Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2025/HS-PT

Ngày 19-6-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Bích Diệp

Các Thẩm phán: Bà Bùi Thị Thu Hằng

Bà Lê Thị Hải Yến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Sông Hương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thu Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 78/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo Lê Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 82/2025/HS-ST ngày 16 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng.

- Bị cáo có kháng cáo:

Lê Văn T, sinh ngày 15 tháng 11 năm 1986 tại Hải Phòng. Nơi đăng ký thường trú: Thôn B, xã B, huyện A (nay là tổ dân phố số B, phường N, quận A), thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Số G L, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Đ và bà Đoàn Thị B (đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị T1 và 03 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 70/HSPT ngày 11 tháng 8 năm 2004 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 15 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích (bị cáo bị kết án về tội phạm nghiêm trọng khi từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thuộc trường hợp được coi là không có án tích); bị tạm giữ từ ngày 03 tháng 10 năm 2024 đến ngày 11 tháng 10 năm 2024 chuyển tạm giam. Có mặt.

- Những người tham gia tố tụng khác có kháng cáo hoặc có liên quan đến kháng cáo:

Bị hại:

Anh Nguyễn Hùng M, sinh năm 1985; nơi cư trú: Tổ dân phố K, phường A, quận H, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1989; nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường H, quận A, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1984; nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường A, quận H, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1987; nơi cư trú: Tổ dân phố K, phường A, quận H, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

Anh Lê Văn B1, sinh năm 1988; nơi cư trú: Tổ dân phố D, phường L, quận A, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

Chị Bùi Thị Thu H1, sinh năm 1988; nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường L, quận A, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

Anh Vũ Bá T2, sinh năm 1982; nơi cư trú: Tổ dân phố V, phường A, quận A, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

Chị Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm 1986; nơi cư trú: Số A khu tập thể Đ, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

Anh Trần Văn L1, sinh năm 1981; nơi cư trú: Tổ G, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

Chị Lê Thụy S, sinh năm 1984; nơi cư trú: Số A P, quận K, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

Anh Nguyễn Tuấn H3, sinh năm 1987; nơi cư trú: Đ, phường P, phường A, quận H, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

Chị Lê Thị H4, sinh năm 1988; nơi cư trú: Số D, tổ A, Khu F, phường Q, quận H, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Văn H5 và Lê Văn T là anh em họ. Do cùng nghiện ma túy nên cả hai rủ nhau đi cướp tài sản của các đôi nam nữ tại khu vực vắng người qua lại vào buổi tối để bán lấy tiền tiêu xài. Toản chuẩn bị phương tiện xe mô tô biển kiểm soát 16L2-9533, H5 chuẩn bị 01 dao inox (dài khoảng 20 cm, bản rộng 02 cm), 01 dao bầu (dài khoảng 25 cm, bản rộng 04 cm) giấu trong ba lô màu đen. Trong khoảng thời gian tháng 5 và tháng 6 năm 2006, T và H5 đã nhiều lần thực hiện hành vi cướp tài sản với phương thức T điều khiển xe chở H5, khi phát hiện thấy các đôi nam nữ thì T sẽ chặn đầu xe của họ, sau đó cả hai dùng dao đe dọa để lấy tài sản. Từ ngày 28 tháng 5 năm 2006 đến ngày 10 tháng 6 năm 2006, T và H5 đã thực hiện 06 vụ cướp tài sản, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 20 giờ ngày 28 tháng 5 năm 2006, Lê Văn T điều khiển xe mô tô chở Lê Văn H5 đeo ba lô trước ngực trong có 02 con dao, đi đến khu vực nhà máy N thuộc thôn D, xã T, huyện A phát hiện thấy anh Nguyễn Hùng M và chị Nguyễn Thị H đang dựng xe mô tô, đứng nói chuyện. T chặn đầu xe của anh M, T cầm dao inox, H5 cầm dao bầu đe dọa lấy được của anh M một điện thoại Motorola C168 trị giá 800.000 đồng, của chị H một chiếc nhẫn vàng tây trị giá 200.000 đồng. Sau đó, T rút chìa khóa xe của anh M ném đi rồi cả hai bỏ đi.

Vụ thứ hai: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 28 tháng 5 năm 2006, cả hai tiếp tục đi đến khu vực khu chung cư xã A, huyện A dùng dao đe dọa lấy được của anh Nguyễn Văn P 100.000 đồng và của chị Nguyễn Thị L một dây chuyền vàng tây trị giá 1.000.000 đồng, 01 nhẫn vàng tây trị giá 400.000 đồng. Sau đó, T rút chìa khóa xe của anh P vứt đi.

Vụ thứ ba: Khoảng hơn 21 giờ cùng ngày 28 tháng 5 năm 2006, cả hai đi đến khu vực nghĩa trang thôn V, xã A dùng dao đe dọa lấy của anh Lê Văn B1 một dây chuyền bạc trị giá 30.000 đồng; một đồng hồ đeo tay và một nhẫn vàng tây trị giá 1.400.000 đồng, của chị Bùi Thị Thu H1 một lắc bạc, một đôi hoa tai vàng tây và một đồng hồ đeo tay trị giá 1.590.000 đồng. Sau đó, T dùng dao chọc thủng lốp xe của anh B1 rồi điều khiển xe mô tô chở H5 đến tiệm V ở phường N, quận L bán dây chuyền, nhẫn, hoa tai được 1.600.000 đồng. H5 lấy 750.000 đồng, một điện thoại Motorola C168 và đồng hồ nữ; T lấy 950.000 đồng và một đồng hồ nam. Ngày 12 tháng 6 năm 2006, cả hai bán chiếc điện thoại Motorola C168 cho cửa hàng điện thoại số C, đường Đ, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng được 400.000 đồng. H5 lấy 170.000 đồng, T lấy 230.000 đồng. Số tiền cướp và bán được tài sản, H5 và T đã chi tiêu, mua ma túy sử dụng hết.

Vụ thứ tư: Khoảng 21 giờ ngày 08 tháng 6 năm 2006, tại khu vực thôn V, xã A, huyện A, H5 và T dùng dao đe dọa chiếm đoạt của anh Vũ Bá T2 một ví da bên trong có giấy tờ tùy thân, của chị Nguyễn Thị Thu H2 một điện thoại Nokia 7260 trị giá 1.500.000 đồng. Sau đó, T dùng dao chọc thủng lốp xe của anh T2.

Vụ thứ năm: Khoảng 23 giờ cùng ngày 08 tháng 6 năm 2006, cả hai đi đến khu chung cư xã H, huyện A dùng dao đe dọa anh Trần Văn L1 và chị Lê Thụy S để lấy một điện thoại Nokia 3230 trị giá 4.000.000 đồng của anh L1. Sau đó, T rút chìa khóa xe của anh L1 ném xuống mương, dùng dao cắt lốp xe rồi cả hai bỏ đi. Sau đó, T lấy chiếc điện thoại N1 3230 để sử dụng, H5 lấy điện thoại Nokia 7260 bán cho cửa hàng Đ1 ở số B đường C, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng được 700.000 đồng. Ngày 09 tháng 6 năm 2006, H5 và T mang giấy đăng ký xe, chứng minh nhân dân và thẻ công an xã mang tên Vũ Bá T2 đi cầm cố được 200.000 đồng. H5 lấy 40.000 đồng, còn 160.000 đồng, H5 và T mua ma túy sử dụng hết.

Vụ thứ sáu: Khoảng 19 giờ ngày 10 tháng 6 năm 2006, tại khu chung cư xã A, huyện A, T và H5 dùng dao đe dọa anh Nguyễn Tuấn H3 và chị Lê Thu H6 chiếm đoạt một sợi dây chuyền vàng tây trị giá 1.000.000 đồng, một đôi hoa tai vàng tây trị giá 400.000 đồng và một nhẫn vàng tây trị giá 500.000 đồng của chị H6. Sau đó, T dùng dao chọc thủng lốp xe của anh H3 rồi cả hai điều khiển xe đến tiệm V tại khu vực N, quận L, thành phố Hải Phòng bán được 1.350.000 đồng, H5 lấy 650.000 đồng, còn T lấy 700.000 đồng.

Sau khi nhận được đơn trình báo của các bị hại, Cơ quan điều tra đã bắt khẩn cấp đối với Lê Văn H5, thu giữ vật chứng gồm: một điện thoại Motorola C168; một điện thoại Nokia 7260 và một chiếc đồng hồ đeo tay mặt tròn (đồng hồ nữ); những vật chứng khác không thu hồi được. Tại bản án số 17/2007/HSST ngày 27 tháng 3 năm 2007 Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng đã xử phạt Lê Văn H5 12 năm tù về tội Cướp tài sản.

Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, Lê Văn T bỏ trốn, ngày 03 tháng 10 năm 2024 T bị bắt theo quyết định truy nã.

Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 82/2025/HS-ST ngày 16 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng đã quyết định:Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Cướp tài sản”; xử phạt bị cáo Lê Văn T 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 03 tháng 10 năm 2024.

Ngoài ra bản án còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 22 tháng 4 năm 2025, bị cáo Lê Văn T có đơn kháng cáo với nội dung: Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên toà:

Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Văn T về tội Cướp tài sản theo điểm d khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Hình sự năm 1999 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo: Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, vai trò của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để xử phạt bị cáo mức hình phạt 12 năm tù là có căn cứ. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo không có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Vì vậy, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Ngày 16 tháng 4 năm 2025, Tòa án nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm vụ án; tại phiên tòa bị cáo Lê Văn T có mặt. Vì vậy, ngày 22 tháng 4 năm 2025, bị cáo có đơn kháng cáo là vẫn trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về tội danh và khung hình phạt: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Văn T về tội Cướp tài sản theo điểm d khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Hình sự năm 1999 là đúng với hành vi của bị cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo không kháng cáo về tội danh, chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo: Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất, vai trò, mức độ của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để xử phạt bị cáo mức hình phạt 12 năm tù là thỏa đáng, không nặng. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo không có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn T và giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo:

1. Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Cướp tài sản”; xử phạt bị cáo 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 03 tháng 10 năm 2024.

2. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - CQTHAHS - Công an thành phố Hải Phòng;
  • - CQCSĐT - Công an thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND quận An Dương;
  • - TAND quận An Dương;
  • - Chi cục THADS quận An Dương;
  • - Trại tạm giam - Công an TP. Hải Phòng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Bích Diệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 90/2025/HS-PT ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự (cướp tài sản)

  • Số bản án: 90/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cướp tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger