Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BỐ TRẠCH

TỈNH QUẢNG BÌNH

Bản án số: 90/2024/HS-ST

Ngày 10 - 12 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Quang Minh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Tuyết và bà Nguyễn Thị Hải

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hàn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bố Trạch.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch tham gia phiên toà: Ông Dương Ngọc Thạch - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 86/2024/HSST ngày 04 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Viết B, sinh ngày 16 tháng 9 năm 1989 tại huyện B, tỉnh Quảng Bình; Nơi cư trú: Thôn H, xã L, huyện B, tỉnh Quảng Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Lao động tự do; Đoàn thể: Quần chúng; Trình độ học vấn: lớp 12/12; Con ông Lê Văn Đ và bà Lê Thị L; Vợ Nguyễn Thị Bé H (đã ly hôn); con: có 01 người sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: không;

Quá trình nhân thân: Năm 2019, bị Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình xử phạt 15 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thi hành án tại Trại giam N cho đến ngày 18/3/2020 trở về địa phương.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, sau đó chuyển tạm giam từ ngày 14/9/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 13/9/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Lê Viết B đi xe buýt từ nhà vào đến khu vực gần Mỏ đất cao lanh thuộc xã L, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình để tìm người bán. Khi đến nơi, B gặp một nhóm thanh niên và hỏi về việc mua ma túy để sử dụng thì có một thanh niên hỏi B mua bao nhiêu, B đưa cho người này 300.000 đồng. Khoảng 05 phút sau, người thanh niên quay lại và đưa cho B một gói thuốc HONGHA bên trong chứa 04 viên nén hình tròn màu hồng. Sau khi mua được ma túy, B cất giấu trong túi quần bên phải rồi bắt xe về nhà. Khi tới Cầu chui thuộc địa phận xã L, huyện B, B xuống xe đi bộ về nhà thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B kiểm tra, phát hiện và bắt giữ, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật là gói thuốc lá HONGHA bên trong có chứa 04 viên nén hình tròn màu hồng.

Vật chứng thu giữ và xử lý: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã thu giữ của Lê Viết B, 04 viên nén hình tròn, màu hồng; 01 gói thuốc lá nhãn hiệu HONGHA; 01 mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt màu hồng; 01 mảnh giấy màu trắng; 01 miếng nilon màu xám thu giữ các vật chứng đang tạm giữ chưa xử lý.

Tại Kết luận giám định số: 1040/KL-KTHS ngày 20/9/2024, Phòng K Công an tỉnh Q kết luận đối với số hồng phiến thu giữ: “Mẫu ký hiệu A gửi giám định là chất ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,365 gam (không phẩy ba trăm sáu mươi lăm gam). Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, Số thứ tự 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”.

Tại Bản cáo trạng số: 88/CT-VKSBT ngày 04 tháng 11 năm 2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch đã truy tố bị cáo Lê Viết B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo toàn bộ nội dung Bản cáo trạng, và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 47 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù; Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy khối lượng chất ma túy còn lại cùng các vỏ bao gói hoàn lại sau giám định. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nhất trí với quan điểm luận tội của đại diện Kiểm sát viên và không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng, Bị cáo trình bày đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình là trái pháp luật và rất hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: xét hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo ở giai đoạn điều tra về thời gian, không gian, địa điểm, hiện trường nơi xảy ra vụ án và lời khai này phù hợp với vật chứng đã được thu giữ, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:

Vào khoảng 20 giờ ngày 13/9/2024, tại khu vực Cầu chui thuộc địa phận xã L, huyện B, tỉnh Quảng Bình, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã phát hiện và bắt quả tang Lê Viết B đang cất giấu trong người 01 gói thuốc lá HONGHA bên trong có chứa 04 viên ma túy. Kết luận giám định số 1040/KL-KTHS ngày 20/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q xác định số ma túy do Lê Viết B cất giấu là loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,365 gam. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch đã truy tố bị cáo Lê Viết B là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét về tính chất, mức độ hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra thấy rằng: Bị cáo là người đầy đủ năng lực để nhận thức ma túy loại Methamphetamine là chất gây nghiện nguy hiểm, là mặt hàng được Nhà nước độc quyền quản lý nhằm ngăn chặn tình trạng lạm dụng ma túy, bảo vệ sức khỏe của người dân và ngăn ngừa các tội phạm do sử dụng ma túy, nhưng do bản thân là người sử dụng ma túy bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý tàng trữ trái phép nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý Nhà nước, mà còn đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe và sự phát triển của bản thân gây thiệt hại về kinh tế cho gia đình và có khả năng làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần có một hình phạt nghiêm minh, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để có sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân thấy rằng: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được áp dụng khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về nhân thân, bị cáo là người có nhân thân không tốt, đã từng bị Tòa án xử phạt về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[5] Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, quá trình nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy rằng: Mặc dù khối lượng ma túy do bị cáo tàng trữ không quá lớn, nhưng bị cáo đã từng bị Tòa án tuyên phạt tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà còn tiếp tục phạm tội. Điều này thể hiện bị cáo là người bất chấp pháp luật, khó cải tạo nên cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo đối với bị cáo, đồng thời đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trên địa bàn.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo phải chấp hành hình phạt tù nên cần chấp nhận ý kiến đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng của vụ án: Xét khối lượng chất ma túy còn lại sau giám định là chất cấm lưu hành; vỏ bao gói hoàn trả sau giám định và 01 gói thuốc lá nhãn hiệu HONGHA, 01 mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt màu hồng, 01 mảnh giấy màu trắng, 01 miếng nilon màu xám không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Viết B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  2. Về Điều luật áp dụng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;

    Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 268 của Bộ luật tố tụng hình sự;

    Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  3. Về hình phạt: xử phạt bị cáo Lê Viết B 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tam giam (ngày 14/9/2024).

    Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Viết B với thời hạn 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 10/12/2024) để đảm bảo việc thi hành án theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử.

  4. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Viết B.
  5. Về xử lý vật chứng:
    • Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì thư dán kín, có số niêm phong 1040/KL-KTHS ngày 20/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q, bên trong chứa 0,238g (không phẩy hai trăm ba mươi tám gam) chất ma túy, loại Methamphetamine và vỏ bao gói hoàn trả sau giám định.
    • Tịch thu tiêu hủy 01 gói thuốc lá nhãn hiệu HONGHA; 01 mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt màu hồng; 01 mảnh giấy màu trắng và 01 miếng nilon màu xám.

    (Các vật chứng trên hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch và có đặc điểm như mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng lập giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch ngày 19/11/2024)

  6. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Viết B phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào Ngân sách Nhà nước.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (10/12/2024)./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - VKSND tỉnh Quảng Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình;
  • - Phòng PV 06 Công an tỉnh Quảng Bình;
  • - VKSND huyện Bố Trạch;
  • - Công an huyện Bố Trạch;
  • - Chi cục THADS huyện Bố Trạch;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Quang Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 90/2024/HS-ST ngày 10/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 90/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LÊ VIẾT B - K1 ĐIỀU 249 BLHS
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger