TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 90/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 27/5/2025
V/v tranh chấp “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bảnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung
Ông Lê Văn Kiệt
-Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Cường – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên tòa: Không có
Ngày 27 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 76/2025/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 185/2025/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 270/2025/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm: 1970. Có mặt
- Bị đơn: Ông Trần Thanh T, sinh năm: 1970. Vắng mặt
Địa chỉ: 1 T, Phường F, thành phố M, Tiền Giang
Chỗ ở hiện nay: C T, khu phố B, tổ A, Phường E, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
Địa chỉ: 1 T, Phường F, thành phố M, Tiền Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
-Trong đơn khởi kiện ngày 25/02/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Đ trình bày:
Bà và ông Trần Thanh T cưới nhau vào năm 1995, có đăng ký kết hôn ngày 26/3/2014 tại UBND xã M, huyện C, tỉnh Kiên Giang. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2022 thì có mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, bất đồng quan điểm, không còn tiếng nói chung. Đến đầu năm 2023 thì bà và ông T sống ly thân nhau, đến nay cũng không hàn gắn được. Xét thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông T.
Về con chung: có 02 con chung tên Trần Thị Mỹ D, sinh ngày 09/5/1996 và Trần Thị Mỹ H, sinh ngày 15/9/1998, hiện đã trưởng thành.
Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông Trần Thanh T đã được tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án cũng như các văn bản tố tụng khác trong quá trình giải quyết vụ án nhưng không có văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Đ và cũng không đến Tòa án tham dự phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải.
Tại phiên tòa, bà Đ vẫn giữ yêu cầu ly hôn với ông T; về con chung đã trưởng thành; về tài sản và nợ không yêu cầu giải quyết. Ông T vắng mặt không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Ông Trần Thanh T được triệu tập dự phiên tòa hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T.
[2] Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị Đ và ông Trần Thanh T cưới nhau vào năm 1995, có đăng ký kết hôn vào ngày 26/3/2014 tại UBND xã M, huyện C, tỉnh Kiên Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 23/2014, quyển số 01/20141, như vậy hôn nhân của ông bà là hợp pháp.
Theo bà Đ thì vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, kéo dài đến đầu năm 2023 thì sống ly thân, đến nay cũng không hàn gắn được. Bà đã suy nghĩ và xác định không còn tình cảm với ông T nên xin được ly hôn.
Xét thấy, bà Đ xin ly hôn nhưng ông T không có văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của bà Đ dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần. Tại phiên tòa hôm nay ông T không đến Tòa án và vắng mặt không lý do, điều này thể hiện ông T không có ý chí mong muốn vợ chồng hàn gắn, không quan tâm đến tình cảm vợ chồng mà để mặc cho bà Đ quyết định.
Xét, về tình nghĩa vợ chồng thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và sống chung với nhau nhưng hiện giữa bà Đ và ông T không còn tình nghĩa vợ chồng, hôn nhân của ông bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó nay bà Đ xin ly hôn với ông T là có cơ sở, Hội đồng xét xử chấp nhận.
2
[3] Về con chung: ông bà có 02 con chung tên Trần Thị Mỹ D, sinh ngày 09/5/1996 và Trần Thị Mỹ H, sinh ngày 15/9/1998, hiện đã trưởng thành nên không phải giải quyết.
[4] Về tài sản và nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
[5] Về án phí: bà Đ phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, 35, 147, Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Đ được ly hôn với ông Trần Thanh T.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Đ chịu là 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng tại biên lai số 0005544 ngày 05/3/2025 của Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang nên xem như nộp xong án phí.
- Về quyền kháng cáo: Bà Đ có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Nơi nhận: -VKSND TP Mỹ Tho; -Chi cục THADS Tp Mỹ Tho; -TAND tỉnh TG; -Các đương sự;; -Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Bảnh |
3
Bản án số 90/2025/HNGĐ-ST ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG về ly hôn
- Số bản án: 90/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà Đáng xin ly hôn
