|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 90/2025/DS-PT Ngày: 26 - 5 - 2025 V/v: Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Bích Thảo
Ông Đặng Ngọc Bình
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Duy Nhàn – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 234/2024/TLPT-DS về việc: “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”. Do Bản án Dân sự sơ thẩm số: 107/2024/DS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐ-PT ngày 02/01/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 43/2025/QĐ-PT ngày 22/01/2025; Thông báo mở lại phiên tòa số: 146/2025/TB-PT ngày 06/3/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 59/2025/QĐ-PT ngày 27/3/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1973; địa chỉ: Số A, tổ dân phố B, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị đơn: Ông Trần Thanh S1, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trịnh Thị D, sinh năm 1967; địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
- Ông Phạm Văn B, sinh năm 1971; địa chỉ: Số A, tổ dân phố B, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
- Bà Trần Thị T, sinh năm 1972; địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
- Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
- Bà Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn E, xã G, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
- Công ty TNHH B2; trụ sở: Tầng 14, số H H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thái S, sinh năm 1962; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Theo văn bản ủy quyền ngày 16/8/2023.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Lê Tuấn A, Luật sư Phạm Duy H – Văn phòng L1, thuộc Đoàn luật sư H3.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hwang Jun H1; chức vụ: Chủ tịch HĐTV kiêm Tổng giám đốc.
Người đại diện văn phòng tổng đại lý Đà Lạt Công ty T2 – Bà Võ Thị Thùy L – Chức vụ: Giám đốc.
Người kháng cáo: Bị đơn ông Trần Thanh S1.
(Ông Thái S, ông Thanh S1, bà D, Luật sư Tuấn A, Luật sư H có mặt tại phiên tòa, các đương sự còn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện và lời trình bày tại phiên tòa của ông Nguyễn Thái S là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thì:
Do có mối quan hệ làm ăn thân thiết nên bà O nhiều lần cho ông Trần Thanh S1 vay tiền, cụ thể:
- Ngày 14/5/2022 ông S1 vay của bà O số tiền 5.500.000.000đ, khi vay ông S1 có viết giấy vay tiền với bà O, hẹn một tháng sẽ trả gốc và lãi;
- Ngày 14/6/2022 ông S1 vay của bà O số tiền 7.873.000.000đ, khi vay ông S1 có viết giấy vay tiền với bà O, hẹn hạn trả nợ vào ngày 14/8/2022;
- Ngày 04/8/2022 ông S1 vay của bà O số tiền 1.300.000.000đ, khi vay ông S1 có viết giấy vay tiền với bà O, hẹn thời hạn trả nợ vào ngày 04/9/2022.
Tổng cộng 03 lần thì ông S1 vay của bà O số tiền 14.673.000.000đ. Khi vay, hai bên thỏa thuận miệng lãi là 2%/01 tháng.
Quá thời hạn trả nợ, mặc dù bà O đã đòi nhiều lần nhưng ông S1 ông trả cho bà O nợ gốc và lãi theo thỏa thuận. Nay bà O khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông S1 phải trả cho bà O số tiền nợ vay gốc là 14.673.000.000đ và tiền lãi với mức lãi suất là 0,83%/ tháng. Thời điểm tính lãi của 03 khoản vay trên tính từ ngày 04/9/2022 cho đến ngày xét xử sơ thẩm 10/9/2024 là hơn 24 tháng nhưng làm tròn thành 24 tháng, được trừ đi số tiền lãi ông S1 đã trả cho bà O là 630.000.000đ cho các lần chuyển khoản trước đây. Ngoài ra, bà O không yêu cầu gì thêm.
2. Bị đơn ông Trần Thanh S1 trình bày: Thực tế ông và bà O trước đây không quen biết nhau mà ông có quen biết và làm ăn với ông Nguyễn Văn N. Khoảng năm 2020 thì ông N có giới thiệu ông với bà O; ông N cùng bà O đến tư vấn cho ông để tham gia bảo hiểm nhân thọ mà bà O đang làm tư vấn viên. Thời điểm này do ông đang đầu tư tiền làm ăn cho bạn ở Đ với số tiền lớn nên ông không có nguồn tài chính và từ chối tham gia bảo hiểm. Sau nhiều lần làm quen và tư vấn bảo hiểm thì đến tháng 8/2020 ông đồng ý tham với gói bảo hiểm nhân thọ có giá trị bảo vệ là 10.000.000.000đ, số tiền đóng phí bảo hiểm mỗi năm là 520.000.000đ, thời gian đóng trong vòng 15 năm. Ngay lần đóng phí bảo hiểm đầu tiên vào tháng 8/2020 thì bà O và ông N thống nhất ứng tiền cho ông vay để đóng phí bảo hiểm cho ông (cụ thể ông N và bà O cho ông vay bao nhiêu thì ông không rõ mà do ông N và bà O tự tính toán và thỏa thuận với nhau). Sau đó ông không hoàn trả được số tiền này nên bà O bắt đầu tính lãi 3.000đ/1.000.000đ/01 ngày và cứ 15 ngày thu lãi 01 lần. Thời gian đầu ông trả lãi đầy đủ, đúng hạn. Giai đoạn này ông có tin nhắn và Z trả nợ cho bà O nhưng điện thoại cũ của ông bị mất nên hiện nay các thông tin trao đổi không còn.
Đến năm 2021, bà O có cho ông vay 03 lần để đóng phí bảo hiểm theo quý, mỗi lần vay hơn 130.375.000đ. Tổng cộng tiền ông vay của bà O năm 2020 và 2021 để đóng phí bảo hiểm là hơn 911.000.000đ tiền gốc. Trong năm 2020 và 2021 khi ông trả lãi cho bà O bằng tiền mặt thì bà O có ghi sổ theo dõi do bà O ký, ông cũng có chụp hình chứng từ trả nợ nhưng điện thoại đã mất.
Tổng các lần ông trả nợ lãi cho bà O khoảng 5.000.000.000đ và ngày 21/9/2022 ông trả thêm cho bà O số tiền 1.800.000.000đ. Ngoài ra, ông có chuyển khoản trả cho bà O nhiều lần, tổng cộng là 630.046.200đ, cụ thể các lần gồm:
- ngày 11/01/2021 chuyển trả 43.000.000đ;
- ngày 01/6/2021 chuyển trả 10.000.000đ;
- ngày 14/6/2021 chuyển trả 26.001.100đ;
- ngày 15/7/2021 chuyển trả 93.013.200đ;
- ngày 16/7/2021 chuyển trả 100.013.200đ;
- ngày 13/8/2021 chuyển trả 5.007.700đ;
- ngày 30/8/2021 chuyển trả 100.011.000đ;
- ngày 17/3/2022 chuyển trả 100.000.000đ;
- ngày 27/4/2022 chuyển trả 3.000.000đ;
- ngày 01/5/2022 chuyển trả 150.000.000đ.
Đến khoảng tháng 9/2022 thì bà O nhờ người đòi nợ thuê đến nhà ông khủng bố tinh thần, tạt chất bẩn vào nhà. Đồng thời, ngày 14/5/2022 bà O nhờ người đến ép ông ký giấy vay tiền 5.500.000.000đ; đến ngày 14/6/2022 bà O tính tiền lãi và ép ông ký giấy vay số tiền 7.873.000.000đ. Ngày 25/7/2022, bà O ép ông ký không giấy đặt cọc bán đất với số tiền bà O đặt cọc cho ông là 11.000.000.000đ và sau đó ép vợ chồng ông ký hợp đồng vay tiền công chứng tại Văn phòng C nhưng thực tế là công chứng ngoài trụ sở Văn phòng công chứng. Ngày 04/9/2022, bà O ép ông ký giấy nhận nợ số tiền là 1.300.000.000đ. Ngày 12/9/2022 bà O ép ông ký giấy nhận nợ 1.800.000.000đ. Khoảng tháng 9/2022, bà O đi cùng nhiều người gặp ông tại huyện Đ và ép ông ký giấy nhận nợ 22.500.000.000đ. Ngày 14/9/2022 bà O tiếp tục ép ông ký giấy nhận nợ số tiền 21.380.000.000đ.
Tổng các lần bà O ép ông ký nhận nợ khoảng hơn 71.000.000.000đ. Toàn bộ việc ông ký giấy vay, nhận nợ với bà O đều là bắt ép ký không chứ bà O không có cho ông vay tiền và cũng không giao cho ông khoản nào.
Nay ông xác định không nợ tiền vay của bà O mà chỉ có nhờ bà O đóng tiền tham gia bảo hiểm nhân thọ 03 lần (một lần 460.000.000đ, hai lần mỗi lần 130.000.000đ) tổng cộng là 720.000.000đ. Còn tiền ông nợ bà T1 130.000.000đ không liên quan đến bà O thì ông sẽ tự trả cho bà T1 sau.
Như vậy, số tiền bà O ép ông trả là rất nhiều so với khoản tiền ông nợ bà O để nhờ đóng phí bảo hiểm nhân thọ nên đối với số tiền ông đã trả cho bà O ông sẽ kiểm tra lại toàn bộ chứng cứ và sẽ khởi kiện đòi lại bà O sau, ông không có yêu cầu trong vụ án này. Ông không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà O.
3. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Trịnh Thị D trình bày: Bà là vợ của ông Trần Thanh S1, việc làm ăn vay mượn giữa bà O với ông S1 chồng bà thì bà không được biết nhưng bà O đã nhiều lần thuê giang hồ đến nhà bà yêu cầu trả đất, trả tiền. Ngày 21/9/2022 bà phải đi vay 1.800.000.000đ trả cho bà O. Nay bà thống nhất theo ý kiến của ông Trần Thanh S1. Bà O khởi kiện yêu cầu ông S1 trả nợ vay thì bà xác định ông Trần Thanh S1 không nợ tiền bà O, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
3.2. Ông Trần Văn B1: Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
3.3. Bà Trần Thị T trình bày: Bà có biết bà Nguyễn Thị O. Vào khoảng tháng 8/2022 bà có cho bà O vay số tiền 1.800.000.000đ, hẹn một tuần thì trả nợ. Sau khi vay tiền của bà thì bà được biết bà O cho ông S1 vay lại, đến hẹn bà đòi thì bà O nói cho ông S1 vay nên bà có điện và nhắn tin cho ông S1 là tiền bà O đưa cho ông S1 vay là tiền của bà, ông S1 lo mà trả cho bà. Bà có hẹn ông S1 02 giờ chiều về Đ để nói chuyện thì ông có về và hẹn thêm mấy ngày, sau đó ông S1 gọi bà O trả và bà O có mang trả cho bà số tiền 1.800.000.000đ. Còn việc bà O cho ông S1 vay tiền và thỏa thuận mua bán đất như thế nào thì bà không biết, không liên quan đến bà. Đối với việc ông S1 vay tiền của bà O không trả nên bà O có nhắn tin qua lại với ông S1 để thuê Tuyết H2 đòi nợ là không đúng. Bà khẳng định không có việc bà O đặt vấn đề đòi nợ thuê, đó chỉ là bà O lấy danh tiếng của ông H2 để ra oai đòi nợ.
3.4. Ông Nguyễn Văn N trình bày: Ông có quen biết với ông Trần Thanh S1 vào năm 2012. Thời gian năm 2020 ông làm nhân viên tư vấn của Công ty B2, với tư cách là nhân viên đi học việc do bà Nguyễn Thị O là nhóm trưởng, ông tham gia khoảng 01 tháng thì do dịch bệnh nên ông nghỉ và không liên quan đến Công ty. Ông không giới thiệu ông S1 với bà O để tham gia bảo hiểm, việc ông S1 mua bảo hiểm hay làm việc với bà O thì ông không biết, ông không thu phí bảo hiểm cũng không cho ông S1 vay tiền, cũng không liên quan đến việc vay tiền giữa ông S1 và bà O. Việc ông S1 cho rằng ông và bà O thống nhất ứng tiền cho ông S1 để đóng bảo hiểm là không đúng.
3.5. Bà Nguyễn Thị Kim T1 trình bày: Bà là tư vấn viên của Công ty B2. Năm 2020 ông Trần Thanh S1 có tham gia một hợp đồng bảo hiểm nhân thọ của Công ty B2. Năm 2022 bà có đóng giúp ông Trần Thanh S1 01 kỳ bảo hiểm nhân thọ số tiền là 131.000.000đ, ông S1 vay tiền của bà và nhờ bà đóng phí bảo hiểm giúp, ông S1 cũng thừa nhận vay của bà số tiền trên. Nay ông S1 và bà O xảy ra tranh chấp thì bà không liên quan. Còn tiền bà cho ông S1 vay hai bên sẽ tự thỏa thuận. Bà không có yêu cầu gì trong vụ án này.
3.6. Công ty B2 do bà Võ Thị Thùy L là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Bà Nguyễn Thị O, ông Nguyễn Văn N, ông Trần Thanh S1 không phải là nhân viên Công ty, các ông bà nói trên đang làm Đại lý bảo hiểm cho Công ty B2. Ông Trần Thanh S1 có tham gia một hợp đồng bảo hiểm tại Công ty B2 ngày 16/9/2020 với mệnh giá bảo vệ là 10.000.000.000đ, mức phí đóng hàng quý là hơn 130.000.000đ, thời hạn đóng phí dự kiến là 15 năm, hiện ông S1 đã đóng được tổng cộng 21 tháng với số tiền là 788.900.000đ. Hiện nay do ông S1 không đóng phí nên hợp đồng này đã mất hiệu lực. Ông S1 là người đóng phí trực tiếp cho Công ty.
Việc vay mượn tiền hay nhờ người đóng phí thay Công ty không biết vì đây là việc giữa cá nhân với nhau và Công ty không có thỏa thuận gì với các cá nhân về việc này.Việc tham gia hợp đồng bảo hiểm trên là hoàn toàn tự nguyện, theo yêu cầu của bên mua (ông S1), không có sự ép buộc từ phía đại lý và từ phía Công ty.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 107/2024/DS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà đã xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị O đối với ông Trần Thanh S1 về việc: “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”.
- Buộc ông Trần Thanh S1 phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị O số tiền nợ gốc là 14.673.000.000đ, tiền lãi là 1.880.334.000đ; tổng cộng cả gốc và lãi là 16.553.334.000đ (mười sáu tỷ, năm trăm năm mươi ba triệu, ba trăm ba mươi bốn nghìn đồng).
- Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị O về việc yêu cầu ông Trần Thanh S1 phải trả số tiền lãi là 412.527.600đ (Bốn trăm mười hai triệu năm trăm hai mươi bảy nghìn sáu trăm đồng).
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và trách nhiệm thi hành án của các bên đương sự.
Ngày 20/9/2024, bị đơn ông Trần Thanh S1 có đơn kháng cáo toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm số: 107/2024/DS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà.
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Nguyên đơn không kháng cáo và không đồng ý đối với kháng cáo của bị đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn Luật sư Lê Tuấn A, Luật sư Phạm Duy H trình bày: Việc bị đơn ông Trần Thanh S1 ký vào giấy nhận nợ của bà O là đúng nhưng bà O cũng không chứng minh được việc giao tiền cho ông S1, việc giao tiền cho bị đơn có người nào chứng kiến không? Tại vì số tiền này rất lớn và khi kêu ông S1 đến, khi giao tiền là địa điểm bà O chọn và bà O có sử dụng chất hướng thần đối với ông S1 hay không? Thì vấn đề này chưa được làm rõ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trần Thanh S1.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng nêu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại giai đoạn phúc thẩm cũng như tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đồng thời, nêu quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông S1; căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Trần Thanh S1 thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại Điều 272, Điều 273, Điều 279, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn ông Trần Thanh S1 thì thấy rằng:
[2.1] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị O cung cấp cho Tòa án 03 giấy vay tiền, trong đó thể hiện ngày 14/5/2022 ông S1 vay của bà O số tiền 5.500.000.000đ, khi vay ông S1 có viết giấy vay tiền với bà O, hẹn một tháng sẽ trả gốc và lãi (BL 35); ngày 14/6/2022 ông S1 vay của bà O số tiền 7.873.000.000đ, khi vay ông S1 có viết giấy vay tiền với bà O, hẹn hạn trả nợ vào ngày 14/8/2022 (BL 34); ngày 04/8/2022 ông S1 vay của bà O số tiền 1.300.000.000đ, khi vay ông S1 có viết giấy vay tiền với bà O, hẹn thời hạn trả nợ vào ngày 14/9/2022 (BL 41). Tổng cộng 03 lần thì ông S1 vay của bà O số tiền gốc là 14.673.000.000đ. Các giấy vay tiền đều do ông S1 viết và ký tên.
Tuy nhiên, ông S1 cho rằng, ông hoàn toàn không có vay tiền của bà O theo các giấy vay như bà O trình bày mà thực tế là vào năm 2020 ông có tham gia bảo hiểm nhân thọ của Công ty TNHH B2 do bà O là tư vấn viên. Ông S1 được ông N giới thiệu để biết bà O, trong đó ông N cũng là tư vấn viên của Công ty B2. Do thời gian đó ông S1 đang đầu tư vốn làm ăn nên các khoản tiền đóng phí bảo hiểm của năm 2020 và 2021 ông có mượn bà O để đóng với Công ty. Tổng số tiền ông S1 đã vay của bà O để nhờ đóng phí bảo hiểm là hơn 911.000.000đ. Số tiền này bà O tính lãi vay 3.000đ/1.000.000đ/01 ngày. Ông S1 đã nhiều lần trả tiền nợ lãi cho bà O theo thỏa thuận lên đến số tiền khoảng 5.000.000.000đ. Mặt khác, ông S1 cũng nhiều lần trình bày bà O ép ông phải ký nhiều giấy vay với tổng số tiền vay ông ký theo giấy với bà O là hơn 71.000.000.000đ nên ông tố cáo bà O đến Công an để giải quyết về hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Tuy nhiên, đối với việc ông S1 có vay tiền của bà O để đóng phí bảo hiểm nhân thọ thì cả Công ty bảo hiểm và ông N đều xác định không biết và không có liên quan; theo hồ sơ bảo hiểm nhân thọ của ông Trần Thanh S1 tham gia thì thể hiện ông S1 là người trực tiếp đóng phí nhưng đến nay do vi phạm việc đóng phí nên hợp đồng bảo hiểm nhân thọ của ông S1 với Công ty B2 đã chấm dứt. Mặt khác, Tòa án đã có Công văn đề nghị Công an tỉnh L và Công an huyện L cung cấp thông tin cũng như chứng cứ liên quan và được trả lời không có căn cứ để xử lý đối với nội dung trên của ông Trần Thanh S1. Cơ quan điều tra đã hướng dẫn ông Trần Thanh S1 liên hệ Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà để giải quyết theo quy định.
Theo chứng cứ do ông S1 cung cấp là bản photo các tin nhắn từ diện thoại, theo đó thể hiện ông S1 có chuyển khoản tiền cho bà O gồm: chuyển khoản số tiền 150.000.000đ (không rõ ngày tháng) (BL 104), ngày 16/7/2021 chuyển khoản số tiền 100.013.200đ (BL 103), ngày 30/8/2021 chuyển khoản số tiền 100.011.000đ (BL 102), ngày 14/6/2021 chuyển khoản số tiền 26.001.100đ (BL 101), ngày 13/12/2020 chuyển khoản số tiền 22.200.000đ (BL 100), ngày 01/6/2020 chuyển khoản số tiền 10.014.300đ (BL 99), chuyển khoản số tiền 4.500.000đ (không rõ ngày) (BL 98) và chuyển khoản số tiền 4.000.000đ ngày 14/6/2021 (BL 97). Ông S1 còn cung cấp sổ phụ tài khoản ngân hàng S2, theo đó từ ngày 11/01/2021 đến ngày 01/5/2022 ông S1 đã chuyển khoản nhiều lần cho bà O với tổng số tiền là 630.000.000đ, trong đó không thể hiện nội dung diễn giải chuyển tiền nhưng bà O cũng thừa nhận có nhận tiền từ ông S1. Bà O cho rằng số tiền ông S1 chuyển trả cho bà là tiền lãi nhưng bà không nhớ rõ số tiền là bao nhiêu.
Như vậy, theo tài liệu chứng cứ do 2 bên đương sự cung cấp thì thể hiện ông S1 có vay mượn tiền của bà O, vì vạy tiền của bà O thì ông S1 mới chuyển khoản tiền trả cho bà O, mặc dù trong nội dung chuyển khoản không ghi diễn giải nội dung chuyển khoản nhưng 2 bên đều xác nhận số tiền ông S1 chuyển cho bà O là trả bà O.
Xét các giấy vay tiền và hợp đồng vay tiền ông S1 đã ký kết với bà O thì bà O cho rằng, việc chốt thành giấy vay số tiền 22.500.000.000đ là từ khoản vay 5.500.000.000đ; 7.873.000.000đ và khoản 11.000.000.000đ sau khi trừ khoản trả 1.800.000.000đ nhưng theo nội dung tin nhắn “Nợ cũ: 17.620 triệu. Cộng 1.800 triệu. Cộng 1.300 triệu. Cộng lãi Ngày 29/08 660 triệu. Tạm tính đến ngày 04/09/2022 tổng số tiên Anh vay Em là 21.380 triệu đồng chẵn...” thì thời điểm chốt nợ này (sau ngày lập hợp đồng vay số tiền 11.000.000.000đ) các bên vẫn cộng khoản 1.800.000.000đ và khoản 1.300.000.000đ mà không chốt khoản 11.000.000.000đ, trong khi đó bà O cho rằng trong khoản nợ 11.000.000.000đ theo hợp đồng vay ngày 25/7/2022 đã chốt bao gồm cả khoản nợ vay 1.800.000.000đ. Hơn nữa, cùng vào ngày 25/7/2022 thì ông S1 có viết giấy nhận đặt cọc chuyển nhượng đất cho bà O số tiền đặt cọc là 11.000.000.000đ; trường hợp chốt cộng thêm khoản tiền 11.000.000.000đ theo hợp đồng vay ngày 27/5/2022 thì tổng số tiền chốt sẽ hơn 22.500.000.000đ rất nhiều là mâu thuẫn với trình bày và chứng cứ do các đương sự cung cấp. Do đó, có cơ sở xác định khoản tiền 11.000.000.000đ theo hợp đồng vay ngày 25/7/2022 là khoản nợ các bên chốt lại mà không phải là khoản vay mới. Đồng thời, tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cũng xác định, ngoài các khoản vay tranh chấp trong vụ án này thì tính đến nay ông Trần Thanh S1 không còn nợ bà O khoản nào khác.
Ông S1 không cũng cấp được chứng cứ chứng minh việc ông S1 vay tiền của bà O để đóng bảo hiểm, không chứng minh được bà O tính lãi từ số tiền vay đóng bảo hiểm thành số tiền 14.673.000.000đ, đồng thời không chứng minh được việc bị ép phải viết giấy nhận nợ với bà O, trong nội dung tin nhắn bà O nhắn cho ông S1 cũng không thể hiện sự đe dọa đến mức ông S1 phải viết giấy nhận nợ như ông S1 trình bày. Trong khi đó, qua nội dung chuyển khoản ông S1 cung cấp thì ông S1 đã nhiều lần chuyển khoản tiền để trả cho bà O, chứng tỏ trước đây ông S1 có vay tiền của bà O. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông S1 trả cho bà O số tiền nợ gốc là 14.673.000.000đ là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tại Công văn số: 533/CV-ĐTTH ngày 18/7/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L về việc trả lời đơn tố cáo bà Nguyễn Thị O là không có căn cứ để xử lý nội dung tố cáo của ông Trần Thanh S1.
[2.2] Đối với yêu cầu về lãi suất: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả lãi của 03 khoản vay là 14.673.000.000đ, với mức lãi suất 0,83%/ tháng; thời hạn tính lãi kể từ ngày 04/9/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm 10/9/2024 là 24 tháng thành tiền là 2.922.861.600đ, được trừ đi số tiền lãi ông S1 đã trả là 630.000.000đ thì thấy rằng: Theo nhận định trên thì ông S1 vay tiền của bà O có thỏa thuận lãi nhưng mức lãi suất các bên thỏa thuận bao nhiêu là không rõ ràng; ông S1 không thừa nhận việc vay tiền của bà O. Theo thỏa thuận tại các giấy vay ông S1 đã ký với bà O thì đến nay các khoản vay đều đã quá hạn trả nợ nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả tiền lãi vay 0,83%/01 tháng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên, tại biên bản làm việc ghi nhận ý kiến của đương sự ngày 25/01/2024 thì bà O thừa nhận, quá trình vay ông S1 trả lãi nhiều lần bà không nhớ và từ khi bà khởi kiện ông S1 đến nay thì ông S1 không trả lãi nữa. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ chấp nhận việc yêu cầu trả lãi của bà O từ ngày khởi kiện đối với từng khoản vay là phù hợp.
[3] Từ các nhận định và phân tích trên không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Thanh S1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1, Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, án phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Trần Thanh S1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 107/2024/DS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà.
Xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị O đối với ông Trần Thanh S1 về việc: “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”.
- Buộc ông Trần Thanh S1 phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị O số tiền nợ gốc là 14.673.000.000đ, tiền lãi là 1.880.334.000đ; tổng cộng cả gốc và lãi là 16.553.334.000đ (mười sáu tỷ, năm trăm năm mươi ba triệu, ba trăm ba mươi bốn nghìn đồng).
- Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị O về việc yêu cầu ông Trần Thanh S1 phải trả số tiền lãi là 412.527.600đ (Bốn trăm mười hai triệu năm trăm hai mươi bảy nghìn sáu trăm đồng).
- Về án phí:
- Buộc ông Trần Thanh S1 phải chịu 124.553.000đ (Một trăm hai mươi bốn triệu, năm trăm năm mươi ba nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm và 300.000đ án phí phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005069 ngày 04/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Ông S1 còn phải nộp số tiền 124.553.000đ (Một trăm hai mươi bốn triệu, năm trăm năm mươi ba nghìn đồng).
- Buộc bà Nguyễn Thị O phải chịu 20.501.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 60.994.000đ theo biên lai thu số 0012370 ngày 19/12/2022; 300.000đ theo biên lai thu số 0012534 ngày 16/3/2023 và 26.805.000đ theo biên lai thu số 0012535 ngày 16/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị O số tiền tạm ứng án phí còn dư là 67.598.000đ (Sáu mươi bảy triệu năm trăm chín mươi tám nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thanh |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
|
Đặng Ngọc Bình - Nguyễn Thị Bích Thảo |
Nguyễn Văn Thanh |
Bản án số 90/2025/DS-PT ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản
- Số bản án: 90/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản giữa bà Nguyễn Thị Oanh với ông Trần Thanh Sơn
