|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 90/2024/HSST Ngày: 21/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Bình.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Ngọc Sáng, bà Lý Thị The.
- - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tuấn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Tuấn- Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 90/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 08 năm 2024 đối với bị cáo:
Vàng Văn H, sinh năm 1990, tại huyện M, tỉnh Lai Châu.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản M, xã P, huyện M, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng Trọt; Trình độ văn hoá: 11/12; Chức vụ đoàn thể, chính quyền: Không; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vàng Văn M, sinh năm 1962 và con bà Lù Thị N, sinh năm 1966; Bị cáo có vợ: Phản Na Đ, sinh năm 1990 (hiện đang chấp hành án) và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/02/2024, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện M, tỉnh Lai Châu, đến nay có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng: Thàng Chờ L, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Bản M, xã P, huyện M, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt không lý do.
Người bào chữa: Bà Trần Thị Bích N1- Luật sư cộng tác tại Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ ngày 28/02/2024, Vàng Văn H, sinh năm 1990, trú tại bản M, xã P, huyện M một mình đi bộ từ nhà đến khu vực N, bản P, xã M để tìm mua H1 đem về sử dụng và bán kiếm lời. Khoảng 15 giờ cùng ngày, sau khi đến khu vực N, H gặp hai người đàn ông lạ mặt tại một ngôi nhà hoang. Qua trao đổi, H đã mua được của hai người này 01 gói Heroine, bên ngoài được gói bằng mảnh nilon màu xanh với giá 1.200.000 đồng. Sau đó, H cầm gói H1 trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ về nhà. Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi về đến nhà, thấy không có ai ở nhà, H đem gói H1 đã mua được trước đó ra chia nhỏ thành 22 gói nhỏ (Bên ngoài mỗi gói đều được gói bằng một mảnh nilon màu xanh) và dùng 01 mảnh nilon màu trắng gói chung 22 gói Heroine thành một gói rồi cất giấu vào trong túi quần bên phải mà H đang mặc trên người. Trong quá trình chia nhỏ gói Heroine đã mua được ban đầu, do có một số cục H2 bị vỡ vụn nên H đã nhặt số H1 bị vỡ vụn để sử dụng.Khoảng 15 giờ ngày 29/02/2024, trong khi H đang ở nhà một mình thì có Thàng Chờ Lơ, sinh năm 1983, trú cùng bản đến gặp H để hỏi mua H1 sử dụng. Qua trao đổi, H đã bán cho L 01 gói Heroine với giá 50.000 đồng. Sau khi trao đổi, mua bán Heroine xong, L cầm gói H1 đã mua được đi ra khỏi nhà, còn H vẫn ngồi ở trong nhà.
Đến hồi 15 giờ 45 phút ngày 29/02/2024, Vàng Văn H đang ngồi một mình trên giường trong nhà H và chuẩn bị đem Heroine ra sử dụng thì bị tổ công tác Đồn Biên phòng P phát hiện, bắt quả tang cùng với tang vật là 21 gói Heroine mà H đang cất giấu trên người. Ngoài ra, Tổ công tác còn phát hiện, thu giữ tại vị trí H đang ngồi có một mảnh giấy bạc, một chiếc bật lửa ga màu đỏ và 01 chiếc ví da màu đen, bên trong có một tờ tiền Polymer mệnh giá 50.000 đồng. Qua đấu tranh, Vàng Văn H khai nhận số tiền 50.000 đồng đó là do H bán H1 cho L mà có. Tổ công tác đã mời người chứng kiến, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tổ công tác đã tiến hành triệu tập Thàng C Lơ đến làm việc: Lơ khai nhận việc đã mua 01 gói Heroine của H như đã nêu ở trên. Số H1 mua được, L đã sử dụng hết.
Tại bản kết luận giám định tư pháp số 24 ngày 01/3/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc Công an huyện M, đã kết luận: 21 gói chất bột khô, màu trắng thu giữ của Vàng Văn H có tổng khối lượng là 1,23 gam.
Tại bản kết luận giám định số 260 và số 261 cùng ngày 02/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: 21 Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Vàng Văn H gửi giám định đều là ma túy, loại: Heroine, 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 50.000 đồng gửi giám định là tiền thật.
Tại bản cáo trạng số 49/CT- VKS-MT ngày 21/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè truy tố bị cáo Vàng Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên
bố bị cáo Vàng Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Vàng Văn H từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 22 mảnh nilon gồm: 01 mảnh màu trắng; 21 mảnh màu xanh; 01 phong bì công văn do Đồn biên phòng P phát hành đã bị cắt một đầu; 01 chiếc vi da màu đen; 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ; 01 mảnh giấy bạc.
Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 tờ tiền Việt Nam có mệnh giá 50.000 đồng.
Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng, nội dung bản luận tội. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự xem xét cho bị cáo mức án phù hợp thấp nhất của trong khoảng đề nghị của Viện kiểm sát và xin miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng, bản luận tội của Viện kiểm sát, bản luận cứ bào chữa của người bào chữa và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án thấp nhất trong mức đề nghị của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện M, tỉnh Lai Châu- Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu- Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp.
- [2] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên Tòa và
trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội phù hợp với lời khai nhận tội tại cơ quan điều tra, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận giám định về chất ma túy, các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Tòa án đã có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 15 giờ, ngày 29/02/2024, tại bản M, xã P, huyện M, Vàng Văn H đã bán trái phép 01 gói Heroine cho T Chờ Lơ để lấy số tiền 50.000 đồng. Ngoài ra, H còn tàng trữ trái phép 1,23 gam Heroine để sử dụng và bán kiếm lời thì bị Đồn Biên phòng P phát hiện, bắt quả tang vào hồi 15 giờ 45 cùng ngày.
Do số Heroine mà H đã bán cho Thàng C Lơ và số Heroine Hiền tàng trữ trái phép để sử dụng và bán kiếm lời có cùng chung nguồn gốc nên Vàng Văn H phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý với tổng khối lượng 1,23 gam Heroine. Do đó hành vi của bị cáo Vàng Văn H đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Hành vi nêu trên của bị cáo Vàng Văn H là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến khách thể được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ, đó là chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và biết rõ hành vi phạm tội của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo không những trực tiếp hủy hoại sức khỏe con người, làm suy thoái giống nòi, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia mà còn là nguyên nhân chủ yếu làm gia tăng tội phạm khác.
- [3] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn. Nên cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và nhân thân của bị cáo về hành vi phạm tội của mình, Hội đồng xét xử xét thấy cần có một mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời để nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân, đảm bảo công tác phòng ngừa chung cho xã hội. Do đó mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là hoàn toàn phù hợp, cần chấp nhận.
Người bào chữa đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất trong khoảng đề nghị của Viện kiểm sát và đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội,
hoàn cảnh gia đình và hoàn cảnh kinh tế của gia đình bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- [4] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo thì bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản và không giữ chức vụ gì nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- [5] Về nguồn gốc số Heroine: Đối với hai người đàn ông lạ mặt mà theo lời khai của bị cáo đó là người đã bán Heroine cho bị cáo: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra không xác định được những người đó là ai nên không thể xem xét xử lý. Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
- [6] Đối với Thàng C Lơ: Do L đã sử dụng hết toàn bộ số Heroine đã mua được và không xác định được khối lượng Heroine mà L đã tàng trữ để sử dụng nên không có đủ căn cứ để xử lý L về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hội đồng xét xử chấp nhận và không đề cập giải quyết.
- [7] Về xử lý vật chứng: Đối với 1,23 gam Heroine đã gửi hết giám định và không hoàn lại nên không đề cập giải quyết. Đối với 22 mảnh nilon gồm: 01 mảnh màu trắng; 21 mảnh màu xanh; 01 phong bì công văn do Đồn biên phòng P phát hành đã bị cắt một đầu; 01 chiếc vi da màu đen; 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ; 01 mảnh giấy bạc. Đây là vật chứng của vụ án và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 tờ tiền Việt Nam có mệnh giá 50.000 đồng thu giữ của Vàng Văn H. Đây là tiền do phạm tội mà có cần tịch thu sung quỹ Nhà nước
- [8] Án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo là người dân tộc thiểu số và sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn. Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- [9] Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Vàng Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Vàng Văn H 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/02/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 22 mảnh nilon gồm: 01 mảnh màu trắng; 21 mảnh màu xanh; 01 phong bì công văn do Đồn biên phòng P phát hành đã bị cắt một đầu; 01 chiếc vi da màu đen; 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ; 01 mảnh giấy bạc.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 tờ tiền Việt Nam có mệnh giá 50.000 đồng.
(Vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện M và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mường Tè ngày 28/6/2024).
- Án phí HSST: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Bình |
Bản án số 90/2024/HSST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 90/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ...
