|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – hạnh phúc |
|
Bản án số: 90/2025/DS-PT Ngày 04 - 6 - 2025 "Tranh chấp chia di sản thừa kế theo pháp luật” |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vĩnh Thành.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Trọng;
Ông Nguyễn Văn Nghĩa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Linh Chi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Phùng Ngọc Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 101/2024/TLPT-DS ngày 31 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp chia di sản thừa kế theo pháp luật”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 10/2024/DS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 162/2024/QĐ-PT ngày 31 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị T, sinh năm 1973 (có mặt);
Địa chỉ: Tổ dân phố Q, thị trấn H, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. - Bị đơn: Ông Bùi Văn H, sinh năm 1958 (có mặt);
Địa chỉ: Tổ dân phố Q, thị trấn H, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Bà Bùi Thị L, sinh năm 1965 (có mặt);
Địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. - + Bà Hà Thị X, sinh năm 1958;
Địa chỉ: Tổ dân phố Q, thị trấn H, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. - + Anh Bùi Văn P, sinh năm 1991;
Địa chỉ: Tổ dân phố Q, thị trấn H, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. - + Anh Bùi Văn M, sinh năm 1984;
Địa chỉ: Tổ dân phố Q, thị trấn H, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Hà Thị X, anh Bùi Văn P, anh Bùi Văn M: Ông Bùi Văn H, sinh năm 1958; địa chỉ: Tổ dân phố Q, thị trấn H, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (Theo Giấy ủy quyền ngày 21/3/2025 của bà Hà Thị X, anh Bùi Văn P, anh Bùi Văn M).
- + Anh Vương Ngọc H1, sinh năm 1994;
Địa chỉ: Tổ dân phố Q, thị trấn H, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. - + Anh Hoàng Phi H2, sinh năm 2005;
Địa chỉ: Tổ dân phố Q, thị trấn H, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người đại diện theo ủy quyền của anh Vương Ngọc H1 và anh Hoàng Phi H2: Bà Bùi Thị T, sinh năm 1973; địa chỉ: Tổ dân phố Q, thị trấn H, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; (Theo Giấy ủy quyền ngày 21/3/2025 của anh Vương Ngọc H1 và anh Hoàng Phi H2).
- + Bà Bùi Thị L, sinh năm 1965 (có mặt);
- Người kháng cáo: Ông Bùi Văn H - Bị đơn.
- Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 10 tháng 8 năm 2023, các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà nguyên đơn bà Bùi Thị T trình bày:
Bố bà là Bùi Văn M1, sinh năm 1924 chết năm 1976, mẹ bà là Vũ Thị N, sinh năm 1924, chết năm 2021. Bố mẹ bà có 04 người con là Bùi Văn H3, sinh năm 1954 chết năm 1972 (chưa có vợ con); Bùi Văn H, sinh năm 1958, Bùi Thị L, sinh năm 1965 và bà là Bùi Thị T, sinh năm 1973. Mẹ bà không có con riêng, bố bà có 07 người con riêng ở tại thôn Y, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (các con của cụ M1 là Bùi Văn D, Bùi Thị C, Bùi Thị Q, Bùi Thị C1, Bùi Thị C2, Bùi Văn Đ và Bùi Thị N1). Các con riêng của cụ M1 cụ thể sinh năm nào bà không rõ vì những người này là con riêng của cụ M1 với vợ trước, họ chỉ đến nhà bà khi nhà có công việc lớn như đám cưới và khi mẹ bà chết. Bố mẹ bà khi chết không ai để lại di chúc. Khi bố bà chết tại xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, khi đó bà còn nhỏ khoảng 3 tuổi. Tài sản của mẹ bà để lại là thửa đất 23+ 24(1) và 24(2), diện tích 2076m² trong đó 200m² đất thổ cư và 1876m² đất vườn. Đây là tài sản riêng của mẹ bà. Không phải là tài sản chung của bố mẹ bà vì mẹ bà là vợ hai, bố bà chỉ đến ở cùng mẹ bà. Năm 1988 bà L đi lấy chồng và sinh sống tại thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Năm 1983 ông H lấy vợ và ở tại thửa đất của mẹ bà để lại. Bà T lấy chồng khoảng năm 1994 sau đó ly hôn và về ở cùng cụ N tại thửa đất của cụ N, cụ N ở cùng bà cho đến khi chết thì ông H đưa lên nhà ông H để làm thủ tục phúng viếng, cụ N không ở cùng ông H. Nguồn gốc thửa đất là của ông ngoại bà cho mẹ bà từ trước khi cụ M1 đến với cụ N, không phải là tài sản chung của cụ M1 và cụ N.
Đến nay bà T yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật tài sản do cụ Vũ Thị N để lại là thửa đất diện tích 2076m². Kỳ phần của bà được hưởng bà xin lấy và đề nghị được chia bằng đất và chia cho bà phần đất có nhà mà bà tự xây từ năm 1999, trên phần đất đó còn có 01 nhà đại đoàn kết là do địa phương hỗ trợ cho bà xây dựng khoảng năm 2011. Bà đề nghị chia cho bà phần đất tính từ mép sau nhà bếp kéo thẳng ra đường lớn, về phía sau thì bao gồm phần đất có công trình nhà của bà đang sử dụng. Kỷ phần của bà được chia theo pháp luật được đâu bà xin sử dụng đến đó. Các tài sản trên đất là của ông H bà không có ý kiến gì, kể cả ngôi nhà của cụ N để lại. Nếu được chia thêm đất bà yêu cầu ông H phải tháo dỡ tài sản để trả đất cho bà, khi ông H làm xưởng cưa bà đã có ý kiến nhưng ông H vẫn cứ làm. Khi mẹ bà chết anh em bà không ai phải đóng góp tiền chôn cất mẹ. Khi mẹ bà chết gia đình xây mộ ốp đá luôn không phải sang cát hay làm gì. Đối với công chăm sóc mẹ khi già yếu bà không đề nghị gì.
Bị đơn ông Bùi Văn H trình bày: Ông đã nhận được thông báo thụ lý vụ án và giấy triệu tập của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch về việc bà Bùi Thị T khởi kiện yêu cầu chia thừa kế tài sản là thửa đất 23+ 24(1) và 24(2), diện tích 2076m² trong đó 200m² đất thổ cư và 1876m² đất vườn. Ông đã được Tòa án hướng dẫn viết bản tự khai nhưng ông không viết. Về quan hệ huyết thống như bà T trình bày là đúng, ông không bổ sung gì. Năm 1976 bố ông chết tại xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Hiện nay việc cúng giỗ bố ông là do ông Bùi Văn D con riêng của cụ M1 cúng giỗ. Khi bố ông chết không để lại di chúc gì. Theo ông tài sản đang tranh chấp là tài sản chung của bố mẹ ông để lại. Khi còn sống mẹ ông có để lại di chúc đề ngày 16/5/2017 chỉ cho bà T phần đất đang sử dụng và lối cổng đi rộng 2,5m như hiện nay. Di chúc có điểm chỉ của mẹ ông, có sự chứng kiến của bà Vũ Thị K và bà Vũ Thị K1 là em gái của mẹ ông (hiện nay bà K còn sống còn bà K1 đã chết). Di chúc không được công chứng, chứng thực. Ông chỉ nộp bản di chúc phô tô cho Tòa án. Chữ viết trong di chúc là do ông viết do mẹ ông khi đó già yếu mắt lòa không viết được có điểm chỉ vào di chúc. Lý do sau khi lập di chúc mẹ ông không công chứng, chứng thực do khi đó không nghĩ đến việc anh em phát sinh tranh chấp. Do vậy di chúc không có công chứng, chứng thực của cơ quan có thẩm quyền. Toàn bộ các tài sản trên phần đất ông đang sử dụng là tài sản của vợ chồng ông. Hiện nay ở trên đất có ông; vợ là Hà Thị X, sinh năm 1958; con trai là Bùi Văn P, sinh năm 1991. Toàn bộ tài sản trên phần đất bà T ở do bà T xây dựng. Phần tường bao loan trên phần đất bà T đang ở là do ông xây. Nay bà T đang quản lý sử dụng tường bao loan ông không có ý kiến gì. Quá trình ở trên đất ông không có công sức gì lớn để tôn tạo nên thửa đất. Đến nay bà T yêu cầu chia thừa kế di sản của mẹ ông để lại là thửa đất 23+ 24(1) và 24(2), diện tích 2076m² trong đó 200m² đất ở và 1876m² đất trồng cây lâu năm thì ông không đồng ý vì mẹ ông đã chia diện tích đất trên theo di chúc cho ông chỉ cho bà T lối cổng đi rộng 2,5 mét đi vào phần đất bà T đang sử dụng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị L trình bày: Về quan hệ huyết thống như bà T trình bày là đúng. Năm 1988 bà lấy chồng và sinh sống tại thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Nguồn gốc tài sản là của ông ngoại bà cho mẹ bà, không phải của bố bà. Đến nay bà T yêu cầu chia thừa kế tài sản theo pháp luật là thửa đất do mẹ bà để lại là thửa đất diện tích 2076m² bà hoàn toàn nhất trí. Kỳ phần của bà được hưởng bà tự nguyện cho ông Bùi Văn H để ông Bùi Văn H thờ cúng mẹ bà.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Vương Ngọc H1 trình bày: Anh con của bà Bùi Thị Tuyết. Bố mẹ anh ly hôn từ khi anh khoảng 4 đến 5 tuổi, sau khi ly hôn anh về ở cùng mẹ tại thửa đất của bà ngoại anh để lại cho mẹ anh từ đó đến nay. Tài sản đang tranh chấp hiện nay là của bà ngoại anh, những tài sản trên phần đất hiện nay mẹ anh đang sử dụng là tài sản của mẹ anh, anh không có công sức đóng góp gì. Năm 2018 anh kết hôn với chị Phạm Thị Thành V, sau khi kết hôn chị V về làm dâu và ở cùng anh tại nhà do mẹ anh đang ở. Hiện nay chị V và anh đã ly hôn. Anh và chị V có hai con chung là Vương Ngọc A, sinh năm 2019 và Vương Tấn L1, sinh năm 2021, cháu A đang ở cùng anh, còn cháu L1 ở với chị V. Đến nay mẹ anh đề nghị Tòa án chia thừa kế theo pháp luật tài sản do cụ N để lại anh không có ý kiến gì đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Phi H2 trình bày: Anh là con của bà Bùi Thị T, bố anh là Hoàng Tiến D1. Bố mẹ anh không kết hôn mà chỉ có con chung cùng nhau, anh và mẹ anh ở tại thửa đất của bà ngoại anh để lại cho mẹ anh từ khi anh được sinh ra đến nay. Tài sản đang tranh chấp là của cụ N, những tài sản trên phần đất hiện nay mẹ anh đang sử dụng là tài sản của mẹ anh, anh không có công sức đóng góp gì. Đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Hà Thị X trình bày: Thửa đất của cụ N để lại vợ chồng bà vẫn ở trên thửa đất đó, toàn bộ công trình cây cối trên phần đất vợ chồng bà sử dụng là của vợ chồng bà, việc bà T yêu cầu chia thừa kế không liên quan gì đến bà nên đề nghị vắng mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Bùi Văn P, Tòa án báo gọi nhiều lần nhưng không đến Tòa làm việc. Tòa án cùng chính quyền địa phương về tại gia đình ông H nhưng cũng không gặp anh P nên không có lời trình bày.
Lời khai ông Bùi Văn D, bà Bùi Thị C, bà Bùi Thị Q là con riêng của cụ M1 đều thể hiện không có liên quan gì đến tài sản đang tranh chấp. Tài sản đang tranh chấp là tài sản của mẹ cụ N để lại cho cụ N, không phải là tài sản của cụ M1.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 22/7/2024 anh Bùi Văn M trình bày: Mái tôn làm trên xưởng gỗ do anh làm năm 2021, trụ bê tông là do ông H làm, máy xẻ gỗ của ông H, anh ở riêng từ năm 2008 đến nay, toàn bộ tài sản trên thửa đất là của ông H, không liên quan gì đến anh và đề nghị được vắng mặt tại phiên tòa.
Tại bản án sơ thẩm số 10/2024/DS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định:
- Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị T về yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với thửa đất số 23 + 24(1) và 23+ 24(2) tờ bản đồ số 44, diện tích 2076m² tại tổ dân phố Q, thị trấn H, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Chia cho bà Bùi Thị T 692m² đất (trong đó 66m² đất thổ cư và 626m² đất vườn) tại thửa số 23 + 24 (1) và thửa số 23+ 24(2) tờ bản đồ số 44 tổ dân phố Q, thị trấn H, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc có các chiều cạnh như sau: Cạnh giáp đất ông H cạnh 14-13 dài 26,5m; cạnh 13-12 dài 8,17m; cạnh 12-11 dài 6,18m; giáp đất ông T1 cạnh 11-10 dài 2,94m; cạnh 10-9 dài 4,81m; cạnh 9-8 dài 4,17m; cạnh 8-7 dài 0,34m; cạnh 7-6 dài 4,91m; cạnh 6-5 dài 1,91m; cạnh 5-4 dài 15,04m; cạnh 4-3A dài 1,43 m; cạnh còn lại giáp phần đất chia cho ông H cạnh 3A-23 dài 3,83m; cạnh 23-24 dài 15,3m; cạnh 24-25 dài 3,24m; cạnh 25-26 dài 3,35m; cạnh 26-27 dài 2,24m; cạnh 27-28 dài 4,59m; cạnh 28-14A dài 26,88m (có sơ đồ kèm theo).
- Chia cho ông Bùi Văn H 1.384m² (trong đó 134m² thổ cư và 1.250 m² đất vườn) và được sử dụng 70,5m² đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tổng cộng là 1454,5m² là toàn bộ diện tích đất còn lại của thửa đất số 23+ 24(1) và 24(2) ) tờ bản đồ số 44 tổ dân phố Q, thị trấn H, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc có các chiều cạnh cụ thể như sau: Cạnh 14A-28 dài 26,88m; cạnh 28-27 dài 4,49m; cạnh 27-26 dài 2,24m; cạnh 26-25 dài 3,35m; cạnh 25-24 dài 3,24m; cạnh 24-23 dài 15,03m, cạnh 23- 3A dài 3,83m; cạnh 3A-3 dài 9,89m cạnh 3-2 dài 1,54m; cạnh 2-1 dài 11,78m; cạnh 1-22 dài 6,59m; cạnh 22-21 dài 1,24m; cạnh 21- 20 dài 12,83m; cạnh 20-19 dài 18,98m; cạnh 19-18 dài 5,99m; cạnh 18-17 dài 9,33m; cạnh 17-16 dài 5,24m; cạnh 16-15 dài 10,48m; cạnh 15-14 A dài 20,57m (có sơ đồ kèm theo).
- Buộc ông Bùi Văn H phải tháo dỡ lán lợp mái tôn và cây cối trên đất để trả lại đất chia cho bà Bùi Thị Tuyết.
- Các đương sự được liên hệ với cơ quan có thẩm quyền kê khai đăng ký để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 3 Điều 100 Luật đất đai năm 2013.
- Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 21/8/2024 ông Bùi Văn H là bị đơn có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm: Không nhất trí Tòa án chia đất của ông cho bà T, vì trước đó mẹ ông đã chia đất cho bà T một mảnh đất mà nay đã làm nhà trên đó và Nhà nước đã xây nhà Đại đoàn K2 cho, nhà đã có cổng riêng, bờ rào riêng.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện. Bị đơn không rút đơn kháng cáo, giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phát biểu quan điểm:
- Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, Thẩm phán và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa phúc thẩm.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không toàn bộ nội dung kháng cáo của ông Bùi Văn H, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2024/DS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đơn kháng cáo của của ông Bùi Văn H trong thời hạn luật định nên Hội đồng xét xử xem xét đơn theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung kháng cáo:
2.1. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Bùi Văn H trình bày: Thời trẻ, cụ N kết hôn với cụ Hà Công Nhĩ.1 Hai người sinh được một người con nhưng bị chết từ nhỏ. Đến năm 1948 cụ Hà Công N2 hi sinh nên cụ N về ở với bố mẹ đẻ là cụ Vũ Văn G và cụ Hà Thị Đắc.2 Cụ M1 ở với vợ là cụ N3 ở xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, thỉnh thoảng qua lại với cụ N. Khoảng năm 1950 cụ N có quan hệ tình cảm với cụ Bùi Văn M1 và sinh được 04 người con là Bùi Văn H3, sinh năm 1954 chết năm 1972 (chưa có vợ con); Bùi Văn H, sinh năm 1958, Bùi Thị L, sinh năm 1965 và Bùi Thị T, sinh năm 1973. Năm 1968, cụ N được chính quyền cấp cho thửa đất hiện đang tranh chấp để ở. Nay ông và bà T đang sử dụng thửa đất này. Nay ông H đề nghị Hội đồng xét xử chia thửa đất tranh chấp cho ông và T theo di chúc của cụ N đề ngày 16/5/2017. Nếu Hội đồng xét xử không chia theo di chúc mà chia thừa kế theo pháp luật thì phải chia thửa đất cho tất cả những người con của cụ M1 và cụ N3 được hưởng thừa kế.
2.2. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Bùi Thị L trình bày: Bà là con của cụ N và cụ M1. Cụ N lấy chồng là cụ N2 (đã hi sinh). Sau này khi cụ M1 (cụ M1 đã có vợ con ở B) đi sơ tán lên Lập Thạch nên gặp và ở với cụ Nho sinh được bà và ông H, bà T, ông H3 (ông H3 đã hi sinh). Cụ M1 chỉ ở với cụ N vài năm rồi quay về B. Nguồn gốc đất đang tranh chấp là của bố mẹ cụ N là cụ Vũ Văn G và cụ Hà Thị Đ1 cho cụ N. Đất này của riêng cụ N, không phải tài sản chung với cụ M1, cũng không phải được Nhà nước chia cho cụ N như ông H trình bày. Nay bà vẫn giữ nguyên quan điểm cho ông H phần bà được hưởng di sản.
2.3. Tại phiên tòa phúc thẩm bà T đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Xét về bản di chúc đề ngày 16/5/2017 do ông H xuất trình: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã yêu cầu ông H nộp bản gốc nhưng ông H không nộp. Đối chiếu với quy định Điều 631, Điều 634, Điều 632 Bộ luật Dân sự thì thấy rằng:
- - Những người làm chứng là bà K1, bà K không xác nhận điểm chỉ là của cụ N nên không rõ điểm chỉ ngón nào, của cụ N hay của ai.
- - Nội dung di chúc không ghi rõ họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc, không ghi rõ di sản thừa kế cụ thể như thế nào, ở đâu, cho ai cụ thể diện tích bao nhiêu, vị trí chỗ nào nên không thể chia đất trên thực tế.
- - Hơn nữa trong di chúc thể hiện nội dung “Đất này tôi chỉ cho ở không cho đứa nào bán” là không thực tế nên bà T có quyền đề nghị chia di sản theo pháp luật.
Tóm lại nội dung di chúc không đảm bảo quy định của pháp luật, không có giá trị pháp lý nên bản án sơ thẩm không chia di sản theo di chúc đề ngày 16/5/2017 do ông H xuất trình là có cơ sở pháp lý.
[4] Các đương sự đều thống nhất cụ Vũ Thị N và cụ Bùi Văn M1 có quan hệ tình cảm với nhau (không có đăng ký kết hôn) khi cụ M1 đã có vợ là cụ N3 ở xã T, huyện B. Cụ M1 và cụ N có 04 người con là Bùi Văn H3, sinh năm 1954 chết năm 1972 (chưa có vợ con); Bùi Văn H, sinh năm 1958, Bùi Thị L, sinh năm 1965 và Bùi Thị T, sinh năm 1973.
Tài sản tranh chấp là thửa đất số 23 + 24(1) và 24(2), tờ bản đồ số 44 với diện tích 2076m², tại tổ dân phố Q, thị trấn H, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (trước đây là xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc), có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên cụ Vũ Thị Nho.3
Xét, nguồn gốc thửa đất là bố mẹ cụ Vũ Thị N cho cụ từ năm 1968. Cụ M1 chết năm 1976. Năm 1998 cụ N được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên cụ N, từ khi cụ N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến nay không ai có ý kiến khiếu nại gì. Xác minh tại địa phương thể hiện thửa đất là của cụ Vũ Thị Nho.3 Từ năm 1998, 1999 ông H, bà T xây nhà trên đất của cụ N và sử dụng cho đến nay không ai phản đối.
Trước khi cụ N có quan hệ với cụ M1 thì cụ N kết hôn với cụ Hà Công Nhĩ.1 Hai người sinh được một người con nhưng bị chết từ nhỏ. Đến năm 1948 cụ Hà Công N2 hi sinh nên cụ N về ở với bố mẹ đẻ là cụ Vũ Văn G và cụ Hà Thị Đắc.2 Khoảng năm 1950 cụ M1 đã có vợ con ở B nhưng đi sơ tán lên Lập T2 và có gặp và có quan hệ tình cảm với cụ Bùi Văn M1 và sinh được 04 người con là Bùi Văn H3 (hi sinh, chưa có vợ con), Bùi Văn H, Bùi Thị L và Bùi Thị Tuyết. Sau khi sơ tán khoảng vài năm thì cụ M1 tiếp tục về ở với vợ là cụ N3 ở xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, thỉnh thoảng qua lại với cụ N. Như vậy, cụ N đã có chồng (đã hi sinh), cụ M1 đã có vợ là cụ N3 và các con ở B. Cụ M1, cụ N qua lại với nhau có bốn người con. Giữa cụ N và các con của cụ M1, cụ N3 không có mối quan hệ nuôi dưỡng, chăm sóc gì. Năm 1968 cụ N mới được bố mẹ cho đất ra ở riêng. Việc ông H cho rằng các con của cụ M1 với cụ N3 phải được chia thừa kế thửa đất tranh chấp là không có cơ sở. Bản thân các người con của cụ M1 với cụ N3 là ông Bùi Văn D, bà Bùi Thị C, bà Bùi Thị Q là con riêng của cụ M1 đều trình bày không có liên quan gì đến tài sản đang tranh chấp, tài sản đang tranh chấp là tài sản của mẹ cụ N để lại cho cụ N, không phải là tài sản của cụ M1, các bà không có yêu cầu gì về di sản của cụ N.
Như vậy khẳng định thửa đất là tài sản riêng của cụ Vũ Thị N, những người con riêng của cụ M1 không được hưởng thừa kế thửa đất này. Hàng thừa kế thứ nhất của cụ N hiện nay chỉ còn ông H, bà L và bà T, những người này thuộc hàng thừa kế thứ nhất được hưởng di sản thừa kế của cụ N.
Từ những phân tích trên cho thấy bản án sơ thẩm chia di sản thừa kế của cụ N cho ông H, bà L, bà T là có căn cứ và đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[5] Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên cụ Vũ Thị N do UBND huyện L cấp ngày 08/7/1998 thì thửa đất số 23 + 24(1) và 23+ 24(2) tờ bản đồ số 44 códiện tích 2076m². Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án đo đạc thực địa thì thửa đất nói trên diện tích thực tế là 2.146,5m² (tăng thêm 70,5m²). Kết quả xác minh tại địa phương thì việc sai số về diện tích tăng thêm là do hồ sơ địa chính khi đo đạc cấp giấy, thực tế thửa đất vẫn nguyên trạng từ xưa đến nay không có tranh chấp với các hộ liền kề và đất công. Diện tích đất 70,5m² tăng thêm bà T không đề nghị chia, ông H sử dụng ổn định, hợp pháp, liên tục đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nên ông H được sử dụng 70,5m² đất này và có quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để hoàn thiện các thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử có điều chỉnh cách tuyên án cho dễ hiểu.
[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tại phiên tòa phù hợp quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo không được chấp nhận nên ông Bùi Văn H phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm, tuy nhiên ông Bùi Văn H là người cao tuổi và ngày 21/8/2024 có đơn xin miễn án phí, nên Hội đồng xét xử miễn án phí cho ông Bùi Văn H.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số số 10/2024/DS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Căn cứ khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 609, Điều 612, Điều 613, Điều 623, Điều 649, Điều 650, Điều 651 và Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; Nghị quyết 326/2014/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị T về yêu cầu chia thừa kế di sản của cụ Vũ Thị N là thửa đất số 23 + 24(1) và 23+ 24(2) tờ bản đồ số 44, diện tích 2076m² giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên cụ Vũ Thị N do UBND huyện L cấp ngày 08/7/1998 tại tổ dân phố Q, thị trấn H (xã L cũ), huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc theo pháp luật.
- - Chia cho bà Bùi Thị T được sử dụng 692m² đất (trong đó 66m² đất thổ cư và 626m² đất trồng cây lâu năm) tại thửa số 23 + 24 (1) và thửa số 23+24(2), tờ bản đồ số 44, tại: Tổ dân phố Q, thị trấn H, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc có các chiều cạnh có các chiều cạnh ký hiệu: 14, 13, 12, 11, 10, 9, 8, 7, 6, 5, 4, 3A, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 14A, 14 trên sơ đồ kèm theo bản án.
- - Ông Bùi Văn H phải tháo dỡ, di dời lán lợp mái tôn, cây cối tài sản khác (nếu có) của ông trên phần đất giáp lối cổng chia cho bà Bùi Thị T để trả đất cho bà T.
- - Chia cho ông Bùi Văn H được quyền sử dụng là 1454,5m² (trong đó 134m² thổ cư và 1.320,5 m² đất trồng cây lâu năm) của thửa đất số 23+24(1) và 24(2), tờ bản đồ số 44, tại Tổ dân phố Q, thị trấn H, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc có các chiều cạnh ký hiệu: 14A, 28, 27, 26, 25, 24, 23, 3A, 3, 2, 1, 22, 21, 20, 19, 18, 17, 16, 15, 14 A trên sơ đồ kèm theo bản án.
- Các đương sự được liên hệ với cơ quan có thẩm quyền kê khai đăng ký để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Bà Bùi Thị T phải chịu 58.470.000đ (Năm mươi tám triệu bốn trăm bảy mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 10.000.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số: 0000049 ngày 27 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lập Thạch, bà T còn phải nộp 48.470.000₫ (Bốn mươi tám triệu bốn trăm bảy mươi nghìn đồng).
- - Ông Bùi Văn H phải chịu 58.470.000 đồng (Năm mươi tám triệu bốn trăm bảy mươi nghìn đồng) kỳ phần thừa kế nhận từ bà Bùi Thị L.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Bùi Văn H.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Vĩnh Thành |
Bản án số 90/2025/DS-PT ngày 04/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp chia di sản thừa kế theo pháp luật
- Số bản án: 90/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế theo pháp luật
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà T ông H tranh chấp chia di sản thừa kế theo pháp luật
