|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 90/2025/DS-ST
Ngày 27/6/2025
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thanh Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Lê Truyền Bình
- Ông Nguyễn Văn Sanh
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Hiếu, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 514/2024/TLST-DS ngày 03 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2025/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S; Địa chỉ: 2 N, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trương Đình V – Chức vụ: Chuyên viên quản lý nợ; Địa chỉ liên hệ: Số B N, quận H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt
2. Bị đơn: Ông Phạm Đình Q – sinh năm 1994; Địa chỉ: K Ông Í, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, theo lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn nội dung vụ án như sau:
Ngày 06/11/2018, ông Phạm Đình Q có ký với Ngân hàng TMCP S Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Căn cứ thu nhập của ông Q, Ngân hàng đã cấp hạn mức tín dụng 15.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Lãi suất trong hạn: 2.15%/tháng, kể từ ngày 15/9/2019 lãi suất 2,6%/tháng, kể từ ngày 01/11/2022 lãi suất 2,76%/tháng (được S1 quyết định điều chỉnh phù hợp với quy định của Ngân hàng N về lãi suất cho vay), Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn.
Trong quá trình sử dụng thẻ, ông Q đã thanh toán cho Ngân hàng với tổng số tiền 85.884.975 đồng. (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Do ông Q đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nhiều lần (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) nên ngày 23/8/2024, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông Q và chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Tính đến ngày 27/6/2025, ông Q còn nợ ngân hàng số tiền 7.510.957 đồng (Bằng chữ: Bảy triệu, năm trăm mười ngàn, chín trăm năm mươi bảy đồng). Trong đó, dư nợ 5.129.183 đồng, lãi quá hạn 2.381.774 đồng.
Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu ông Q thanh toán khoản nợ trên, tuy nhiên bị đơn vẫn chưa thanh toán. Nay, ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Phạm Đình Q phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 27/6/2025 là 7.510.957 đồng (Bằng chữ: Bảy triệu, năm trăm mười ngàn, chín trăm năm mươi bảy đồng). Buộc ông Q phải thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 28/6/2025 cho đến khi trả hết dư nợ thẻ theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng đã ký.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Phạm Đình Q tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do, đồng thời không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Tòa án đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu Tòa án buộc ông Phạm Đình Q phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 27/6/2025 là 7.510.957 đồng (Bằng chữ: Bảy triệu, năm trăm mười ngàn, chín trăm năm mươi bảy đồng) là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, do đó HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 227 xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu Tòa án buộc bị đơn trả số tiền 7.510.957 đồng (Bằng chữ: Bảy triệu, năm trăm mười ngàn, chín trăm năm mươi bảy đồng) và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng kể từ ngày 28/6/2025 cho đến khi thanh toán hết nợ thì thấy: Vào ngày 06/11/2018, ông Phạm Đình Q có ký với Ngân hàng TMCP S Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Căn cứ thu nhập của ông Q, Ngân hàng đã cấp hạn mức tín dụng 15.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Lãi suất trong hạn: 2.15%/tháng, kể từ ngày 15/9/2019 lãi suất 2,6%/tháng, kể từ ngày 01/11/2022 lãi suất 2,76%/tháng, Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn. Đây là hợp đồng vay tài sản và hợp đồng này thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 117 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và quy định của Luật Các tổ chức tín dụng nên có hiệu lực pháp luật, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên, buộc các bên tham gia giao dịch phải tuân thủ thực hiện.
[2.2] Quá trình sử dụng thẻ, ông Q đã thanh toán cho Ngân hàng với tổng số tiền 85.884.975 đồng. (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Do ông Q đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nhiều lần (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) nên ngày 23/8/2024, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông Q và chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). HĐXX nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đã ký, phù hợp quy định của các điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên cần chấp nhận, buộc bị đơn phải trả số tiền còn nợ tính đến ngày 27/6/2025 là 7.510.957 đồng (Bằng chữ: Bảy triệu, năm trăm mười ngàn, chín trăm năm mươi bảy đồng). Trong đó, dư nợ 5.129.183 đồng, lãi quá hạn 2.381.774 đồng. Buộc ông Q phải thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 28/6/2025 cho đến khi trả hết dư nợ thẻ theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng đã ký.
[3] Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 375.548 đồng (Ba trăm bảy mươi lăm ngàn năm trăm bốn mươi tám đồng). Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng;
- Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- Khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ngân hàng thương mại cổ phần S đối với ông Phạm Đình Q. Xử: Buộc ông Phạm Đình Q phải trả cho ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền 7.510.957 đồng (Bằng chữ: Bảy triệu, năm trăm mười ngàn, chín trăm năm mươi bảy đồng). Trong đó, dư nợ 5.129.183 đồng, lãi quá hạn 2.381.774 đồng.
Ông Phạm Đình Q phải tiếp tục chịu tiền lãi theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký kể từ ngày 28/6/2025 cho đến khi thanh toán xong nợ cho Ngân hàng.
- Án phí dân sự sơ thẩm: 375.548 đồng (Ba trăm bảy mươi lăm ngàn năm trăm bốn mươi tám đồng) ông Phạm Đình Q phải chịu. Hoàn trả cho ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0004837 ngày 29/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
- Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
- Đương sự; - VKSND quận Hải Châu; - Chi cục THADS quận Hải Châu - Lưu hồ sơ. |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Thủy |
Bản án số 90/2025/DS-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 90/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ngân hàng thương mại cổ phần S đối với ông Phạm Đình Q. Xử: Buộc ông Phạm Đình Q phải trả cho ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền 7.510.957 đồng (Bằng chữ: Bảy triệu, năm trăm mười ngàn, chín trăm năm mươi bảy đồng). Trong đó, dư nợ 5.129.183 đồng, lãi quá hạn 2.381.774 đồng. Ông Phạm Đình Q phải tiếp tục chịu tiền lãi theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký kể từ ngày 28/6/2025 cho đến khi thanh toán xong nợ cho Ngân hàng.
