Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2025/DS-PT

Ngày: 23 - 6 - 2025

V/v: “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Hà Giang;
  • Các thẩm phán: ông Phạm Văn Tú và bà Phạm Thị Chuyền.
  • Thư ký phiên toà: bà Trần Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang: ông Thân Mạnh Thắng - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 23/6/2025, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 57/2025/TLPT-DS ngày 09/5/2025 về việc “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ” do bản án dân sự sơ thẩm số 20/2025/DS-ST ngày 28/03/2025 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 73/2025/QĐ-PT ngày 30/5/2025; Quyết định hoãn phiên toà số 94/2025/QĐ-PT ngày 12/6/2025 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: anh Nguyễn Văn G, sinh năm 1992 (có mặt);
  • Địa chỉ: thôn H, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  • Bị đơn: anh Nguyễn Minh Quang V, sinh năm 1998 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: số B, đường N, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
  • Đại diện theo uỷ quyền của anh V: anh Lâm Đình H, sinh năm 2001 (xin vắng mặt);
  • Địa chỉ: số F, đường L, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
  • Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: chị Đào Thị Ngọc H1, sinh năm 1994 (vắng mặt) do anh Nguyễn Văn G, sinh năm 1992 (có mặt) đại điện theo uỷ quyền.
  • Cùng địa chỉ: thôn H, xã A, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  • Người kháng cáo: anh Nguyễn Minh Quang V là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án số 20/2025/TLPT-DS ngày 28/03/2025 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang thì nội dung vụ án như sau:

Nguyên đơn - anh Nguyễn Văn G trình bày: Anh và anh Nguyễn Minh Quang V có mối quan hệ quen biết. Anh được biết anh V có thành lập Công ty TNHH Q tại địa chỉ: số nhà B, đường N, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang đang kinh doanh hiệu quả đồng thời anh V đang vận hành dự án quán Coffee sân vườn mang thương hiệu CII GARDEN COFFEE tại thành phố T. Qua trao đổi, anh đã đồng ý hợp tác cùng anh V. Theo đó, hai bên ký với nhau Hợp đồng góp vốn đầu tư kinh doanh ngày 06/9/2023 và Phụ lục Hợp đồng hợp tác đầu tư số 01/PLHĐHTĐT ngày 09/10/2023, anh góp số tiền 539.242.000 đồng để xây dựng và vận hành các công trình thuộc dự án CII GARDEN COFFEE.

Tiếp đó, ngày 21/02/2024, anh tiếp tục ký Hợp đồng góp vốn đầu tư kinh doanh với Công ty TNHH Q, góp số tiền 2.000.000.000 đồng để thực hiện tiếp dự án CII GARDEN COFFEE. Các đợt đóng góp như sau:

  • Lần 1, ngày 22/02/2024, anh chuyển số tiền 800.000.000 đồng vào tài khoản số [...] tại Ngân hàng TMCP Q1, chủ tài khoản Nguyễn Minh Quang V.
  • Lần 2, ngày 08/3/2024, anh chuyển số tiền 200.000.000 đồng vào tài khoản số [...] tại Ngân hàng TMCP Q1, chủ tài khoản Nguyễn Minh Quang V.
  • Lần 3, ngày 27/3/2024, anh chuyển số tiền 1.000.000.000 đồng vào tài khoản số [...] tại Ngân hàng TMCP Q1, chủ tài khoản Nguyễn Minh Quang V.

Mục đích sử dụng vốn góp: để xây dựng và vận hành các dự án nhượng quyền thương hiệu CII GARDEN COFFEE.

Tuy nhiên sau khi tìm hiểu, anh được biết Công ty TNHH Q không còn hoạt động từ ngày 15/3/2023 và bị thu hồi Giấy đăng ký doanh nghiệp từ ngày 06/5/2023. Anh đã yêu cầu anh V phải chấm dứt hợp đồng và rút toàn bộ vốn góp mà anh đã chuyển cho anh V theo 02 Hợp đồng nêu trên. Để tạo niềm tin, anh V đã trả cho anh 200.000.000 đồng tiền vốn gốc vào ngày 22/6/2024. Sau đó, anh V không trả cho anh thêm khoản tiền nào.

Ngày 13/8/2024, anh cùng anh V đến Công ty L để ký Văn bản thoả thuận. Nội dung được tóm tắt như sau:

  1. Đối với Hợp đồng góp vốn đầu tư kinh doanh ngày 06/9/2023 và ngày 09/10/2023 (chiếm 24% vốn góp mở quán): anh V thanh toán số tiền 350.000.000 đồng chậm nhất vào ngày 30/9/2024 và nhận sở hữu toàn bộ phần vốn góp của anh tại quán C.

    Thoả thuận khác với Hợp đồng này: anh có trách nhiệm đóng góp tiền thuê mặt bằng tại cơ sở T1 02 tháng (tháng 7-8/2024), số tiền 14.400.000 đồng (tương đương 24% số vốn góp) và có trách nhiệm hoàn thiện thu chi tại cơ sở đến hết 31/8/2024, tính lợi nhuận, lỗ của tháng 8/2024. Sau ngày 31/8/2024, anh không có trách nhiệm, quyền lợi gì theo Hợp đồng trên.

  2. Đối với Hợp đồng góp vốn đầu tư kinh doanh ngày 21/02/2024 (anh sở hữu 25% dự án): Anh V có trách nhiệm thanh toán cho anh số tiền 1.568.654.000 đồng theo 03 kỳ:
    • Kỳ 1: Thanh toán vào ngày 20/8/2024 số tiền là 500.000.000 đồng;
    • Kỳ 2: Thanh toán vào ngày 30/8/2024 số tiền 500.000.000 đồng;
    • Kỳ 3: Thanh toán vào ngày 15/9/2024 số tiền 568.654.000 đồng;

Sau khi thoả thuận, anh V đã trả cho anh được tổng số tiền 750.000.000 đồng. Nay, anh khởi kiện yêu cầu anh V có trách nhiệm thanh toán trả anh số tiền gốc là 1.168.654.000 đồng (theo Văn bản thoả thuận ngày 13/8/2024) và số tiền lãi tạm tính đến ngày 01/12/2024 là 29.204.663 đồng. Anh V tiếp tục phải chịu lãi 10%/1 năm kể từ ngày 02/12/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản tiền trên.

Bị đơn anh Nguyễn Minh Quang V trình bày: do có mối quan hệ quen biết nên giữa anh và anh G có hợp tác làm ăn cùng nhau. Ngày 06/9/2023, anh và anh G có ký với nhau Hợp đồng góp vốn đầu tư kinh doanh và phụ lục Hợp đồng hợp tác đầu tư số 01 ngày 09/10/2023, anh G góp vốn số tiền 539.242.000 đồng. Mục đích góp vốn để xây dựng và vận hành các dự án quán Coffee sân vườn mang thương hiệu CII GARDEN COFFEE. Ngày 21/02/2024, anh và anh G ký tiếp Hợp đồng góp vốn đầu tư kinh doanh và anh G đã góp số tiền là 2.000.000.000 đồng, chia làm nhiều lần.

Tuy nhiên quá trình góp vốn kinh doanh, do không đồng thuận trong một số vấn đề nên anh G đã xin rút vốn và anh đồng ý. Ngày 13/8/2024, giữa anh và anh G có lập Văn bản thoả thuận xác nhận số tiền anh phải hoàn lại cho anh G theo 02 Hợp đồng góp vốn trên là 1.568.654.000 đồng. Quá trình thực hiện văn bản thoả thuận, anh đã trả anh G được một số tiền. Đến thời điểm hiện tại, anh xác nhận còn nợ anh G số tiền 1.168.654.000 đồng là đúng. Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế khó khăn nên anh xin được trả dần anh G số tiền trên. Anh đồng ý trả cả khoản tiền lãi nếu anh G có yêu cầu.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - chị Đào Thị Ngọc H1 uỷ quyền cho anh Nguyễn Văn G thay mặt chị trình bày mọi quan điểm, ý kiến tại Toà án.

Đại diện theo uỷ quyền của anh V trình bày: anh V không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của anh G. Anh G khởi kiện căn cứ vào Văn bản thoả thuận ngày 13/8/2024 để yêu cầu anh V phải trả số tiền 1.168.654.000 đồng sau khi trừ đi số tiền 750.000.000 đồng anh V đã trả. Mặc dù tại biên bản hoà giải ngày 20/02/2025 anh V đồng ý trả anh G số tiền trên nhưng đến nay sau khi xem xét nhận thấy số tiền trên là không kợp lý bởi lẽ nguồn gốc của việc thoả thuận trả tiền xuất phát từ 02 Hợp đồng hợp tác kinh doanh ngày 06/9/2023 và ngày 21/02/2024 giữa anh V, anh G và chị Trần Thị T. Theo đó bản chất của 02 hợp đồng trên đều là đóng góp chung một khoản vốn để kinh doanh, phát triển các quán cà phê mang thương hiệu CII COFFEE. Việc góp vốn giữa 03 bên được lập thành văn bản và phù hợp quy định về Hợp đồng hợp tác trên thực tế. Tuy nhiên, tại thời điểm anh G rút vốn ra khỏi các Hợp đồng góp vốn, anh G liên tục tạo sức ép với anh V, yêu cầu anh V phải có nghĩa vụ trả tiền nên anh V đã ký văn bản thoả thuận ngày 13/8/2024 mà không có sự đồng ý của chị T là không hợp lý. Mặt khác, việc hoàn trả vốn cũng chỉ được thoả thuận giữa anh V và anh G, chưa có sự rõ ràng trong việc khấu trừ từ nghĩa vụ của anh G trong hoạt động hợp tác (việc thiệt hại anh V phải chịu lớn hơn thoả thuận tại Văn bản ngày 13/8/2024).

Anh G yêu cầu anh V phải trả tiền phạt chậm trả 10%/01 năm là không có căn cứ vì tại Văn bản thoả thuận ngày 13/8/2024 thì không có thoả thuận về phạt chậm trả. Do vậy, anh không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh V.

Tại phiên toà sơ thẩm, anh H xác nhận anh V là người ký văn bản thoả thuận ngày 13/8/2024 với anh G. Còn giữa chị T và anh V ký Hợp đồng góp vốn với nhau bằng một Hợp đồng góp vốn khác, không có Hợp đồng nào ký 03 bên giữa anh V, anh G và chị T.

Với nội nội dung trên, bản án dân sự sơ thẩm số 20/2025/DS-ST ngày 28/3/2025 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang đã căn cứ Điều 385; Điều 401; Điều 357; Điều 468 Bộ luật dân sự 2015. Xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn G: buộc anh Nguyễn Minh Quang V phải thanh toán trả anh Nguyễn Văn G 1.168.654.000 đồng tiền gốc và 66.685.887 đồng tiền lãi. Tổng cộng cả gốc và lãi là: 1.235.339.887 đồng (một tỷ, hai trăm ba mươi lăm triệu, ba trăm ba mươi chín nghìn, tám trăm tám mươi bẩy đồng).

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các bên đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm: ngày 11/4/2025, bị đơn anh Nguyễn Minh Quang V kháng cáo bản án, đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm: nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn vắng mặt, người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn xin vắng mặt tại phiên toà nên các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Anh Nguyễn Văn G trình bày: đề nghị HĐXX giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của anh V.

Tham gia phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi mở phiên tòa và tại phiên tòa, Thẩm phán, HĐXX, Thư ký đã thực hiện đúng, đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS), nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng các quyền nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS). Sau khi xem xét yêu cầu kháng cáo anh Nguyễn Minh Quang V, phân tích nội dung, các tình tiết của vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 308 của BLTTDS không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Minh Quang V giữ nguyên bản án sơ thẩm, anh Nguyễn Minh Quang V phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng: tại phiên toà bị đơn - anh V là người kháng cáo vắng mặt, người đại diện theo uỷ quyền của anh V có đơn xin vắng mặt. HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 296 của BLTTDS tiếp tục xét xử vụ án.
  2. Xét kháng cáo của bị đơn - anh Nguyễn Minh Quang V cho rằng văn bản thỏa thuận ngày 13/8/2024 là không có giá trị pháp lý, do văn bản này không có sự tham gia và đồng ý của chị Trần Thị T là người mà bị đơn cho rằng là đồng đầu tư; việc ký kết diễn ra trong bối cảnh bị đơn chịu áp lực; bị đơn chưa có điều kiện tính toán cụ thể thiệt hại và các nghĩa vụ liên quan nên không đồng ý với số tiền phải thanh toán. HĐXX thấy:
  3. Quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm và các chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện: anh Nguyễn Văn G và anh Nguyễn Minh Quang V đã ký 02 Hợp đồng góp vốn đầu tư vào các dự án CII GARDEN COFFEE vào các ngày 06/9/2023 và 21/02/2024 với tổng số tiền là 2.539.242.000 đồng. Sau khi Công ty TNHH Q bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, anh G đề nghị rút toàn bộ phần vốn đã góp và được anh V đồng ý bằng Văn bản thỏa thuận ngày 13/8/2024 có chữ ký xác nhận của hai bên và Luật sư của hai bên. Theo đó xác định anh V có nghĩa vụ thanh toán cho anh G tổng số tiền là 1.918.654.000 đồng, chia thành 03 kỳ hạn thanh toán cụ thể. Anh V sau đó đã thanh toán được 750.000.000 đồng, còn nợ lại 1.168.654.000 đồng.
  4. Văn bản thỏa thuận ngày 13/8/2024 là văn bản thể hiện sự tự nguyện giao kết giữa hai bên, được ký kết bởi các chủ thể có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, không có tài liệu nào thể hiện việc bị ép buộc, lừa dối hay bị nhầm lẫn trong khi xác lập thỏa thuận. Mặt khác, tại biên bản hòa giải ngày 20/02/2025, bị đơn đã thừa nhận nghĩa vụ thanh toán số tiền còn lại 1.168.654.000 đồng và đồng ý trả lãi theo mức 10%/năm như nguyên đơn yêu cầu, chỉ đề nghị được giãn tiến độ trả nợ. Do đó, lời trình bày sau này của bị đơn rằng thỏa thuận là "không hợp lý, chưa tính thiệt hại" là không có cơ sở pháp lý và mâu thuẫn với chính sự thừa nhận trước đó.
  5. Việc bị đơn cho rằng chị Trần Thị T cũng là người cùng đầu tư, nên thỏa thuận giữa anh G và anh V là không đầy đủ chủ thể, cũng không được chứng minh. Bị đơn và đại diện theo ủy quyền đều không cung cấp được bất kỳ văn bản nào thể hiện có hợp đồng ba bên giữa anh G – anh V – chị T. Việc hai bên tự thảo thuận giải quyết việc rút vốn và thanh toán trên là hoàn toàn phù hợp với quyền và nghĩa vụ dân sự của các đương sự, không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của chị T do chị T không được Xác định phải có nghĩa vụ gì đối với nội dung thoả thuận trên.

    Mặt khác, anh G sau khi ký 02 Hợp đồng góp vốn trên đã chuyển đủ số tiền góp vốn vào tài khoản cá nhân của anh V nên anh V phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ hoàn trả anh G số tiền theo thoả thuận hai bên đã ký. Như vậy, Toà án sơ thẩm xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh G là có căn cứ.

  6. Về yêu cầu lãi suất: mặc dù Văn bản thỏa thuận ngày 13/8/2024 không quy định về lãi, nhưng khi đến hạn thanh toán theo thoả thuận anh V không thực hiện là đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền nên phải chịu lãi từ ngày vi phạm. Ngoài ra tại buổi hòa giải ngày 20/02/2025, bị đơn đã đồng ý trả lãi theo yêu cầu của nguyên đơn, và nguyên đơn yêu cầu áp dụng mức lãi 10%/năm là mức phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự. Bản án sơ thẩm tính lãi được thực hiện từ thời điểm bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán (01/9/2024) đến ngày xét xử sơ thẩm là đúng quy định.
  7. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đầy đủ chứng cứ, áp dụng đúng pháp luật để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Do đó, kháng cáo của bị đơn là không có cơ sở để chấp nhận.
  8. Về án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo của không được chấp nhận nên anh Nguyễn Minh Quang V phải chịu án 300.000 đồng phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 148 của BLTTDS và khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 và Điều 313 của Bộ Luật tố tụng dân sự. Xử: không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Minh Quang V. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 20/2025/DS-ST ngày 28/03/2025 của Tòa án nhân thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
  2. Về án phí: anh Nguyễn Minh Quang V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0002630 ngày 21/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang.
  3. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - TAND, chi cục THADS cấp sơ thẩm;
  • - Cổng thông tin điện tử TAND;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hà Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 90/2025/DS-PT ngày 23/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ

  • Số bản án: 90/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Yêu càu thực hiện nghĩa vụ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger