Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2025/HS-PTNgày 25/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Hồng Thể

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đức Anh và ông Nguyễn Quang Trung.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lệ Huyền – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Duy Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 79/2025/TLPT-HS ngày 19 tháng 5 năm 2025 do có kháng cáo của bị cáo Trần Xuân L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2025/HS-ST ngày 24/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Bị cáo có kháng cáo: Họ và tên Trần Xuân L; Tên gọi khác: không Sinh ngày 10/10/1968 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Trú tại: xóm X, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động dự do; Trình độ học vấn: 07/10; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Con ông Trần Xuân C và bà Đặng Thị L1; vợ Bùi Thị K (sinh năm 1966) và có 04 con. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2024 đến ngày 25/01/2025 thì được áp dụng biện pháp Bảo lĩnh. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 10/2024, Trần Xuân L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE RSX, biển kiểm soát 37V3-8595 đi đến thị trấn P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh để mua đồ dùng gia đình thì biết được một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể có pháo bán. Do có nhu cầu mua pháo về bán kiếm lời nên L đã đặt mua của người đàn ông này 28 (hai mươi tám) khối pháo nổ, loại 49 quả/1 khối với giá 700.000 đồng/1 khối. Sau khi thống nhất giá, L đưa họ tên, địa chỉ của mình để người đàn ông đó trực tiếp đưa pháo đến giao. Khoảng 2 ngày sau, người đàn ông đó điều khiển xe mô tô chở theo 28 khối pháo nổ được đựng trong một thùng catton và một thùng xốp gửi đến nhà L. Sau khi kiểm đếm đủ số lượng, L đã thanh toán số tiền mặt 19.600.000 đồng cho người đàn ông đó. Sau đó, L đưa 02 thùng pháo chứa 28 khối pháo nổ cất giữ ở trong sập gỗ đựng lúa đặt ở gian lồi bên trái phòng khách nhà chính để khi nào ai có nhu cầu hỏi mua thì sẽ bán lại kiếm lời.

Đến khoảng 16 giờ ngày 19/12/2024, khi L đi mua hàng tại một quán tạp hóa ở xã T, huyện T thì gặp một người đàn ông không quen biết hỏi mua pháo. Sau khi thống nhất về giá cả, người đàn ông đã đặt mua của L 03 khối pháo nổ, loại 49 quả/1 khối với giá 1.000.000 đồng/1 khối và hẹn giao pháo vào lúc 21 giờ 15 phút cùng ngày tại đường xóm thuộc địa phận xóm X, xã T. Sau đó, L về nhà lấy ra từ trong thùng xốp màu trắng 03 khối pháo nổ, cho vào 2 túi nilon màu đen (1 túi đựng 01 khối, 1 túi dựng 02 khối) và treo lên xe mô tô biển số 37V3-8595 rồi điều khiển xe đưa đi bán. Khi đi đến đoạn đường xóm thuộc địa phận xóm X thì bị Tổ công tác Công an huyện T kiểm tra, phát hiện, thu giữ toàn bộ vật chứng.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của L, thu giữ 25 khối pháo nổ, loại 49 quả/1 khối (09 khối thu giữ trong thùng xốp màu trắng; 16 khối thu giữ trong thùng catton màu vàng). Cơ quan điều tra thành lập Hội đồng tiến hành mở niêm phong, lấy mẫu gửi giám định theo Quyết định trưng cầu giám định số 1351/QĐ-ĐTTH ngày 21/12/2024, kết quả:

  • 03 khối pháo nổ thu giữ khi bị bắt quả tang có tổng khối lượng là: 5,226kg; lấy ngẫu nhiên 02 khối ký hiệu M1, M2 để gửi giám định.
  • 09 khối pháo nổ thu giữ trong thùng xốp màu trắng khi khám xét khẩn cấp chỗ ở có tổng khối lượng là: 15,637kg; lấy ngẫu nhiên 03 khối ký hiệu M3, M4, M5 để gửi giám định.
  • 16 khối pháo nổ thu giữ trong thùng catton màu vàng khi khám xét khẩn cấp chỗ ở có tổng khối lượng là: 28,272kg; lấy ngẫu nhiên 03 khối ký hiệu M6, M7, M8 để gửi giám định.

Tổng khối lượng của 28 khối pháo nổ là 49,135kg.

Tại Bản kết luận giám định số 45/KL-KTHS(Đ2-CN) ngày 25/12/2024 của Phòng kỹ thật hình sự Công an tỉnh N kết luận:

  • “- Các mẫu vật ký hiệu từ M1 đến M2 thu giữ khi kiểm tra Trần Xuân L ngày 19/12/2024 gửi giám định đều là pháo, đều thuộc loại pháo nổ.
  • Các mẫu vật ký hiệu từ M3 đến M8 thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Xuân L ngày 20/12/2024 gửi giám định đều là pháo, đều thuộc loại pháo nổ.
  • Các mẫu giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định”

Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2025/HS-ST ngày 24/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An đã quyết định:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt Trần Xuân L 05 (Năm) năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2024 đến ngày 25/01/2025. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí, tuyên quyền kháng cáo.

Ngày 31/3/2025 bị cáo L nộp đơn kháng cáo với nội dung: xin giảm nhẹ hình phạt và bổ sung các tài liệu gồm: Bằng khen của cụ Bùi Bá V, Giấy chứng nhận tham gia dân công hỏa tuyến của cụ Bùi Bá V, cụ Nguyễn Thị H, Quyết định của Bộ về việc trợ cấp một lần đối với cụ Nguyễn Thị H, Giấy xác nhận nhân thân cụ V + cụ H, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị cáo + bản đồ địa chính, Đơn xin giảm nhẹ hình phạt có nội dung liên quan đến sự kiện bị cáo cứu người bị đuối nước năm 2014 và cứu người bị tai nạn giao thông năm 2017 có xác nhận của UBND xã T.

Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 190, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Xuân L 05 (Năm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam. Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo được nộp trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo phạm tội “Buôn bán hàng cấm” là đúng. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, diễn biến hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để khẳng định: trong khoảng thời gian từ tháng 10/2024 cho đến ngày 19/12/2024, tại xóm X, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, Trần Xuân L đã tàng trữ 28 khối pháo nổ có tổng khối lượng 49,135kg nhằm mục đích mua bán nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện bắt quả tang. Như vậy, Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2025/HS-ST ngày 24/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An kết luận bị cáo phạm tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 190 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật.

[3]. Xét kháng cáo của bị cáo thấy rằng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật. Tuy nhiên, do bị cáo bị bắt quả tang khi đang trên đường mang pháo đi bán nên hành vi của bị cáo thuộc loại phạm tội chưa đạt (đã hoàn thành) quy định tại Điều 15 của Bộ luật Hình sự nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng Điều 57 của Bộ luật Hình sự mà xử phạt bị cáo mức án 05 năm là không chính xác và bất lợi cho bị cáo. Quá trình chuẩn bị xét xử, bị cáo giao nộp các tài liệu chứng minh cha mẹ vợ bị cáo (cụ V, cụ H) là người có công với cách mạng, bị cáo có thành tích xuất sắc trong cuộc sống (cứu người bị nạn) và gia đình tích cực hiến tài sản vì lợi ích chung của cộng đồng (mở đường giao thông nông thôn). Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và phát sinh sau khi có kháng cáo nên cần được cấp phúc thẩm xem xét, áp dụng. Bị cáo lần đầu vi phạm pháp luật và bị đưa ra xét xử, nhân thân tốt, trình độ học vấn thấp dẫn đến nhận thức pháp luật kém. Việc buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời gian dài đối với người phạm tội lần đầu là chưa thể hiện được tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa và làm giảm tác dụng giáo dục, cảm hóa người phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa án sơ thẩm, áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 và khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo thấp hơn 3/4 mức hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.

[5]. Án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[6]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Xuân L, sửa một phần bản án sơ thẩm như sau:

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Xuân L 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2024 đến ngày 25/01/2025.

2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - TAND H. Thanh Chương;
  • - VKSND H. Thanh Chương;
  • - Công an tỉnh Nghệ An;
  • - Bị cáo;
  • - CCTHADS huyện Thanh Chương;
  • - Lưu hồ sơ vụ án,

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lưu Thị Hồng Thể

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 90/2025/HS-PT ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về hình sự phúc thẩm (tội buôn bán hàng cấm)

  • Số bản án: 90/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Buôn bán hàng cấm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận kc của bị cáo
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger