|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 90/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 23- 5- 2025
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Lam
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Sỹ Quân, ông Nguyễn Thái Linh
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Soan - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hoà - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2025 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 03/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 78/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 68/2025/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị A, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Hoàng Xuân H -Luật sư Công ty L1, Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
- - Bị đơn: Anh sTrần Văn D, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt
Hiện nay anh D đang lao động tại Hàn Quốc, nhưng không có địa chỉ cụ thể.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai có tại hồ sơ vụ án, chị Nguyễn Thị A trình bày:
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị A và anh Trần Văn D1 tự nguyện tìm hiểu và tự nguyện kết hôn vào ngày 24/02/2010 tại UBND xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc, vợ chồng ở nhà ông bà nội được khoảng 6 tháng thì vợ chồng làm nhà ở riêng trên mảnh đất của ông bà nội. Do cuộc sống kinh tế khó khăn bản thân chị A là giáo viên Mầm non lương hạn chế anh D1 không có việc làm ổn định nên cuối năm 2021 vợ chồng thống nhất để anh D1 đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc. Sau khi anh D1 đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, thời gian đầu anh D1 thường xuyên liên lạc về hỏi thăm mẹ con chị A và gửi tiền về để nuôi con. Khoảng 3 năm trở lại đây anh D1 hầu như không liên lạc về cho chị A, chị A có điện thoại cho anh D1 thì anh D1 tỏ thái độ với chị, chị không hiểu lý do tại sao. Trong điện thoại anh D1 đề nghị chị làm thủ tục ly hôn để giải thoát cho hai người. Từ đó mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, tính tình hai người không hợp nhau, quan điểm sống khác nhau. Mâu thuẫn phát sinh gay gắt nhất là từ năm 2023 đến nay, hai bên hầu như không quan tâm đến nhau, cuộc sống ai lo người đó. Nay chị A khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giải quyết cho chị A được ly hôn với anh Trần Văn D1.
- - Về con chung: Chị Nguyễn Thị A và anh Trần Văn D1 có 03 con chung tên Trần Đỗ T, sinh ngày 11/12/2010; Trần Thị Thảo N, sinh ngày 11/03/2015 và Trần Minh D2, sinh ngày 10/12/2019. Hiện tại các con chung đang sống cùng chị A. Khi ly hôn chị A có nguyện vọng nuôi 03 con chung và không yêu cầu anh D1 cấp dưỡng nuôi con chung.
- - Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
- - Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, anh Trần Văn D1 do đang lao động tại nước ngoài nên không có mặt để làm việc với Tòa án. Tại biên bản ngày 17/02/2025 Toà án đã tiến hành lấy lời khai của bà Hoàng Thị L, sinh năm 1963; địa chỉ: Thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh là mẹ đẻ của anh Trần Văn D1. Qua quá trình làm việc với bà L cho biết các thông tin về vụ án bà đã gửi cho anh D1 biết và anh đã nắm bắt được đầy đủ thông tin. Tuy nhiên anh D1 không có ý kiến về nội dung vụ án cũng như không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh D1 tại nước ngoài.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ án, đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, 57, 81, 82, 83 Điều 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật TTDS năm 2015; khoản 1 Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV, cụ thể:
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị A được ly hôn anh Trần Văn D1.
- - Về con chung: Giao các con chung tên Trần Đỗ T, sinh ngày 11/12/2010; Trần Thị Thảo N, sinh ngày 11/03/2015 và Trần Minh D2, sinh ngày 10/12/2019 cho chị Nguyễn Thị A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Trần Văn D1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung, được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được phép cản trở.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
- - Về án phí: Chị Nguyễn Thị A phải chịu án phí giải quyết vụ án ly hôn theo quy định.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, vắng mặt nhưng có quan điểm bảo vệ cho nguyên đơn: Về hôn nhân: Đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu cho chị A được ly hôn với anh D1; về con chung: Đề nghị Toà án giao con chung tên Trần Đỗ T, sinh ngày 11/12/2010; Trần Thị Thảo N, sinh ngày 11/03/2015 và Trần Minh D2, sinh ngày 10/12/2019 cho chị Nguyễn Thị A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; về tài sản chung, nợ chung: Chị A không yêu cầu nên đề nghị Toà án không xem xét giải quyết.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Anh Trần Văn D1 hiện đang lao động tại Hàn Quốc, không có địa chỉ cụ thể. Tại văn bản số 104/QLXNC-Đ1 ngày 07/02/2025 của Phòng quản lý Xuất nhập cảnh Công an tỉnh H thể hiện: Anh Trần Văn D1, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn P, xã K, huyện K đã xuất cảnh lần gần nhất ngày 13/01/2022 hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh quy định tại Điều 37; Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt. Bị đơn đã nhận được thông tin về các văn bản của Toà án, yêu cầu cung cấp địa chỉ của bị đơn tại nước ngoài. Qua biên bản ngày 17/02/2025 người thân của bị đơn không cung cấp được địa chỉ tại nước ngoài của bị đơn. Toà án đã đăng thông tin vụ án trên trang thông tin của người Việt Nam tại nước ngoài theo quy định pháp luật nhưng không nhận được phản hồi của bị đơn. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao. Toà án tiến hành xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị A và anh Trần Văn D1 theo quy định.
[2] Về nội dung giải quyết vụ án:
[2.1] Về hôn quan hệ hôn nhân: Chị A và anh D1 tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 15, quyển số 01/2010 do Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh cấp ngày 24/02/2010 nên hôn nhân giữa chị A và anh D1 là hôn nhân hợp pháp.
Chị A cho rằng vợ chồng mâu thuẫn do khoảng 3 năm trở lại đây anh D1 hầu như không liên lạc về cho chị A, chị A có điện thoại cho anh D1 thì anh D1 tỏ thái độ với chị, Trong điện thoại anh D1 đề nghị chị làm thủ tục ly hôn để giải thoát cho 2 người. Từ đó mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, tính tình hai người không hợp nhau, quan điểm sống khác nhau. Mâu thuẫn phát sinh gay gắt nhất là từ năm 2023 đến nay, hai bên hầu như không quan tâm đến nhau. Hiện nay, anh Trần Văn D1 đang sinh sống và làm việc tại Hàn Quốc.
Chị A và anh D1 là vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương nhau, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc nhau và cùng nhau xây dựng cuộc sống gia đình. Chị A và anh D1 xảy ra mâu thuẫn, chị A và anh D1 không có thiện chí hàn gắn. Vợ chồng không còn quan tâm nhau, điều này cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu, cho chị A được ly hôn với anh D1.
[2.2] Về con chung: Chị A và anh D1 có 03 con chung tên Trần Đỗ T, sinh ngày 11/12/2010; Trần Thị Thảo N, sinh ngày 11/03/2015 và Trần Minh D2, sinh ngày 10/12/2019. Để đảm bảo cuộc sống ổn định cho các cháu cần giao cháu T, N, D2 cho chị A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị A không yêu cầu nên anh D1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
[2.4] Về án phí: Chị A phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273, Điều 469, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 8, Điều 9, khoản 1 Điều 51, Điều 56, 57,58, 81, 82, 83, 123 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị A, xử:
- 1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị A được ly hôn anh Trần Văn D1.
- 2. Về con chung: Giao cháu Trần Đỗ T, sinh ngày 11/12/2010; Trần Thị Thảo N, sinh ngày 11/03/2015 và Trần Minh D2, sinh ngày 10/12/2019 cho chị A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành (18 tuổi). Chị A không yêu cầu nên anh D1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị A và các thành viên trong gia đình co nghĩa vụ tạo điều kiện cho anh D1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, không ai được cản trở anh D1 thực hiện quyền này.
Việc nuôi con là không cố định. Một trong các bên có quyền yêu cầu Tòa án xem xét việc thay đổi nuôi con và cấp dưỡng nuôi con nếu có yêu cầu.
- 3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
- 4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị A phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng chị A đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số [...] ngày 17/01/2025 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh nên được khấu trừ.
- 5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Bùi Văn Lam |
Bản án số 90/2025/HNGĐ-ST ngày 23/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 90/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Anh và anh Trần Văn Dũng tự nguyện tìm hiểu và tự nguyện kết hôn vào ngày 24/02/2010 tại UBND xã Kỳ Phú, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc
