Vắng mặt)
2/ Ông Trần L1, sinh năm: 1947.
Nơi cư trú: 3 L, Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 04 giờ 30 phút, ngày 02/01/2024, Nguyễn Công T điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Vario, màu đỏ đô, biển số 59P3-286.76 phía sau chở bạn gái là Nguyễn Thị Trúc Q1 đi mua thuốc tại nhà thuốc Pharmacity tại số G C, Phường F, quận T. Trong lúc T dừng xe trước nhà thuốc để Q1 đi vào trong mua thuốc thì ông Trần L1 điều khiển xe gắn máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 93D1-207.12 phía sau chở chị LI LE TU (sinh năm 2004, quốc tịch Trung Quốc) cùng bạn là chị WU JINGHAN (sinh năm 2004, quốc tịch: Trung Quốc) dừng lại hỏi nhờ T chỉ đường về khách sạn L3 tại số A Đ, Phường B, quận T. Sau khi được Tước chỉ đường, ông L1 tiếp tục chở chị L2 LE TU và chị WU JINGHAN về khách sạn.

Đến khoảng 04 giờ 45 phút cùng ngày, Nguyễn Công T đang trên đường chở Nguyễn Thị Trúc Q1 về khách sạn "Phi Yến" trên đường T, Phường A, Quận A, thì T tiếp tục thấy ông L1 chở chị LI LE TU và chị WU JINGHAN lưu thông phía trước, trên tay chị LI LE TU đang cầm 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax 256 GB màu xanh, nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Tước liền điều khiển xe chở Q1 bám theo xe của ông L1. Khi đến trước số B P, Phường B, quận T, T giả vờ nói chị LI LE TU đưa điện thoại để Tước tiếp tục chỉ đường. Khi chị LI LE TU vừa đưa điện thoại hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh, loại 256 GB lên, T dùng tay trái giật chiếc điện thoại nêu trên của chị LI LE TU rồi tăng ga, tẩu thoát về hướng đường P. Sau khi được ông L1 chở về khách sạn, đến 08 giờ cùng ngày, chị LI LE TU đến Công an P, quận T trình báo sự việc.

Đối với Nguyễn Công T sau khi cướp giật được điện thoại của chị LI LE TU, đem đến khu vực đường K nhờ đối tượng tên C (chưa rõ lai lịch), bán với giá từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng, C đồng ý và nói với T khi bán được điện thoại sẽ đưa lại tiền, đến nay T chưa lấy được tiền từ C.

Qua điều tra truy xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T xác định Nguyễn Công T là người đã thực hiện hành vi cướp giật điện thoại của chị LI LE TU tại trước số B P, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 06/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam đối với Nguyễn Công T.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Công T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của bị can Tước phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Kết luận định giá tài sản số 78/KL-HĐĐGTS ngày 12/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận T kết luận: 01 điện thoại đi động hiệu Iphone, loại 12 Promax, màu xanh, dung lượng 256GB đã qua sử dụng vào thời điểm tháng 01/2024 có giá là 14.000.000 đồng.

* Vật chứng của vụ án:

  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone, loại 12 Promax, màu xanh, dung lượng 256GB, không rõ số imei, hiện không thu hồi được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã thông báo truy tìm vật chứng nhưng chưa có kết quả;
  • - 01 xe gắn máy hiệu Vario, màu đỏ, biển số: 59P3-286.76 (là phương tiện dùng vào việc phạm tội), qua xác minh do Nguyễn Công T đứng tên chủ sở hữu;
  • - 01 quần Jean màu xanh của nam, 01 áo thun tay ngắn màu trắng, 01 nón bảo hiểm màu xám, 01 đôi dép nhựa là trang phục cá nhân của Nguyễn Công T mang mặc khi thực hiện hành vi phạm tội;
  • - Ngoài ra, Cơ quan điều tra thu giữ tài sản cá nhân của Nguyễn Công T gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu vàng, Imei số: 356146090616104; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A14 màu nâu tím, I số: 357368582490819: 01 điện thoại di động OPPO Reno 10 Pro 5G màu xanh, Imei số: 862211062588017;
  • - Thu giữ của Nguyễn Thị Trúc Q1: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng. loại 128GB, Imei số: 356712110863131; 01 quần dài nữ màu xanh lá, 01 áo hai dây nữ màu xanh lá, 01 nón bảo hiểm màu xám, 01 đôi dép xỏ ngón.

Các vật chứng trên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã tiến hành nhập kho vật chứng chờ xử lý theo quy định.

* Trách nhiệm dân sự: Chị LI LE TU đã xuất cảnh về lại Trung Quốc vào ngày 03/01/2024. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã tiến hành ủy thác tư pháp cho Bộ Tư pháp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa để ghi lời khai chị LI LE TU nhưng đến nay chưa có kết quả.

Tại bản Cáo trạng số 04/CT-VKS-P2 ngày 11/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Công T về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Bị cáo khai nhận hành vi như trong phần nội dung vụ án đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm luận tội: Giữ nguyên bản cáo trạng như đã truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Công T từ 04 (bốn) đến 05 (năm) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Do bị hại đã xuất cảnh về nước, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã tiến hành ủy thác tư pháp cho Bộ Tư pháp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa để ghi lời khai chị LI LE TU nhưng đến nay chưa có kết quả. Đối với chiếc xe gắn máy do bị cáo dùng làm công cụ phạm tội nên đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước. Đối với các tài sản thu giữ là điện thoại di động của bị cáo; điện thoại di động của và trang phục của bà Trúc Q1, do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại theo quy định. Tịch thu tiêu hủy trang phục của bị cáo mặc khi thực hiện hành vi phạm tội do không còn giá trị sử dụng.

Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo nói lời sau cùng: Xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: trong quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại đối với các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Trong quá trình điều tra vụ án và xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi như đã nêu trong phần nội dung vụ án. Lời khai của bị cáo phù hợp với bản tường trình, biên bản lấy lời của bị hại, phù hợp với lời khai của người làm chứng là ông Trần L1, phù hợp với trích xuất dữ liệu camera an ninh, bản ảnh thực nghiệm điều tra cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:

Khoảng 04 giờ 45 phút, ngày 02/01/2024, tại trước địa chỉ số B P, Phường B, quận T, bị cáo Nguyễn Công T đã điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Vario, biển số 59P3-286.76, áp sát vào xe gắn máy do ông Trần L1 điều khiển, phía sau chở chị LI LE TU, giật điện thoại di động của chị LI LE TU rồi nhanh chóng tẩu thoát, sau đó đem đi tiêu thụ. Hành vi dùng xe máy áp sát bị hại giật tài sản là “Dùng thủ đoạn nguy hiểm”.

Tài sản do bị cáo chiếm đoạt là 01 điện thoại đi động hiệu Iphone, loại 12 Promax, màu xanh, dung lượng 256GB đã qua sử dụng, kết luận định giá vào thời điểm tháng 01/2024 là 14.000.000 đồng.

Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Công T đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Về các tình tiết giảm nhẹ: Trong suốt quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội và an toàn giao thông, gây mất niềm tin của du khách nước ngoài khi đến Việt Nam. Bị cáo có nhân thân xấu, nghiện ma túy, đã nhiều lần bị Tòa án xét xử về hành vi “Cướp giật tài sản” nhưng nay lại tiếp tục phạm tội. Do vậy, cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội trong một thời gian nhất định, thật sự nghiêm khắc nhằm cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Các lập luận trên đây cũng là căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã đề nghị đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại đã xuất cảnh về nước, đến nay vẫn chưa ghi nhận được yêu cầu về bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này. Bị hại có quyền khởi kiện yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại trong vụ án dân sự khác.

[6] Xử lý vật chứng:

  • - Đối với vật chứng là 01 xe gắn máy hiệu Vario, màu đỏ, biển số: 59P3-286.76 do bị cáo đứng tên chủ sở hữu: Xét đây là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước;
  • - Đối với các trang phục cá nhân của Nguyễn Công T (gồm: 01 quần Jean màu xanh của nam, 01 áo thun tay ngắn màu trắng, 01 nón bảo hiểm màu xám, 01 đôi dép nhựa, do bị cáo mặc khi thực hiện hành vi). Xét đây là các vật chứng không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy;
  • - Đối với các tài sản của Nguyễn Công T gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu vàng, Imei số: 356146090616104; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A14 màu nâu tím, I số: 357368582490819: 01 điện thoại di động OPPO Reno 10 Pro 5G màu xanh, Imei số: 862211062588017: Xét đây là tài sản riêng, không liên quan đến hành vi của bị cáo nên cần trả lại cho Nguyễn Công T.
  • - Đối với các tài sản của Nguyễn Thị Trúc Q1 gồm: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng. loại 128GB, Imei số: 356712110863131; 01 quần dài nữ màu xanh lá, 01 áo hai dây nữ màu xanh lá, 01 nón bảo hiểm màu xám, 01 đôi dép xỏ ngón: Xét đây là tài sản riêng, không liên quan đến hành vi của bị cáo nên cần trả lại cho Nguyễn Thị Trúc Q1.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017,

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Công T 04 (bốn) năm tù, về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2024.

  2. Căn cứ các Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong có chữ kí của Nguyễn Công T và dấu tròn của Công an Phường 02 quận T (bên trong có 01 quần của nam, 01 áo thun tay ngắn màu trắng trên vai có viền đen, 01 nón bảo hiểm màu xám, một đôi dép nhựa quay ngang màu xám của T), không kiểm tra được;
    • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 xe gắn máy hiệu Vario, màu đỏ, biển số: 59P3-286.76, số khung: MH1JM4110NK825078; số máy: JM1E1824414 (không gương,dàn nhựa bể, xe củ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra) do bị cáo Nguyễn Công T đứng tên chủ sở hữu;
    • - Trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động Iphone 6, màu vàng, không mở nguồn được, bị hở ốp lưng sau của T (thực nhận 01 điện thoại di động Iphone màu vàng, không kiểm tra đời máy, I do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 (một) điện thoại di động Samsung A14 màu nâu tím, IMEL: 357368582490819 của Tước (thực nhận 01 điện thoại di động Samsung kiểu dáng A14 nâu tím, Imei sau lưng: 357368582490819, không kiểm tra đời máy, I do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong); 01 (một) điện thoại di động OPPO Reno 10 Pro 5G màu xanh, Imel:862211062588017 của T (thực nhận 01 điện thoại di động Oppo kiểu dáng Reno 10 Pro màu xanh, không kiểm tra đời máy, I do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong);
    • - Trả lại cho Nguyễn Thị Trúc Q1: 01 (một) gói niêm phong có chữ ký của Nguyễn Thị Trúc Q1 và dấu tròn của Công an P1 quận T (bên trong là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, 128GB của Q1) không kiểm tra được. Tất cả đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động (không kiểm đếm, kểm tra bên trong niêm phong); 01 (một) gói niêm phong có chữ ký của Nguyễn Thị Trúc Q1 và dấu tròn của Công an P1 quận T (bên trong có 01 quần dài nữ màu xanh lá, 01 áo hai dây nữ màu xanh lá, 01 nón bảo hiểm kiểu che nữa đầu màu xám, 01 đôi dép xỏ ngón có đế màu nâu của Q1), không kiểm tra được.

    (Theo biên bản giao nhận tang tài vật số NK 2025/212 ngày 18 tháng 02 năm 2025 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).

  3. Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án,

    Bị cáo Nguyễn Công T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao; (1)
  • - TAND cấp cao tại TP. HCM; (1)
  • - VKSND TP. HCM; (3)
  • - Cục Thi hành án dân sự; (1)
  • - Sở tư pháp; (1)
  • - Trại giam; (2)
  • - Bị cáo; (1)
  • - Bị hại; (1)
  • - NCQLNVLQ (2)
  • - Thi hành án hình sự; (2)
  • - Phòng PV06 - CA TP. HCM; (1)
  • - UBND nơi bị cáo cư trú; (3)
  • - Lưu: VT, THS, hồ sơ; (25) (5)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thương Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 90/2025/HS-ST ngày 03/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm: cướp giật tài sản

  • Số bản án: 90/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Công T phạm tội Cướp giật tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger