Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ ĐIỆN BÀN

TỈNH QUẢNG NAM

Bản án số:90/2024/HSST

Ngày 18-7-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ban;

Ông Trương Đắc Hưng.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà có bà: Trương Thị Quý – Cán bộ Toà án nhân dân thị xã Điện Bàn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn tham gia phiên toà: bà Mai Thanh Tuyền - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 80/2024/TL-HSST ngày 12 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:

Họ và tên: N1, sinh ngày 16 tháng 3 năm 2001, tại: Đ, Quảng Nam; nơi cư trú: Khối U, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; giới tính: nam; tên cha: Nguyễn Văn M (đã chết) và tên mẹ Phạm Thị Cẩm P (sinh năm: 1964).

Tiền án: Ngày 18/5/2023, bị TAND thị xã Điện Bàn xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã chấp hành xong), Ngày 16/01/2024, bị TAND thị xã Điện Bàn xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chưa chấp hành); Tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 28/02/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại:

  • + Trung tâm Văn hóa - Thể thao và Truyền thanh - Truyền hình thị xã Đ; Địa chỉ trụ sở: K, phường V, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; Đại diện theo pháp luật ông Phạm L - Chức vụ: Giám đốc.
  • + Ông Nguyễn Minh H, sinh năm: 1983; Nơi thường trú: Khối phố T, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Lê Thị Hồng T, sinh năm: 1993; Nơi thường trú: Khối phố S, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam;
  • + Bà Phan Thị G, sinh năm: 1972; Nơi thường trú: khối phố B, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam;
  • + Bà Bùi Thị Thúy N, sinh năm: 1995; Nơi thường trú: DN, phường C, Tp., tỉnh Quảng Nam;
  • + Bà Phan Thị Ngọc H1, sinh năm: 1982; Nơi thường trú: khối phố S, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam;
  • + Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1988; Nơi thường trú: Khối P, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam.
  • + Ông Trần Văn Bảo A, sinh năm: 1971; Nơi thường trú: Khối G, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam.
  • + Bà Phạm Thị Cẩm P, sinh năm: 1964; Nơi cư trú: Khối U, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam.

(bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn H2 là đối tượng không có việc làm ổn định nên để có tiền tiêu xài cá nhân, từ ngày 12/02/2024 đến ngày 26/02/2024 H2 đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại Trung tâm T2 – thuộc Trung tâm Văn hóa - Thể thao và Truyền thanh - Truyền hình thị xã Đ (sau đây gọi tắt là Trung tâm) thuộc khối phố E, phường V, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam và tại nhà kho của anh Nguyễn Minh H thuộc khối phố C, phường V, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam nhằm bán lại kiếm tiền tiêu xài cá nhân.

1. Hành vi trộm cắp tại Trung tâm T2:

Vào ngày 11/02/2024, H2 điều khiển xe mô tô hiệu POMUSPACYAN, BKS: 92K7-7588 đi vào Trung tâm. Quá trình đi dạo vào khu vực Trung tâm, H2 thấy có nhiều phòng trống, bên trong có nhiều quạt (loại quạt treo tường, nhãn hiệu Senko), H2 thử mở cửa phòng và thấy cửa không khóa nên H2 nảy sinh ý định đến tối sẽ đột nhập vào các phòng trên để trộm cắp quạt, bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Từ ngày 12/02/2024 đến ngày 26/02/2024, H2 đã 05 lần đột nhập vào Trung tâm để trộm cắp tài sản. Tất cả những lần trộm cắp H2 đều đi bộ từ nhà thuộc khối phố U, phường Đ, thị xã Đ băng qua ruộng rồi đi vào khu vực cổng sau của Trung tâm. Sau khi trộm cắp, H2 mang tài sản ra mương nước gần đó cất giấu rồi về nhà ngủ. Đến khoảng 09 giờ sáng ngày hôm sau, H2 điều khiển xe mô tô BKS: 92K7-7588 quay lại và lấy tài sản trộm được mang đi bán. Cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: rạng sáng ngày 12/02/2024, H2 đột nhập vào Trung tâm bằng cổng sau (lúc này cổng không khóa cửa), H2 mở cửa một phòng trống (vị trí phòng nằm ở khu nhà đa năng, dãy phòng sát bên sân bóng đá) vào trộm cắp 01 cái quạt. Sau đó, H2 đi qua khu vực hồ bơi và trộm cắp thêm 01 cái thang sắt (loại thang thẳng, dài 4,5m) rồi mang tất cả ra mương nước cất giấu, sáng hôm sau H2 mang đi bán.

Theo Kết luận định giá tài sản số 42/HĐ.ĐG ngày 16/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã Đ kết luận: 01 quạt treo trường nhãn hiệu Senko, số loại TR1628, mua vào tháng 9/2022 tại thời điểm tháng 4/2024 có giá trị 200.000 đồng; 01 thang bằng sắt, dài 4,5m mua vào tháng 9/2023 tại thời điểm tháng 4/2024 có giá trị 1.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 1.200.000 đồng.

Lần thứ hai: rạng sáng ngày 15/02/2024, H2 tiếp tục đột nhập vào cổng sau của Trung tâm, lúc này cổng đã khóa nên H2 leo vào. H2 đi vào các phòng trống ở khu nhà sân vận động và trộm cắp tổng cộng 10 cái quạt. H2 trộm cắp ở ba phòng khác nhau, một phòng trộm cắp 04 cái quạt và hai phòng mỗi phòng trộm cắp 03 cái quạt. Sau đó, H2 mang tài sản trộm cắp được ra mương nước cất giấu, sáng hôm sau mang đi bán.

Theo Kết luận định giá tài sản số 42/HĐ.ĐG ngày 16/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã Đ kết luận: 10 quạt treo trường nhãn hiệu Senko, số loại TR1628, mua vào tháng 9/2022 tại thời điểm tháng 4/2024 có giá trị 200.000 đồng/ cái. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 2.000.000 đồng.

Lần thứ ba: rạng sáng ngày 17/02/2024, cũng như những lần trước H2 tiếp tục đột nhập vào Trung tâm và đi vào các phòng trống ở khu nhà sân vận động, trộm cắp tổng cộng 10 cái quạt ở năm phòng khác nhau, trong đó: một phòng trộm cắp 04 cái, một phòng trộm cắp 03 cái và ba phòng trộm cắp 01 cái ở mỗi phòng. Sau đó, H2 mang tất cả ra mương nước cất giấu, sáng hôm sau mang đi bán.

Theo Kết luận định giá tài sản số 42/HĐ.ĐG ngày 16/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã Đ kết luận: 10 quạt treo trường nhãn hiệu Senko, số loại TR1628, mua vào tháng 9/2022 tại thời điểm tháng 4/2024 có giá trị 200.000 đồng/ cái. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 2.000.000 đồng.

Lần thứ tư: rạng sáng ngày 22/02/2024, H2 tiếp tục phương thức đột nhập vào Trung tâm như những lần trước đó. H2 đi vào các phòng trống ở khu nhà đa năng (dãy phòng sát bên hồ bơi) và trộm cắp tổng cộng 07 cái quạt. H2 trộm cắp ở ba phòng khác nhau, một phòng trộm cắp 04 cái, một phòng trộm cắp 02 cái và một phòng trộm cắp 01 cái. Sau đó, H2 mang tài sản trộm cắp được ra mương nước cất giấu, sáng hôm sau mang đi bán.

Theo Kết luận định giá tài sản số 42/HĐ.ĐG ngày 16/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã Đ kết luận: 07 quạt treo trường N2, số loại TR1628, mua vào tháng 9/2022 tại thời điểm tháng 4/2024 có giá trị 200.000 đồng/ cái. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 1.400.000 đồng.

Lần thứ năm: rạng sáng ngày 26/02/2024, H2 tiếp tục phương thức như trước nhưng lần này H2 chuẩn bị trước 01 tua-vít (có sẵn ở nhà H2) vì ở các lần trước H2 biết được có vài phòng đã khóa cửa chính nhưng không khóa cửa sổ, do đó phải mở cửa sổ rồi dùng tua-vít mở khung sắt thì mới vào được. H2 đã dùng tua-vít để mở khung sắt ở tất cả bốn phòng để vào được sáu phòng, trộm cắp được tổng cộng 11 cái quạt, trong đó: một phòng nhà căn tin trộm cắp được 02 cái quạt, một phòng ở khu nhà đa năng (gần bên khu căn tin) trộm cắp 04 cái quạt, bốn phòng ở khu nhà đa năng (dãy phòng sát bên sân bóng đá) trộm cắp một phòng 02 cái quạt, ba phòng còn lại trộm cắp ở mỗi phòng 01 cái. Sau đó, H2 mang tất cả quạt trộm cắp được ra mương nước cất giấu, sáng hôm sau H2 mang đi bán.

Theo Kết luận định giá tài sản số 42/HĐ.ĐG ngày 16/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã Đ kết luận: 11 quạt treo trường nhãn hiệu Senko, số loại TR1628, mua vào tháng 9/2022 tại thời điểm tháng 4/2024 có giá trị 200.000 đồng/ cái. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 2.200.000 đồng.

Như vậy, tổng giá trị tài sản Nguyễn Văn H2 trộm cắp ở Trung tâm T2 là 8.800.000 đồng.

Những tài sản H2 đã trộm cắp được tại Trung tâm T2 đã được đem bán lại như sau: đối với chiếc thang sắt, H2 đem bán cho chị Phan Thị G, chủ cửa hàng phế liệu đối diện UBND phường Đ với giá 136.000 đồng. Đối với 39 cái quạt, H2 lên mạng xã hội facebook, vào trang “Hội thanh lý đồ cũ H” và sử dụng tài khoản ẩn danh để đăng bài bán quạt. Những ai mua thì H2 sẽ nhắn tin facebook rồi hẹn địa chỉ gặp để giao quạt tận nơi. Ngày 22/02/2024, H2 bán cho chị Bùi Thị Thúy N 06 cái quạt với giá 180.000 đồng/ cái (không lấy phí giao hàng), tổng cộng chị N trả cho H2 1.080.000 đồng. Ngày 23 và 26/02/2024, H2 đã bán cho chị Lê Thị Hồng T 12 cái quạt với giá 150.000 đồng/ cái và phí giao hàng 40.000 đồng/ 02 lần, tổng cộng chị T trả cho H2 1.840.000 đồng. Ngày 26/02/2024, H2 bán cho chị Phan Thị Ngọc H1 02 cái quạt với giá 160.000 đồng/ cái (không lấy phí giao hàng), tổng cộng chị H1 trả cho H2 320.000 đồng. Cùng ngày, H2 bán cho chị Nguyễn Thị T1 04 cái quạt với giá 150.000 đồng/ cái và phí giao hàng 20.000 đồng/ lần, tổng cộng chị T1 trả cho H2 620.000 đồng.

2. Hành vi trộm cắp tại nhà anh Nguyễn Minh H:

Trong khoảng thời gian trước ngày 20/02/2024, Nguyễn Văn H2 nhiều lần đi qua nhà kho của anh Nguyễn Minh H và thấy có nhiều sắt, cờ lê, dây xích để trước kho không có ai trông coi nên H2 nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. H2 đã có 02 lần trộm cắp tại đây, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: rạng sáng ngày 20/02/2024, H2 đi bộ từ nhà đến nhà kho của anh H và trộm cắp 01 khung sắt ngoài (lấy từ bộ khung sắt nâng người xe cẩu), 04 sợi dây xích, 10 cái ma ní, 07 cái cờ lê, 02 cái tâng đơ xích. Sau đó, H2 vác khung sắt và bỏ hết tài sản còn lại vào bao tải, mang ra bụi cỏ ở bờ ruộng gần đó cất giấu rồi đi bộ về nhà. Đến sáng cùng ngày, H2 sử dụng mô tô BKS: 92K7-7588 chở toàn bộ tài sản đã trộm được đến cửa hàng phế liệu thuộc khối phố G, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam do anh Trần Văn Bảo A làm chủ và bán được số tiền 300.000 đồng.

Lần thứ hai: rạng sáng ngày 23/02/2024, H2 tiếp tục đi bộ đến nhà kho của anh H và lấy trộm 01 khung sắt trong (phần còn lại của bộ K sắt nâng người xe cẩu) và 01 sợi dây xích. Sau đó, H2 vác khung sắt và sợi dây xích ra vị trí đã cất giấu tài sản trộm cắp vào ngày 20/02/2024. Đến sáng cùng ngày, H2 sử dụng xe mô tô BKS: 92K7-7588 chở toàn bộ tài sản trộm cắp được đến cửa hàng phế liệu của anh Trần Văn B Anh bán được số tiền 165.000 đồng.

Theo Kết luận định giá tài sản số 42/HĐ.ĐG ngày 16/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã Đ kết luận: 01 sợi dây xích đôi (có 02 cái móc), dài 2,5cm mua vào đầu năm 2022 tại thời điểm tháng 4/2024 có giá trị 500.000 đồng. 02 sợi dây xích loại 6mm, dài 5m mua vào đầu năm 2023 tại thời điểm tháng 4/2024 có giá trị 300.000 đồng/ sợi. 01 sợi dây xích loại 6mm, một đầu có móc, dài 2,5m mua vào đầu năm 2020 tại thời điểm tháng 2/2024 có giá trị 50.000 đồng. 01 sợi dây xích loại 8mm, một đầu có móc, dài 3,5m mua vào đầu năm 2022 tại thời điểm tháng 4/2024 có giá trị 200.000 đồng. 10 ma ní, kích thước (10x6)cm, phi 12mm mua vào giữa năm 2022 tại thời điểm tháng 4/2024 có giá trị 10.000 đồng/ cái. 01 cờ lê 24 mua vào giữa năm 2020 tại thời điểm tháng 4/2024 có giá trị 15.000 đồng. 02 cờ lê 22 mua vào giữa năm 2020 tại thời điểm tháng 4/2024 có giá trị 15.000 đồng. 02 cờ lê 19 mua vào giữa năm 2020 tại thời điểm tháng 4/2024 có giá trị 10.000 đồng/ cái. 02 cờ lê 17 mua vào giữa năm 2020 tại thời điểm tháng 4/2024 có giá trị 10.000 đồng/ cái. 01 cờ lê 13 mua vào giữa năm 2020 tại thời điểm tháng 4/2024 có giá trị 10.000 đồng. 01 khung sắt ngoài của bộ K để nâng người trên xe cẩu mua vào giữa năm 2020 tại thời điểm tháng 4/2024 có giá trị 600.000 đồng. 01 khung sắt trong của bộ K để nâng người trên xe cẩu mua vào giữa năm 2020 tại thời điểm tháng 4/2024 có giá trị 400.000 đồng. 01 tâng đơ xích loại thẳng mua vào giữa năm 2022 tại thời điểm tháng 4/2024 có giá trị 50.000 đồng. 01 tâng đơ xích loại gập mua vào giữa năm 2022 tại thời điểm tháng 4/2024 có giá trị 70.000 đồng.

Như vậy, tổng giá trị tài sản Nguyễn Văn H2 trộm cắp tại nhà kho của anh Nguyễn Minh H là 2.650.000 đồng.

*Vật chứng:

  • 24 chiếc quạt nhãn hiệu Senko (chị Bùi Thị Thúy N giao nộp 06 cái quạt, chị Lê Thị Hồng T giao nộp 12 cái quạt, chị Phan Thị Ngọc H1 giao nộp 02 cái quạt, chị Nguyễn Thị T1 giao nộp 04 cái quạt): đã được trao trả cho chủ sở hữu hợp pháp là đại diện Trung tâm T2.
  • 01 cái khung sắt trong, kích thước (87x80x90) cm: đã được trao trả cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Minh H.
  • Đối với xe mô tô hiệu POMUSPACYAN, BKS: 92K7-7588 và 01 giấy đăng ký xe mô tô số 0018574 do bà Phạm Thị Cẩm P giao nộp: quá trình điều tra xác định xe trên thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà Phạm Thị Cẩm P (mẹ ruột của H2). Từ ngày 11/02/2024 đến ngày 26/02/2024, H2 sử dụng xe máy trên để đi trộm cắp tài sản thì bà P hoàn toàn không biết. Vì vậy, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ trả lại chiếc xe trên cho bà P là phù hợp.

*Về dân sự:

  • Đại diện Trung tâm T2 yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn H2 bồi thường thiệt hại số tiền 4.000.000 đồng (tương ứng với giá trị 15 cái quạt và 01 cái thang sắt chưa thu hồi được). Riêng đối với các cánh cửa sổ H2 mở vít khi trộm cắp, Trung tâm T2 đã tự sửa chữa, thiệt hại không đáng kể nên không yêu cầu bồi thường.
  • Ông Nguyễn Minh H yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn H2 bồi thường thiệt hại số tiền 2.650.000 đồng (tương ứng với giá trị tài sản H2 lấy trộm tại nhà kho anh H). Bà Lê Thị Hồng T yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn H2 bồi thường thiệt hại số tiền 1.840.000 đồng (tương ứng số tiền chị T đã mua 12 cái quạt từ H2). Bà Phan Thị Ngọc H1 yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn H2 bồi thường thiệt hại số tiền 320.000 đồng (tương ứng số tiền chị H1 đã mua 02 cái quạt từ H2). Bà Nguyễn Thị T1 yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn H2 bồi thường thiệt hại số tiền 620.000 đồng (tương ứng số tiền chị T1 đã mua 04 cái quạt từ H2). Bà Bùi Thị Thúy N không yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn H2 bồi thường thiệt hại. Tổng số tiền bị cáo Nguyễn Văn H2 phải bồi thường là 9.430.000 đồng, H2 chưa bồi thường khoản thiệt hại nào.

Tại bản Cáo trạng số 71/VKS-HS ngày 30/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H2 về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn H2 về tội “Trộm cắp tài sản” về hình phạt áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, các điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự và đề nghị xử phạt đối với bị cáo từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai bốn) tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn H2.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015, Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015:

Buộc bị cáo Nguyễn Văn H2 có trách nhiệm bồi thường cho Trung tâm T2 - thuộc Trung tâm Văn hóa - Thể thao và Truyền thanh - Truyền hình thị xã Đ số tiền 4.000.000 đồng; bồi thường cho bà Lê Thị Hồng T số tiền 1.840.000 đồng; bồi thường cho bà Phan Thị Ngọc H1 số tiền 320.000 đồng; bồi thường cho bà Nguyễn Thị T1 số tiền 620.000 đồng. Riêng ông Nguyễn Minh H có đơn không yêu cầu và bà Bùi Thị Thúy N không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Bị cáo không có ý kiến gì về kết luận điều tra và quyết định truy tố, bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội:

Từ ngày 12/02/2024 đến ngày 26/02/2024, tại Trung tâm T2 thuộc khối phố E, phường V, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam, Nguyễn Văn H2 đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản gồm 01 cái thang bằng sắt, dài 4,5m và 39 cái quạt, loại quạt treo tường, nhãn hiệu Senko có giá trị 8.800.000 đồng. Ngày 20 và 23/02/2024, tại nhà kho của anh Nguyễn Minh H thuộc khối phố C, phường V, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam, H2 đã trộm cắp 01 bộ khung sắt nâng người xe cẩu, 07 cái cờ lê, 05 sợi dây xích, 02 cái tâng đơ xích, 10 cái ma ní có giá trị 2.650.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà H2 đã trộm cắp là 11.450.000 đồng.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đúng như Cáo trạng số 71/VKS-HS ngày 30/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn đã truy tố.

[3] Xét tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Bị cáo Nguyễn Văn H2 là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Vì muốn có tiền tiêu xài, bị cáo H2 đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của cơ quan, cá nhân người khác. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của tổ chức, cá nhân và trật tự an toàn xã hội là khách thể được pháp luật bảo vệ.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Nguyễn Văn H2 nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có giá trị trên 2.000.000 đồng; bị cáo phạm tội chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục phạm tội do lỗi cố ý. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên và tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), bị cáo Nguyễn Văn H2 không có thu nhập ổn định, do đó HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo Nguyễn Văn H2 có trách nhiệm bồi thường thiệt hại số tiền 4.000.000 đồng (tương ứng với giá trị 15 cái quạt và 01 cái thang sắt chưa thu hồi được) cho Trung tâm T2 (riêng đối với các cánh cửa sổ H2 mở vít khi trộm cắp, Trung tâm T2 đã tự sửa chữa, thiệt hại không đáng kể nên không yêu cầu bồi thường).

Bị cáo Nguyễn Văn H2 tiếp tục bồi thường thiệt hại số tiền 1.840.000 đồng cho bà Lê Thị Hồng T (tương ứng số tiền chị T đã mua 12 cái quạt từ H2); bồi thường thiệt hại số tiền 320.000 đồng cho bà Phan Thị Ngọc H1 (tương ứng số tiền chị H1 đã mua 02 cái quạt từ H2); bồi thường thiệt hại số tiền 620.000 đồng cho bà Nguyễn Thị T1 (tương ứng số tiền chị T1 đã mua 04 cái quạt từ H2). Tổng số tiền bị cáo Nguyễn Văn H2 phải bồi thường là 6.780.000 đồng.

Riêng ông Nguyễn Minh H có đơn không yêu cầu và bà Bùi Thị Thúy N không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu là phù hợp.

[8] Các vấn đề khác:

Đối với bà Phan Thị G, ông Trần Văn Bảo A, bà Bùi Thị Thúy N, bà Lê Thị Hồng T, bà Phan Thị Ngọc H1, bà Nguyễn Thị T1 là những người mua lại tài sản do Nguyễn Văn H2 trộm cắp mà có. Tuy nhiên quá trình điều tra xác định, những người này không biết nguồn gốc tài sản này là tài sản H2 trộm cắp nên không có cơ sở xử lý trách nhiệm hình sự đối với những người này về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có".

Đối với những người đã mua 15 cái quạt còn lại của Nguyễn Văn H2, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ không có cơ sở để điều tra, xác minh thông tin về nhân thân, lai lịch của người mua và thu hồi 15 chiếc quạt còn lại.

[8] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 12, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn H2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, các điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H2 02 (hai) năm tù.

Căn cứ: Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tổng hợp hình phạt 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù tại Bản án số 12/2024/HS-ST ngày 16/01/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn buộc bị cáo Nguyễn Văn H2 phải chấp hành hình phạt của 02 bản án là 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 28/02/2024.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015, Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015:

Buộc bị cáo Nguyễn Văn H2 có trách nhiệm bồi thường cho Trung tâm T2 – thuộc Trung tâm Văn hóa - Thể thao và Truyền thanh - Truyền hình thị xã Đ số tiền 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng); bồi thường cho bà Lê Thị Hồng T số tiền 1.840.000 đồng (một triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng); bồi thường cho bà Phan Thị Ngọc H1 số tiền 320.000 đồng (ba trăm hai mươi nghìn đồng); bồi thường cho bà Nguyễn Thị T1 số tiền 620.000 đồng (sáu trăm hai mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 339.000 đồng (ba trăm ba mươi chín nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo và người có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Nam;
  • - VKSND thị xã Điện Bàn;
  • - Công an thị xã Điện Bàn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam;
  • - Cục THA tỉnh Quảng Nam;
  • - Chi Cục THA thị xã Điện Bàn;
  • - Phòng HSNV Sở Tư Pháp Q Nam;
  • - Thành phần tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 90/2024/HSST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 90/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger