|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số 90/2025/DS-PT Ngày 25-11-2025 V/v tranh chấp về thừa kế tài sản |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn San.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Công và bà Nguyễn Thị Phượng.
Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình: Ông Trần Trọng Dần - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 25 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 52/2025/TLPT-DS ngày 01 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp thừa kế tài sản.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 90/2025/DS-ST ngày 26 tháng 5 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định (nay là Tòa án nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 82/2025/QĐXXPT-DS ngày 28 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Văn S, sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng, có đơn xin vắng mặt.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Phạm Thị N, Văn phòng L - Đoàn Luật sư tỉnh N, có mặt.
- Bị đơn: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1966; địa chỉ: Xóm B, xã H, tỉnh Ninh Bình, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phạm Văn T1, sinh năm 1952; địa chỉ: Xóm B, xã H, tỉnh Ninh Bình, có mặt.
- Ông Phạm Văn T2, sinh năm 1955; địa chỉ: Số nhà A, tổ C, khu phố D, phường H, tỉnh Đồng Nai, vắng mặt.
- Ông Phạm Văn T3, sinh năm 1956; địa chỉ: Xóm B, xã H, tỉnh Ninh Bình, vắng mặt.
- Anh Nguyễn Trung C, sinh năm 1989; địa chỉ: 1 P, phường P, thành phố Hồ Chí Minh, có đơn xin vắng mặt.
- Bà Phạm Thị Y, sinh năm 1973; địa chỉ: Xóm T, xã M, tỉnh Ninh Bình, có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Phạm Văn S trình bày:
Bố mẹ ông là cụ Phạm Văn H và cụ Nguyễn Thị N1 có 07 người con gồm: Ông Phạm Văn T1, ông Phạm Văn T2, ông Phạm Văn T3, ông Phạm Văn S, ông Phạm Văn B (chết năm 1991), bà Phạm Thị T và bà Phạm Thị Y. Ông B có vợ là bà Nguyễn Thị T4 và 01 người con là anh Nguyễn Trung C. Cụ H, cụ N1 không có con nuôi, con riêng; bố mẹ đẻ cụ N1 đều chết trước cụ N1.
Quá trình chung sống, hai cụ Hạp N2 tạo lập được tài sản chung là quyền sử dụng thửa đất số 53, tờ bản đồ số 17 xã H diện tích 1110m² và một nhà xây cấp 4, một bếp xây cấp bốn, một bể nước, một số cây trồng trên đất. Năm 1979, cụ H chết không để lại di chúc, cụ N2 quản lý toàn bộ tài sản chung của hai cụ.
Năm 2017, bà T đã khởi kiện “Tranh chấp về thừa kế tài sản, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất”. Tại bản án dân sự sơ thẩm số 12/2019/DS-ST ngày 05/11/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định đã chia cho cụ N2 được quyền sử dụng 235m² đất vườn tại thửa số 53, tờ bản đồ số 17 xã H, trên đất có một nhà xây cấp bốn, một bếp xây cấp bốn, một bể nước.
Năm 2024 cụ N2 chết không để lại di chúc. Nay ông S yêu cầu Tòa án chia di sản của cụ N2 là QSD đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa số 411, tờ bản đồ số 17 xã H. Do khi cụ N2 còn sống, ông S nhiều lần gửi tiền về để các anh chị em chăm sóc cụ N2; khi còn khỏe mạnh, cụ N2 đã lập văn bản chia cho ông S một phần tài sản nên đề nghị Tòa án tính công sức nuôi dưỡng cụ N2 khi còn sống cho ông S bằng 1 suất thừa kế theo pháp luật. Do ông S hiện đã được công nhận và đang sử dụng phần đất liền kề phía nam thửa đất của cụ N2 nên để thuận tiện cho việc sử dụng đất, ông S xin nhận sử dụng toàn bộ thửa đất số 411 diện tích 235m² đất (CLN), đo đạc hiện trạng là 234m² là di sản của cụ N2. Ông S có trách nhiệm thanh toán giá trị theo kỷ phần được chia cho các thừa kế khác của cụ N2 theo quy định pháp luật.
Quá trình tham gia tố tụng, bị đơn bà Phạm Thị T công nhận lời khai của ông S về quan hệ huyết thống, di sản cụ N2 để lại. Bà T đề nghị chia di sản thừa kế của cụ N2 để lại theo quy định pháp luật và không đồng ý tính công chăm sóc cụ N2 cho ông S bằng một suất thừa kế vì khi cụ N2 ốm, các anh chị em đều cùng nhau chăm sóc. Trước khi Tòa án giải quyết chia tài sản của hai cụ H - Nhài thì anh em bà nhiều lần lập văn bản phân chia tài sản khác nhau đưa cụ N2 ký. Khi phân chia tài sản của hai cụ, không ai yêu cầu công nhận các văn bản đã lập trước đó, cụ N2 cũng không yêu cầu công nhận nên Tòa án đã chia tài sản chung hai cụ để lại và chia thừa kế tài sản của cụ H. Do đó bà cho rằng Giấy sang nhượng đất ngày 31/05/2018 và Biên bản họp gia đình ngày 06/6/2018 ông S nộp cho Tòa án cũng như các văn bản khác do ông T3, ông T1 giao nộp đều không có giá trị. Bà T nhất trí chia thừa kế tài sản cụ N2 để lại theo quy định pháp luật nhưng chỉ chia cho ông S, bà T, ông T1, ông T3, bà Y mà không chia cho các thừa kế khác của cụ N2. Phần được chia, bà T xin nhận bằng hiện vật.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn T1, ông Phạm Văn T3, bà Phạm Thị Y, anh Nguyễn Trung C công nhận về quan hệ huyết thống, di sản cụ N2 để lại như ông S trình bày. Kỷ phần được chia, ông T1, ông T3, bà Y xin nhận bằng hiện vật. Anh C đề nghị được nhận bằng giá trị theo giá Hội đồng định giá đã xác định. Ông T3 đề nghị Tòa án chia lại di sản của hai cụ N2 Hạp theo di chúc cụ N2 lập năm 2010.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn T2 đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng không gửi văn bản trình bày ý kiến, không đến Tòa án làm việc và không đưa ra lý do vắng mặt, ông T2 vắng mặt tại phiên tòa lần 2 không có lý do.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 90/2025/DS-ST ngày 26 tháng 5 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Hải Hậu (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9), tỉnh Ninh Bình đã quyết định:
Căn cứ các Điều 611, 612, 613, 614, 623, 649, 650, 651, 652, 654, 660 Bộ luật Dân sự; Điều 127, 128 Bộ luật tố tụng dân sự.
Chấp nhận một phần yêu cầu của ông Phạm Văn S.
- Xác nhận di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị N1 để lại là quyền sử dụng đất (QSDĐ) diện tích 234m² (CLN) tại thửa số 411, tờ bản đồ số 17 xã H, huyện H, tỉnh Nam Định theo nội dung ghi tại trang bổ sung Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số L225198 ngày 20-5-1997 tên hộ bà Vũ Thị H1 và 01 cây nhãn trồng trên đất, có tổng trị giá 486.950.000đ.
- Không chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Văn S về việc tính công sức chăm sóc, nuôi dưỡng người để lại di sản bằng 01 suất thừa kế trị giá 69.564.000đ.
- Chia di sản thừa kế cụ N1 để lại cho ông Phạm Văn T1, ông Phạm Văn T2, ông Phạm Văn T3, ông Phạm Văn S, bà Phạm Thị T, bà Phạm Thị Y, anh Nguyễn Trung C mỗi người được chia 01 kỷ phần thừa kế trị giá 69.564.000đ.
- Chia hiện vật:
- Chia cho ông Phạm Văn S được QSD phần đất diện tích 67m² (CLN) thuộc thửa số 411, tờ số 17 xã H; ký hiệu S1, giới hạn bởi các điểm 3,4,5,6,3 trị giá 139.025.000₫.
- Chia cho ông Phạm Văn T1 được QSD phần đất diện tích 167m² (CLN) thuộc thửa số 411, tờ số 17 xã H; ký hiệu S2, giới hạn bởi các điểm 1,2,3,6,1 trị giá 346.525.000đ và được sở hữu 01 cây nhãn trên phần đất trị giá 1.400.000₫
(Việc phân chia quyền sử dụng đất có sơ đồ vẽ kèm theo).
- Về nghĩa vụ thanh toán:
Ông Phạm Văn S phải thanh toán cho anh Nguyễn Trung C số tiền 69.461.000đ. Ông Phạm Văn T1 phải thanh toán cho ông Phạm Văn T3 số tiền 69.564.000đ; thanh toán cho ông Phạm Văn T2 số tiền 69.564.000đ; thanh toán cho bà Phạm Thị T5 số tiền 69.564.000đ; thanh toán cho bà Phạm Thị Y số tiền 69.564.000đ; thanh toán cho anh Nguyễn Trung C số tiền 103.000đ.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền thi hành án và quyền kháng cáo.
Ngày 05/7/2025, ông Phạm Văn T3 kháng cáo đề nghị Tòa án phân chia tài sản theo di chúc cụ Phạm Thị H2 lập năm 2010; bà Phạm Thị Y kháng cáo không nhất trí cho ông Phạm Văn T2 kỷ phần thừa kế của bà được hưởng, bà đề nghị được hưởng thừa kế bằng hiện vật là quyền sử dụng đất và tự nguyện tặng cho ông Phạm Văn S mà không buộc ông S thanh toán giá trị kỷ phần.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung: Căn cứ khoản 3 Điều 296, khoản 2 Điều 308 Bộ luật TTDS năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Đình chỉ xét xử đối với nội dung kháng cáo của ông Phạm Văn T3. Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Phạm Thị Y, sửa một phần bản án sơ thẩm về việc giao di sản thừa kế bằng hiện vật cho các đương sự.
- Về án phí: Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của ông Phạm Văn T3 và bà Phạm Thị Y trong thời hạn luật định và đúng trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa người kháng cáo bà Phạm Thị Y có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định chung.
Ông Phạm Văn T3 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án có kháng cáo đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với nội dung kháng cáo của ông T3.
[2]. Xét kháng cáo của bà Phạm Thị Y không nhất trí cho ông Phạm Văn T1 kỷ phần thừa kế của bà được hưởng, bà đề nghị được hưởng thừa kế bằng hiện vật là quyền sử dụng đất và tự nguyện tặng cho ông Phạm Văn S mà không buộc ông S thanh toán giá trị kỷ phần, thấy:
Căn cứ vào hiện trạng thửa đất, điều kiện tách thửa và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nguyện vọng của các bên đương sự, Tòa áp cấp sơ thẩm giao cho ông T1 được quản lý 05 kỷ phần thừa kế gồm của ông T1, ông T2, ông T3, bà Y, bà T và có trách nhiệm thanh toán giá trị kỷ phần cho các ông bà trên. Bà Y kháng cáo không nhất trí cho ông T1 được hưởng kỷ phần thừa kế của mình bằng hiện vật, bà đề nghị được hưởng kỷ phần thừa kế bằng hiện vật và tự nguyện tặng cho kỷ phần của mình được hưởng cho ông S và không yêu cầu ông S phải thanh toán giá trị. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm bà T có quan điểm không cho ông T1 hưởng kỷ phần thừa kế của mình bằng hiện vật mà cho ông S được hưởng, còn việc thanh toán giá trị kỷ phần hay đổi vị trí diện tích đất mà bà được hưởng thừa kế từ di sản của mẹ bà giữa bà và ông S không đề nghị Tòa án giải quyết. Xét thấy đề nghị của bà Y và bà T là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Do bà Y và bà T thay đổi quan điểm cho ông S được hưởng kỷ phần thừa kế của mình nên phần diện tích ông T1 được hưởng chỉ còn lại của ông T1, ông T2 và ông T3, căn cứ vào quy định về điều kiện tách thửa thì phần diện tích ông T1 được hưởng không đủ điều kiện được tách thửa nên cấp phúc thẩm cần điều chỉnh lại cho phù hợp. Do vậy yêu cầu kháng cáo của bà Y được cấp phúc thẩm chấp nhận, sửa bản án sơ thẩm giao cho ông S được quyền quản lý, sử dụng toàn bộ diện tích 234m² là di sản thừa kế của cụ N1 và ông S có nghĩa vụ thanh toán giá trị kỷ phần cho các đồng thừa kế khác.
[3]. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Do ông Phạm Văn T3 là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên miễn án phí phúc thẩm cho ông T3. Kháng cáo của bà Phạm Thị Y được chấp nhận nên bà Y không phải chịu án phí phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị Y. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 90/2025/DS -ST ngày 26-5-2025 của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định (nay là Toà án nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình).
Căn cứ các Điều 611, 612, 613, 614, 623, 649, 650, 651, 652, 654, 660 Bộ luật Dân sự; Điều 127, 128, khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với nội dung kháng cáo của ông Phạm Văn T3.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn S.
- Xác nhận di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị N1 để lại là quyền sử dụng đất (QSDĐ) diện tích 234m² (CLN) tại thửa số 411, tờ bản đồ số 17 xã H, huyện H, tỉnh Nam Định (nay là xã H, tỉnh Ninh Bình) theo nội dung ghi tại trang bổ sung Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số L225198 ngày 20-5-1997 tên hộ bà Vũ Thị H1 và 01 cây nhãn trồng trên đất, có tổng trị giá 486.950.000đ.
- Không chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Văn S về việc tính công sức chăm sóc, nuôi dưỡng người để lại di sản bằng 01 suất thừa kế trị giá 69.564.000đ.
- Xác định người hưởng thừa kế theo pháp luật của cụ Nguyễn Thị N1 gồm: ông Phạm Văn T1, ông Phạm Văn T2, ông Phạm Văn T3, ông Phạm Văn S, bà Phạm Thị T, bà Phạm Thị Y, anh Nguyễn Trung C.
- Xác định mỗi kỷ phần thừa kế được hưởng theo pháp luật có giá trị là 69.564.000₫.
- Ghi nhận sự tự nguyện của bà Phạm Thị Y, bà Phạm Thị T cho ông Phạm Văn S giá trị kỷ phần thừa kế bà Y, bà T được hưởng.
- Chia hiện vật:
Chia cho ông Phạm Văn S được quyền quản lý, sử dụng toàn bộ diện tích 234m² (CLN) tại thửa số 411, tờ bản đồ số 17 xã H, huyện H, tỉnh Nam Định (nay là xã H, tỉnh Ninh Bình) theo nội dung ghi tại trang bổ sung GCNQSDĐ số L225198 ngày 20-5-1997 tên hộ bà Vũ Thị H1 và 01 cây nhãn trồng trên đất, có tổng trị giá 486.950.000đ.
Buộc ông Phạm Văn S phải thanh toán cho ông Phạm Văn T3, ông Phạm Văn T1, ông Phạm Văn T2, anh Nguyễn Trung C mỗi người số tiền 69.564.000đ.
- Án phí dân sự phúc thẩm:
- Ông Phạm Văn T3, bà Phạm Thị Y không phải nộp.
Trả lại cho bà Phạm Thị Y số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000084 ngày 16/7/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn San |
Bản án số 90/2025/DS-PT ngày 25/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Số bản án: 90/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp về thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: V/v tranh chấp về thừa kế tài sản
