|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH Bản án số: 90/2024/HS-ST Ngày: 08-8-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Việt Hoàng;
Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Minh Thu;
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Hanh;
Ông Phạm Kiên Cường;
Bà Phạm Thị Thu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hùng Hoàng Hiệp – Thư ký TAND tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa:
Ông Hoàng Văn Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 8 tháng 8 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 57/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 143/2024/QĐXXST-HS ngày 24/7/2024 đối với các bị cáo:
- Trịnh Duy K, sinh ngày 22/7/1989, tại Quảng Ninh; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ A, khu A, phường V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn K1, sinh năm 1965 và bà Đào Bích L, sinh năm 1968; gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất; có vợ là Mám Thị T, sinh năm 1989 và 03 con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B; có mặt tại điểm cầu thành phần.
- Đào Quang T1, sinh ngày 20/12/1982, tại Quảng Ninh; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ B, khu D, phường B, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Quang T2 và bà Phạm Thị H (đều đã chết); gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là thứ bảy; có vợ là Phạm Thị M, sinh năm 1991 và 02 con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2024 đến 08/02/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”, hiện tại ngoại; có mặt tại điểm cầu trung tâm.
- Vũ Thanh T3, sinh ngày 22/9/1982, tại Quảng Ninh; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ B, T, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số 87-QĐ/UBKT ngày 12/3/2024 của Ủy ban kiểm tra thành ủy U, tỉnh Quảng Ninh; con ông Vũ Đức T4, sinh năm 1954 và bà Hoàng Thị L1, sinh năm 1958; gia đình có 02 anh chị em, bị cáo là thứ hai; có vợ là Nguyễn Thị L2, sinh năm 1983 và 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2024 đến 08/02/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”, hiện tại ngoại; có mặt tại điểm cầu trung tâm.
- Tô Văn T5, sinh ngày 13/4/2004, tại Bắc Ninh; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn C, xã C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tô Ngọc T6 (đã chết) và bà Hoàng Thị T7, sinh năm 1981; gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là thứ hai; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2024 đến 06/02/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”, hiện tại ngoại; có mặt tại điểm cầu trung tâm.
- Trần Duy H1, sinh ngày 03/12/2003, tại Bắc Giang; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Duy V, sinh năm 1985 và bà Lương Thị T8, sinh năm 1985; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; có vợ là Lê Thị O, sinh năm 2003 và 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2024 đến 06/02/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”, hiện tại ngoại; có mặt tại điểm cầu trung tâm.
* Bị hại: Anh Trần Đăng V1, sinh năm 1998 (đã chết)
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- Ông Trần Đăng T9, sinh năm 1977 (bố của bị hại);
- Bà Nguyễn Thị O1, sinh năm 1979 (mẹ của bị hại);
Cùng trú tại: Thôn T, xã C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; đều có mặt tại điểm cầu trung tâm.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
- Bà Đào Bích L, sinh năm 1968; trú tại: Tổ F, Khu A, V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
- Chị Phạm Thị M, sinh năm 1991; trú tại: Khu D, phường B, thành phố U, Quảng Ninh; có mặt.
- Chị Nguyễn Thị L2, sinh năm 1983; trú tại: Tổ B, khu phố T, Phương Đ, thành phố U, Quảng Ninh; có mặt.
- Chị Hoàng Thị T10, sinh năm 1986; trú tại: thôn C, xã C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; có mặt.
- Anh Vũ Hoàng T11, sinh năm 1980, HKTT: V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
- Anh Trần Danh D, sinh năm 1982, HKTT: T, phường C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; có mặt.
* Người làm chứng.
- Chị Phùng Thị L3, sinh năm 2001, HKTT: thôn N, xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; vắng mặt.
- Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1980; HKTT: thôn C, xã C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1982; HKTT: thôn C, xã C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.
- Anh Nguyễn Văn N1, sinh năm 1984; HKTT: thôn C, xã C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; có mặt.
- Anh Nguyễn Văn L4, sinh năm 1990; HKTT: thôn T, xã C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.
- Chị Lò Khánh L5, sinh năm 2005, HKTT: thôn B, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La; vắng mặt.
- Chị Nông Thị Diệu L6, sinh năm 2004, HKTT: Bóoc Ve, Mỹ P, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; vắng mặt.
- Chị Hoàng Thị T7, sinh năm 2003, HKTT: thôn P, xã H, huyện B, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
- Chị Bàn Thị N2, sinh năm 2004, HKTT: thôn K, xã G, huyện P, tỉnh Bắc Kạn; vắng mặt.
- Chị Phạm Thị L7, sinh năm 2007; HKTT: Thôn T, xã D, huyện V, tỉnh Lào Cai; vắng mặt.
- Chị Phạm Thúy T12, sinh năm 2005; HKTT: Thôn T, xã D, huyện V, tỉnh Lào Cai; có mặt.
- Anh Vũ Viết Đ1, sinh năm 1976, KHTT: thôn Q, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh; có mặt.
- Anh Nguyễn Quốc H3, sinh năm 1976, HKTT: Ngô Quyền, K, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đào Quang T1 và Vũ Thanh T3 làm công việc buôn bán kinh doanh than tại tỉnh Quảng Ninh, thông qua các mối quan hệ quan hệ xã hội T1 và T3 quen biết anh Nguyễn Quốc H3, hiện đang kinh doanh than tại thị xã Q. Sáng ngày 04/01/2024, T1 và T3 được H3 mời đến Bắc Ninh uống rượu, T1 và T3 đồng ý. Chiều ngày 04/01/2024, T1 và T3 rủ Trịnh Duy K cùng đi, K đồng ý và điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Ford Everest màu trắng, biển kiểm soát 14A-415.93 đưa T3 và T1 đi từ tỉnh Quảng Ninh đến thị xã Q gặp anh H3. Lúc này, H3 cùng bạn là Vũ Viết Đ1 đưa nhóm T1, T3, K đến quán T17 tại xã C, thị xã Q để ăn và uống rượu. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi ăn, uống xong, anh H3, Được tiếp tục mời T1, T3 và K đi hát tại quán K4, ở thôn C, xã C, thị xã Q, do chị Hoàng Thị T10, sinh năm 1986, HKTT: thôn C, xã C, thị xã Q làm chủ. Sau đó, tất cả di chuyển bằng xe ô tô 14A-415.93 đến quán K4. Tại đây anh H3, Đ1, K, T1 và T3 thuê phòng hát 201 tại tầng hai của quán K4 để hát, anh H3 nói với chị T10 gọi cho 06 nhân viên nữ đến để phục vụ rót bia và hát cùng. Khi đang hát Karaoke, anh H3 gọi điện cho anh Trần Danh D, sinh năm 1982, HKTT: T, phường C, thị xã Q cùng đến quán K4 để hát. Sau đó lần lượt có Phùng Thị L3, sinh năm 2001, HKTT: thôn N, xã T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn, Bàn Thị N2, sinh năm 2004, HKTT: thôn K, xã G, huyện P, tỉnh Bắc Kạn và Nguyễn Thị T13, sinh năm 2007, HKTT: xóm L, xã M, huyện Y, tỉnh Nghệ An (đều là nhân viên quán K4), Nông Thị Diệu L6, sinh năm 2004, HKTT: Bóoc Ve, Mỹ P, huyện B, tỉnh Bắc Kạn và Hoàng Thị T7, sinh năm 2003, HKTT: thôn P, xã H, huyện B, tỉnh Cao Bằng (đều là nhân viên của anh Nguyễn Đình V2, sinh năm 2002 ở H, xã N, thị xã Q) và Lò Khánh L5, sinh năm 2005, HKTT: thôn B, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La là nhân viên hát và rót bia do anh Trần Đăng V1, sinh năm 1998, HKTT: thôn T, xã C, thị xã Q quản lý đến quán K4 và vào phòng 201 tại tầng hai của quán để rót bia và hát cùng nhóm của K, T3, T1, anh H3, anh Đ1 và anh D.
Khi đang hát Karaoke, Lò Khánh L5 xảy ra mẫu thuẫn với anh H3, anh H3 cho rằng L5 có thái độ phục vụ không tốt nên đuổi L5 về. L5 rời phòng hát, đi xuống quầy lễ tân tầng 1, nhắn tin trên ứng dụng Messenger cho nhóm nhân viên của anh V1, trong đó có anh V1, Tô Văn T5 và Trần Duy H1 (H1 và T5 là nhân viên của anh V1 chuyên đưa, đón nhân viên nữ rót bia và hát đến các quán Karaoke) với nội dung tin nhắn: “Các anh đến đón em, em bị khách đánh”. Lúc này, H1 và T5 đang chơi bi-a gần quán K4 đọc được tin nhắn, khi đó có Lường Thị H4, sinh năm 2003, HKTT: Bản K, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An (là nhân viên do nhóm của anh V1, T5, H1 quản lý cũng đang phục vụ tại quán K4 nhưng của phòng hát khác) chạy đến chỗ T5 và H1 nói “L5 bị khách đánh, các anh ra đón L5 về ngay đi”. T5, H1 đi xe mô tô màu trắng (xe không gắn biển số, không ghi nhãn hiệu) của T5 đến quán K4. Lúc này vào khoảng 23 giờ cùng ngày, khi đến quán, T5 và H1 đi lên đứng ngay cửa phòng khách ở tầng 01, gặp nhóm của T3, T1, K, anh H3, anh Đ1, anh D (lúc này cũng đã dừng hát K2 và xuống thanh toán tiền). Sau đó, T5 và H1 cãi, chửi nhau với T3, K. Do bực tức, T3 dùng chân đạp T5. H1 và T5 chạy ra đường trước cửa quán K4, T3 đuổi theo dùng tay đấm hai cái vào đầu T5. H1 chạy ra xa khoảng 2 đến 3 mét, rồi lại chạy quay lại dùng tay đấm T3. Thấy T3 bị đánh, K xông vào dùng tay đấm T5. T5, H1, T3 và K lao vào dùng chân, tay không đấm đá nhau (không gây ra thương tích gì lớn chỉ xây sát nhẹ trên cơ thể). T1 và chị H4 chạy đến can ngăn thì T1 bị ngã xuống đường. Sau đó, H1 bỏ chạy về hướng phòng trọ của nhóm nhân viên hát tại thôn C, xã C, thị xã Q. T5 vẫn đang đánh nhau với T3 thì anh H3 chạy lại chỗ T5 can ngăn lôi T5 và K ra. Lợi dụng lúc này K đi đến dùng đầu gối thúc vào người T5 và cùng T3 dùng tay đấm vào đầu T5. Anh H3 lôi kéo T5 ra bờ mương và can ngăn T3 và K.
Sau đó T3, K và T5 không đánh nhau nữa. H4 lấy xe mô tô của T5 chở L5 và T5 về phòng trọ. Trên đường về, T5, H1, L5, H4 gặp anh Trần Đăng V1 đang đi bộ đến quán K4, trên tay anh V1 cầm 01 con đao bằng kim loại có đặc điểm, phần đầu gắn một con dao dài 37,5 cm, bản rộng 6,3 cm, chuôi dao dài 10,5 cm, phần chuôi dao được gắn với thanh kim loại màu trắng hình trụ tròn, đường kính 2,5 cm, dài 1 mét. H1 đi bộ phía sau anh V1. Sau đó, anh V1 bảo H4, L5 và T5 xuống xe, rồi bảo H1 ngồi sau, anh V1 cầm theo con đao đi xe mô tô chở H1 đến quán K4. Nhóm Tiến, H4, L5 thấy vậy chạy bộ đuổi theo. Khi đến cửa quán K4. Anh V1 nhìn thấy T3 thì hai tay cầm đao lao dơ lên cao lao chém về phía T3, lúc này T3 đứng đối diện cách anh V1 khoảng 2 mét, trên tay T3 không cầm đồ vật gì. Thấy anh V1 dơ đao lên chém. T3 lùi lại đưa tay trái lên đỡ, đưa chân phải lên đạp về phía anh V1 thì bị anh V1 chém một nhát trúng vào phần khuỷu tay trái của T3. Lúc này, chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1982, HKTT: thôn C, xã C, thị xã Q đứng ra can ngăn nhưng anh V1 đẩy chị N ra và tiếp tục lao vào chém T3. Ngay sau đó, anh V1 quay người vùng đao lên cao chém phát thứ hai, T3 tránh thì trúng vào phần bả vai phía sau của T3. T3 túm được phần thân đao, T3 và anh V1 giằng nhau con đao. Ngay khi nhìn thấy anh V1 cầm đao bằng kim loại đến và lao vào chém T3, T1 đang đứng gần vị trí của T3 và anh V1, T1 cầm 01 chiếc xe đạp trẻ em màu hồng tại đó bằng hai tay chạy đến gần anh V1 và T3 đang giằng co con đao. K từ cửa quán K4 đi ra nhìn thấy, T3, T1 và anh V1 đang rằng co đánh nhau. K chạy đến rút từ trong túi áo trước ngực đang mặc 01 con dao dạng dao gọt hoa quả, dài khoảng 23 cm, chuôi dao bằng gỗ lưỡi dao bằng kim loại, lưỡi vát, mũi dao nhọn, 01 lưỡi sắc, bản rộng lưỡi dao khoảng 02 cm, có vỏ dao bằng gỗ, chạy về phía anh V1 và T3. T1 và K khai mục đích T1 cầm xe đạp, K cầm dao chạy đến là để cứu giúp T3 trước hành vi của anh V1 có thể gây nguy hiểm đến tính mạng của T3 và cũng là để bảo về T1 và K. T3 giằng được con dao từ tay anh V1 (đã bị cong phần cán của thân đao), anh V1 ngã trong tư thế ngồi xuống đất. Ngay sau đó, anh V1 đứng dậy bỏ chạy được 1-2 bước thì T1 từ phía sau cầm xe đạp quăng về phía anh V1 nhưng không trúng. K chạy lên trước T3, T1 sát phía sau anh V1, K cầm dao bằng tay phải đâm liên tiếp hai nhát về phía anh V1 và vào vùng ngực, thắt lưng bên phải của anh V1, khi K đâm anh V1. T3 và T1 không biết. Bị đâm anh V1 bỏ chạy được 1-2 bước, thì K đuổi theo đâm liền hai nhát trúng vào vùng mông và đùi bên phải của anh V1. Lúc này anh H3 và anh D chạy từ cửa quán K4 đến can ngăn K, T1, T3 và anh V1 bỏ chạy bị ngã xuống mương nước. T1, T3, K đuổi đến bờ mương thì dừng lại. Thấy anh V1 ngã xuống mương, anh H3 nhảy xuống mương dìu anh V1. Anh Dũng thấy vậy đi sang bờ mương phía đối diện cùng anh H3 đưa anh V1 lên bờ. Việc anh V1 bị K đâm, anh H3, anh D, T3 và T1 không biết. Khi anh H3 lên bờ thì nhóm T1, T3, K, anh H3, anh D lên xe ô tô biển kiểm soát 14A-415.93 đi về. Anh H3 và D được Khánh đưa về quán ăn Tiến M1 và đi về nhà ngủ, còn K, T1 và T3 đi về Quảng Ninh. Trên đường về khi đến cầu Đ thì K vừa lái xe, vừa kéo kính vứt con dao đã đâm anh V1 xuống sông, đồng thời lúc này K mới nói với T1 và T3 là quá trình đánh nhau K đã dùng dao đâm anh V1. Sau đó, T3 về nhà tại M, Quảng Ninh; K đi đến cảng Khu T, Quảng Ninh còn T1 đến khách sạn T18, tại thành phố U, tỉnh Quảng Ninh để thuê phòng nghỉ. Đối với anh Trần Đăng V1 sau khi sự việc xảy ra, đã được anh Nguyễn Văn N1, sinh năm 1984, HKTT: thôn C, xã C, thị xã Q và anh Nguyễn Văn L4, sinh năm 1990, HKTT: thôn T, xã C, thị xã Q đưa anh V1 đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh B và tử vong.
Ngày 05/01/2024, khi biết anh V1 tử vong, T1, T3, K, H1 và T5 đến Cơ quan CSĐT (PC02) Công an tỉnh B đầu thú khai nhận về hành vi phạm tội của mình như nêu trên. Cùng ngày Vũ Thanh T3 giao nộp 01 xe ô tô biển kiểm soát 14A-415.93 và Tô Văn T5 giao nộp 01 xe mô tô màu trắng, xe không gắn biển số, không ghi nhãn hiệu, xe đã qua sử dụng.
*Kết quả khám nghiệm hiện trường:
- Hiện trường chung: Khu vực quán K4, thuộc địa phận thôn C, xã C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.
-Hiện trường cụ thể: Tại khu vực lòng đường trước cửa quán K4, tại làn đường bên trái phát hiện nhều dấu vết màu đỏ, dạng nhỏ giọt (vị trí số 1).Tại lối đi bằng đất dẫn từ khu vực đường xuống đồng C, phát hiện 01 thanh đao bằng kim loại dạng ống, hình trụ tròn, màu trắng sáng, rỗng bên trong, đường kính 2.5 cm, một đầu có gắn 01 con dao. Phần ống kim loại bị cong, gập. Trên con đao và ống kim loại có bám dính chất màu nâu đỏ (vị trí số 2). Trên mương nước giữa khu vực đường và cánh đồng tại hiện trường thu giữ 01 chiếc dép lê bên phải, màu xanh, quai dép có sọc kẻ ngang màu trắng (vị trí số 3).Tại bờ hướng Tây của mương nước phát hiện 01 chiếc mũ và phần đất xung quanh của chiếc mũ có chất màu nâu đỏ rải rác (vị trí số 4).Tại làn đường bên trái có một số dấu vết màu nâu đỏ, dạng nhỏ giọt (vị trí số 5). Tại vị trí tiếp giáp giữa đường và vỉa hè bên trái có 01 xe đạp trẻ em màu hồng (vị trí số 6). Tại chân cột đền trước cửa quán K4 phát hiện 01 vật hình hộp chữ nhật, màu đen, kích thước (14.2 x 2.8 x 1.5) cm, một đầu kín, một đầu có rãnh hổ, kích thước (2.5 x 0.4) cm, sâu 14 cm, bên cạnh có một số khăn giấy tình trạng vò nát, bề mặt dính chất màu nâu đỏ (vị trí số 7).
Thu giữ tại hiện trường gồm: Dấu vết màu nâu đỏ tại vị trí số (1) và số (5); T14 01 thanh kim loại dạng ống, hình trụ tròn, màu trắng sáng, rỗng bên trong, đường kính 2.5 cm, một đầu có gắn 01 con đao vị trí số (2); T14 01 xe đạp trẻ em màu hồng vị trí số (6) và thu giữ 01 vật hình hộp chữ nhật, màu đen, kích thước (14.2 x 2.8 x 1.5) cm, một đầu kín, một đầu có rãnh hở, kích thước (2.5 x 0.4) cm, sâu 14 cm và một số khăn giấy tình trạng vò nát, bề mặt dính chất màu nâu đỏ vị trí số (7); Thu giữ 01 xe mô tô Honda Blade màu xanh đen biển kiểm soát 99E1-568.33 tại hiện trường; Thu giữ dữ liệu điển tử tại 02 Camera an ninh của quán K4 vào USB sau đó tiến hành sao trích dữ liệu hai flle nén vào 01 đĩa DVD niêm phong theo quy định.
*Kết quả khám nghiệm tử thi:
Tử thi anh Trần Đăng V1, cao 1.62 mét, thể tạng bình thường, tình trạng tử thi xác mềm, da niêm mạc toàn thân nhợt nhạt. Tử thi không mặc áo, mặc quần lót màu đen. Thân quần phía sau bên phải cách đường chỉ may dọc phía ngoài thân quần sau, cách dải cạp quần 4 cm, có vết rách vải nằm chếch chéo, kích thước (4,5 x 0,5) cm, bờ mép gọn thân quần phái sau bên phải cách đường chỉ may dọc phía ngoài 3 cm cách dưới cạp quần 22,5 cm có vết rách vải nằm chếch chéo, kích thước (2,5 x 0,3) cm bờ mép gọn.
Các dấu vết, tổn thương trên cơ thể:
- Vùng gò má bên trái có diện xây sát da không liên tục, kích thước (3 x 1,5) cm;
- Vùng ngực phải theo đường lách giữa, cách đường giữa phía trước 18 cm; cách dưới hõm nách 5,5 cm có vết thương rách da nằm ngang, kích thước (3,2 x 1) cm, bờ mép gọn, khi khép miệng vết thương dài 3,5 cm;
- Vùng thắt lưng bên phải cách đường giữa 13 cm, trên mào chậu 4 cm, có vết thương rách da nằm chếch chéo, đầu bên phải ở phía dưới so với đầu bên trái, kích thước (2,5 x 1) cm, bờ mép gọn, khi khép miệng vết thương dài 2,3 cm; đầu bên phải có phần gấp khúc dài 0,6 cm;
- Vùng mông bên phải cách đường giữa 11,5 cm, mào chậu 13 cm, có vết thương rách da nằm chếch chéo, đầu bên phải nằm phía dưới so với đầu bên trái, bờ mép gọn, kích thước (9 x 3) cm, khi khép miệng vết thương dài 9,5 cm, chiều hướng từ sau ra trước và hơi chếch từ dưới lên trên;
- Mặt sau ngoài 1/3 trên đùi phải, có vết thương rách da nằm dọc, kích thước (2,3 x 1,5) cm, bờ mép gọn, khi khép miệng vết thương dài 2,4 cm, chiều hướng từ sau lùi ra trước, từ phải qua trái, hơi chếch từ dưới lên trên, chiều sâu 7,5 cm.
Giải phẫu tử thi:
- Giải phẫu vùng bụng: Tụ máu dưới da vùng ngực phải tương ứng với vết thương, kích thước (3 x 1) cm, khoang lồng ngực bên phải chứa nhiều máu, hai phổi xẹp, khoang lồng ngực trái khô, bề mặt phổi có nhiều mảng xuất huyết, vết thương vùng ngực phải đi qua khoang liên sườn 3, 4 bên phải, làm rách khoang liên sườn kích thước (4 x 1) cm, rách mặt ngoài thùy trên phổi phải, kích thước (2,4 x 0,5) cm, rách mặt trong thùy trên phổi phải kích thước (2 x 0,5) cm, vết thương chạm mặt ngoài cộng sống ngực phải vào vùng thân đốt sống D5, kích thước (1 x 0,2) cm, vết thương có chiều hướng từ phải sang trái hơi chếch từ trước ra sau và từ dưới lên trên. Vết thương vùng thắt lưng phải đi qua khoang liên sườn 10, 11 bên phải thấu vào khoang ổ bụng, làm rách mặt sau phúc mạc, kích thước (2, 2 x 0,5) cm, thấu vào mặt sau gan phải, kích thước (4 x 0,2) cm, chiều hướng từ phải sang trái, từ dưới lên trên, từ sau ra trước.
Giải phẫu vùng đầu: Không phát hiện tổn thương
Thu giữ mẫu máu, mẫu phủ tạng não, tim, gan, phổi, dịch dạ dầy, móng tay.
Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể Vũ Thanh T3 có những dấu vết cụ thể như sau: Vùng trán phải sát với đường giữa và sát gốc mũi có diện xây sát rách da nông và sưng nề, kích thước (2,5 x 2,5) cm; Vùng sống mũi cách dưới gốc mũi 2 cm có vết rách da nông, kích thước (0,5 x 0,4 ) cm; Vùng 1/3 ngoài nếp lằn khuỷu tay phải có diện bầm tụ máu, kích thước (3,5 x 3) cm. Mặt trước trong 1/3 trên cẳng tay trái có vết rách da nông nằm chếch chéo, kích thước (2,4 x 0,2) cm; Vết này nằm trên một đường vết hằn màu đỏ tím gần vuông góc, một cạnh, kích thước (6,5 x 0,1) cm, một cạnh, kích thước (5 x 0,1) cm, mở góc sang bên phải và lên trên xung quanh sưng nề diện (10 x 9) cm; Mặt sau trong khuỷu tay bên trái đến 1/3 dưới cánh tay có vết thương rách da nằm dọc, kích thước (11 x 0,2) cm đến 01 cm, chỗ sâu nhất 0,5 cm thuộc vùng khuỷu tay, vết rách da này có độ nông sâu không đều, thành và đáy vết thương tương đối phẳng, xung quanh sưng nề trên diện (13 x 8) cm; Mặt sau trong cổ tay trái tương ứng với đầu dưới xương trụ có diện bầm tụ máu, kích thước (4 x 3) cm, mặt sau đốt ngón 1 bàn tay trái có diện bầm tụ máu, kích thước (1,5 x 3) cm, mặt sau toàn bộ ngón 2 bàn tay trái bầm tụ máu trên diện (8 x 2) cm. Quá trình xem xét dấu vết có thu mẫu máu của Vũ Thanh T3, được niêm phong theo quy định.
Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể Đào Quang T1 có những dấu vết cụ thể như sau: Vùng hạ sườn bên trái cách đường giữa 11 cm cách dưới núm vú trái 9 cm có vết hằn và xây sát da màu đỏ tím nằm chếch chéo, kích thước (2, 2 x 0,2) cm. Quá trình xem xét dấu vết có thu mẫu máu của Đào Quang T1, được niêm phong theo quy định.
Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể Trịnh Duy K không phát hiện dấu vết tổn thương. Quá trình xem xét dấu vết có thu mẫu máu của Đào Quang T1, được niêm phong theo quy định.
Khám nghiệm phương tiện:
- Xe đạp trẻ em sơn mầu hồng đã qua sử dụng, dán decal ghi nhãn hiệu Avibus; xe dài 1,15 mét, cao 0,75 mét, khoảng cách giữa hai trục bánh xe là 0,75 mét; đầu xe gắn 01 rổ nhựa màu hồng; trên thân xe có nhiều vết xước, bong tróc sơn đã cũ; chắn bùn bánh trước bị lệch sang bên phải; mặt ngoài bên trái chắn bùn phía sau xe có vết cong vênh.
- Xe ô tô nhãn hiệu Ford Everest, màu trắng, biển kiểm soát 14A-415.93:
Mặt trước ngoài cánh trước cánh cửa xe bên phải có diện dấu vết bám dính chất mầu nâu đỏ, kích thước (37 x 5) cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 65 cm (vị trí số 1). Mặt ngoài tay nắm cửa này đến mặt ngoài vỏ thân xe bên phải có diện dấu vết trượt mất bụi và bám chất màu nâu, đen diện (50 x 20) cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 118 cm. Mặt trên vở thân xe bên phải tại vị trí bậc lên xuống ghế phụ có dấu vết màu nâu đỏ, đã khô, kích thước (10 x 7) cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 50 cm (vị trí số 2). Giong cao su cánh cửa trước bên phải đến mặt trước ngoài ghế phụ có diện dấu vết màu nâu đỏ, kích thước (6 x 13) cm, cách mặt đất 1 mét (vị trí số 3). Mặt trước và mặt ngoài hốc để đồ giữa hai ghế phía trước đến mặt trước ghế phụ có diện dấu vết mầu nâu đỏ, kích thước (20 x 15) cm (vị trí số 4). Mặt ngoài cánh cửa trước bên trái rải rác bám dính chất màu nâu đỏ, kích thước (90 x 25) cm (vị trí số 5). Quá trình khám nghiệm thu giữ các dấu vết mầu nâu đỏ tại các vị trí số 1, 2, 3, 4, 5.
Ngày 05/01/2024, Cơ quan CSĐT (PC02) Công an tỉnh B đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 35/QĐ-PC02 trưng cầu Phòng K5 Công an tỉnh B giám định: Nguyên nhân chết; cơ chế, chiều hướng hình thành dấu vết.
Tại kết luận giám định pháp y số 583/KL-KTHS ngày 23/02/2024 của Phòng K5 Công an tỉnh B kết luận:
Nguyên nhân chết của anh Trần Đăng V1, sinh năm 1998, HKTT: thôn T, xã C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh do vết thương thấu ngực, thấu bụng dẫn đến suy hô hấp, suy tuần hoàn cấp.
Cơ chế và chiều hướng hình thành vết thương:
- Vết bầm tụ máu vùng gò má phải do vật tày tác động gây nên.
- Vết thương vùng ngực phải do vật sắc nhọn gây nên; chiều hướng từ phải sang trái, hơi chếch từ trước ra sau và từ dưới lên trên.
- 03 vết thương gồm: Vùng thắt lưng phải, vùng mông phải và vùng đùi phải cùng là do vật sắt nhọn gây nên, chiều hướng từ phải sang trái, từ sau ra trước và từ dưới lên trên.
Ngày 06/01/2024, Cơ quan CSĐT (PC02) Công an tỉnh B đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 33/QĐ-PC02 trưng cầu Viện pháp y Q giám định: Độc chất trong mẫu máu, phủ tạng của nạn nhân Trần Đăng V1 gửi giám định có chất độc thường gặp không ? Nếu có là độc chất gì?.
Tại kết luận giám định độc chất số 70/90/24/KLGĐĐC-PYQG ngày 16/01/2024 của Viện pháp y Q1 kết luận:
Mẫu phủ tạng và máu:
- Có tìm thấy K3 và N3.
- - Không tìm thấy các chất độc khác.
Ngày 06/01/2024, Cơ quan CSĐT (PC02) Công an tỉnh B đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 34/QĐ-PC02 trưng cầu Viện pháp y Q giám định AND.
Dấu vết màu nâu đỏ, thu ở hiện trường tại vị trí số 01 (ký hiệu M1); Dấu vết màu nâu đỏ, thu ở hiện trường, tại vị trí số 05 (ký hiệu M2); 01 con dao bằng kim loại, dài 37,5 cm, bản rộng 6,3 cm, chuôi dao dài 10,5 cm, phần chuôi dao được gắn với thanh kim loại hình trụ tòn, đường kính 2,5 cm (ký hiệu M3); Móng tay của nạn nhân Trần Đăng V1, sinh năm 1998, HKTT: thôn T, xã C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh (ký hiệu M4).
Tại kết luận giám định ADN số 73/24/KLGÐADN-PYQG ngày 12/01/2024 của Viện pháp y Q1 kết luận:
- -Thử định tính phát hiện nhanh vết máu người trên mẫu gửi giám định ký hiệu M1, M2, M3 (lưỡi dao, chuôi dao gắn thanh kim loại), M4: Dương tính.
- - AND thu từ mẫu gửi giám định ký hiệu M1, M2, M3 (lưỡi dao, chuôi dao gắn phần kim loại) trung khớp hoàn toàn với AND của Vũ Thanh T3 (mẫu ký hiệu so sánh N3), không trùng khớp với AND của Trần Đăng V1 (mẫu ký hiệu N1), Trịnh Duy K (mẫu ký hiệu N2) và Đào Quang T1 (mẫu ký hiệu N4) trên các locus STR đã so sánh.
- - AND thu từ mẫu gửi giám định ký hiệu M4 trùng khớp hoàn toàn với AND của Trần Đăng V1 (mẫu ký hiệu N1), trùng khớp với AND của Trịnh Duy K (mẫu ký hiệu N2), Vũ Thanh T3 (mẫu ký hiệu N3) và Đào Quang T1 (mẫu ký hiệu N4) trên các locus STR đã so sánh. H5 lại mẫu tồn dư sau giám định theo Biên bản niêm phong và hoàn lại mẫu sau giám định.
Ngày 06/01/2024, Cơ quan CSĐT (PC02) Công an tỉnh B đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 36/QĐ-PC02 trưng cầu Viện pháp y Q giám định: Mô bệnh học (Mẫu não, tim, gan, phổi của nạn nhân Trần Đăng V1).
Tại kết luận giám định mô bệnh học số 16/24/KLMBH-VPYQG ngày 24/01/2024 của Viện pháp y Q1 kết luận: Não phù, sung huyết; Tim phù, sung huyết; Phổi sung huyết. lòng phế nang rải rác chứa ít hồng cầu thoát quản; Gan sung huyết.
Ngày 09/01/2024, Cơ quan CSĐT (PC02) Công an tỉnh B đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 49/QĐ-PC02 trưng cầu Phòng K5 Công an tỉnh B giám định: Dấu vết sinh học, thu giữ trên xe ô tô biển kiểm soát 14A-415.93 ở vị trí số 1, 2,,3,4,5.
Tại kết luận giám định số 418/KL-KTHS ngày 19/01/2024 của Phòng K5 Công an tỉnh B kết luận:
- - Nhóm máu của Trần Đăng V1 là nhóm O.
- - Nhóm máu của Vũ Thanh T3 là nhóm O.
- - Chất màu nâu đỏ thu trên xe ô tô BKS 14A-415.93 tại vị trí số 01 là máu người, nhóm O, cùng với nhóm máu của Trần Đăng V1 và Vũ Thanh T3.
- - Chất màu nâu đỏ thu trên xe ô tô BKS 14A-415.93 tại vị trí số 02 là máu người, nhóm O, cùng với nhóm máu của Trần Đăng V1 và Vũ Thanh T3.
- - Chất màu nâu đỏ thu trên xe ô tô BKS 14A-415.93 tại vị trí số 03 là máu người, nhóm O, cùng với nhóm máu của Trần Đăng V1 và Vũ Thanh T3.
- - Chất màu nâu đỏ thu trên xe ô tô BKS 14A-415.93 tại vị trí số 04 là máu người, nhóm O, cùng với nhóm máu của Trần Đăng V1 và Vũ Thanh T3.
- - Chất màu nâu đỏ thu trên xe ô tô BKS 14A-415.93 tại vị trí số 05 là máu người, nhóm O, cùng với nhóm máu của Trần Đăng V1 và Vũ Thanh T3.
M2 đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Ngày 31/01/2024, Cơ quan CSĐT (PC02) Công an tỉnh B đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 211/QĐ-PC02 trưng cầu Phòng K5 Công an tỉnh B giám định: Dữ liệu điện tử.
Tại kết luận giám định số 512/KL-KTHS ngày 01/02/2024 của Phòng K5 Công an tỉnh B kết luận:
- - 02 (hai) file video gửi giám định không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa, biên tập.
- - Đã trích xuất bản ảnh hình vi đối tượng liên quan đến vụ việc từ các file video gửi giám định (chi tiết gồm 02 (hai) bản ảnh kèm theo Kết luận giám định).
- - Không tiến hành dịch nội dung liên quan đến vụ việc thành văn bản do 02 (hai) file video gửi giám định không có âm thanh.
H5 lại toàn bộ đối tượng đã gửi giám định cho Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC02) Công an tỉnh B.
Ngày 26/3/2024, Cơ quan CSĐT (PC02) Công an tỉnh B có Công văn số 1097/PC02 gửi Phòng K5 Công an tỉnh B hỏi V/v xác định cơ chế hình thành dấu vết
Ngày 12/4/2024, Phòng K5 Công an tỉnh B có Công văn số 992/CV-PC09 trả lời như sau:
- Trường hợp anh V1 ngã trong tư thế vùng gò má bên trái tiếp xúc với mặt nền bờ taluy tại hiện trường thì có thể gây ra vết sây sát da vùng gò má trái của tư thi Trần Đăng V1 như trong biên bản khám nghiệm tử thi mô tả.
- Trường hợp dùng dao có đặc điểm (lưỡi đao bằng kim loại, một lưỡi sắc, có mũi nhọn, có bản rộng lưỡi đao nhỏ hơn 2,3 cm, chiều dài lưỡi đao lớn hơn 7,5 cm, lưỡi đao có độ cứng) để tác động lên cơ thể Trần Đăng V1 với lực tác động đủ lớn và tư thế phù hợp có thể tạo ra 04 vết thương rách da như mô tả tại biên bản khám nghiệm tử thi anh V1. Với con dao bị can Trịnh Duy K khai do không thu được nên không đánh giá được có thể gây ra được các vết thương nêu trên hay không.
- Con đao Trần Đăng V1 sử dụng có đặc điểm nêu trên gửi kèm theo công văn này dùng để tác động lên cơ thế Vũ Thanh T3 với lực tác động đủ lớn và tư thế phù hợp có thể tạo ra 02 vết thương trên cơ thể anh T3 như mô tả trong công văn số 1097/PC02.
Ngày 26/3/2024, Cơ quan CSĐT (PC02) Công an tỉnh B đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 594/QĐ-CSHS trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh B giám định: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra đối với Vũ Thanh T3.
Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 46/KLTTCT-TTPY ngày 29/3/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh B kết luận:
- - Thương tích 1/3 dưới cánh tay trái đến mỏm khuỷu trái, kích thước 8,2 cm x 0,6 cm, bờ mép gọn, đã liền sẹo. Áp dụng chương 8 tỷ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương phần mềm. Mục I.3.sẹo lớn =3%.
- - Thương tích 1/3 trên-giữa-sau cẳng tay trái, diện tổn thương kích thước 4,6 cm x 0,4 cm, biến đổi rối loạn sắc tố da. Áp dụng chương 8 tỷ lệ % tổn thương cơ thể do tổn thương phần mềm. Mục V.=0,75%.
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Vũ Thanh T3 tại thời điểm giám định là 4%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư
Ngày 04/3/2024, Cơ quan CSĐT (PC02) Công an tỉnh B đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 378/QĐ-CSHS trưng cầu Phòng K5 Công an tỉnh B giám định: Số khung, số máy trên 01 xe mô tô màu trắng, không biến kiểm soát, không rõ nhãn hiệu; 01 xe mô tô nhãn hiệu Blade, biển kiểm soát 99E1-568.33 và 01 xe ô tô nhãn hiệu Ford Everest, màu trắng, biển kiểm soát 14A-415.93
Tại kết luận giám định số 648/KL-KTHS ngày 07/3/2024 của Phòng K5 Công an tỉnh B kết luận:
- Số máy, số khung của chiếc xe mô tô màu trắng, không gắn biển kiểm soát, không rõ nhãn hiệu gửi giám định không bị tẩy xóa, không bị đóng đục lại; Hàng chữ số đóng trên thân máy 16S2-030556 và hàng chữ số đóng trên khung xe RLCS16S208Y030552 là nguyên thủy.
- Số máy, số khung của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Blade, biển kiểm soát 99E1-568.33 gửi giám định không bị tẩy xóa, không bị đóng đục lại; Hàng chữ số đóng trên thân máy JA36E-0892871 và hàng chữ số đóng trên khung xe RLHJA3658LY021769 là nguyên thủy.
- Số máy, số khung của chiếc xe ô tô nhãn hiệu Ford Everest, màu trắng biển kiểm soát 14A-415.93 gửi giám định không bị tẩy xóa, không bị đóng đục lại; Hàng chữ số đóng trên thân máy YNWQAY11288 và hàng chữ số đóng trên khung xe MNCAXXMAWAKY11288 là nguyên thủy.
Về vật chứng thu giữ và xử lý:
Đối với 01 chiếc xe mô tô màu trắng, không gắn biển kiểm soát, số máy 16S2-030556 và số khung RLCS16S208Y030552, biển kiểm soát 99L5-3165 tên chủ xe là Trường Văn T15, sinh năm 1977, HKTT: Khu A, phường Đ, thành phố B do không có nhu cầu sử dụng anh đã bán cho một người không quen biết. Quá trình điều tra Tô Văn T5 khai nhận xe mô tô này là của ông Tô Ngọc T6 (bố của T5 mua), sau khi bố mất T5 sử dụng chiếc xe này liên quan đến hành vi phạm tội. Tra cứu xe không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng.
Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Blade, biển kiểm soát 99E1-568.33 số máy JA36E-0892871 số khung RLHJA3658LY021769. Quá trình điều tra xác định xe của anh Trần Anh D1, sinh năm 1982, HKTT: T, phường C, thị xã Q đến quán K4 hát để ở trước cửa quán, không liên quan đến hành vi phạm tội. Tra cứu xe không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng.
Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu Ford Everest, màu trắng biển kiểm soát 14A-415.93 số máy YNWQAY11288, số khung MNCAXXMAWAKY11288 tên chủ xe là Vũ Thanh T3, sinh năm 1982, HKTT: Tổ B, T, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình điều tra xác định ngày 25/12/2023, T3 đã bán xe ô tô này cho anh Vũ Hoàng T11, sinh năm 1980, HKTT: V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, do là bạn bè chơi thân với nhau nên anh T11 cho T3 mượn và sử dụng, không liên quan đến hành vi phạm tội. Tra cứu xe không có trong cơ sở dữ liệu xe ô tô vật chứng.
Ngày 27/3/2024, Cơ quan CSĐT (PC02) Công an tỉnh B đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 602/QĐ-CSHS trả lại: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Blade, biển kiểm soát 99E1-568.33 và 01 xe ô tô nhãn hiệu Ford Everest, màu trắng biển kiểm soát 14A-415.93 cho chủ sở hữu. Ngày 28/3/2024, anh Võ Hoàng T16 và anh Trần Anh D1 đã nhận lại tài sản.
Đối với 02 (hai) file nén vào 01 đĩa DVD lưu giữ sự việc xảy ra ngày 04/01/2024 tại hiện trường; 05 DVD ghi hình hỏi cung các bị can T5, K, H1, T1 và T3 được niêm phong theo quy định lưu trong hồ sơ vụ án.
Đối với: 01 con đao bằng kim loại, dài 37,5 cm, bản rộng 6,3 cm, chuôi đao dài 10,5 cm, phần chuôi dao được gắn với thanh kim loại hình trụ tròn, đường kính 2,5 cm dài 1 mét ; 01 chiếc xe mô tô màu trắng, không gắn biển kiểm soát, số máy 16S2-030556 và số khung RLCS16S208Y030552; 01 xe đạp trẻ em màu hồng; 01 vật hình hộp chữ nhật, màu đen, kích thước (14.2 x 2.8 x 1.5) cm, một đầu kín, một đầu có rãnh hở, kích thước (2.5 x 0.4) cm, sâu 14 cm và một số khăn giấy tình trạng vò nát, bề mặt dính chất màu nâu đỏ chuyển Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh để chờ xử lý.
Đối với: 01 con dao dạng dao gọt hoa quả, dài khoảng 23 cm, chuôi dao bằng gỗ lưỡi dao bằng kim loại, lưỡi vát, mũi dao nhọn, 01 lưỡi sắc, bản rộng lưỡi dao khoảng 02 cm mà Trịnh Duy K dùng để đâm anh Trần Đăng V1 đã vứt xuống sông khu vực cầu Đ thuộc xã N, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Ngày 12/01/2024, Cơ quan CSĐT (PC02) Công an tỉnh B đã dẫn giải bị can K chỉ địa điểm và truy tìm vật chứng, đến nay chưa thu hồi được.
Ngày 05/01/2024, ngày 01/02/2024, Cơ quan CSĐT (PC02) Công an tỉnh B đã tổ chức trích xuất cho người làm chứng anh Nguyễn Quốc H3, các bị can Vũ Thanh T3, Trịnh Duy K, Đào Quang T1, Tô Văn T5 và Trần Duy H1 xem lại video hình ảnh từ Camera thu giữ tại hiện trường xác định vị trí, hành động xảy ra sự việc phạm tội từ 23 giờ 09 phút 29 giây đến 23 giờ 14 phút 48 giây ngày 04/01/2024. Và khi anh V1 cầm gậy kim loại gắn dao đi đến hiện trường cho đến lúc kết thúc sự việc anh V1 bị đâm và ngã xuống mương xảy ra từ 23 giờ 15 phút 48 giây và kết thúc 23 giờ 16 phút 11 giây và ngày 27/3/2024, Cơ quan CSĐT (PC02) Công an tỉnh B tiến hành thực nghiệm điều tra hành vi giết người của Trịnh Duy K, kết quả bị can K đã thực hiện đúng với hành vi phạm tội xảy ra ngày 04/01/2024.
Về trách nhiệm dân sự:
Sau khi sự việc xảy ra, Trịnh Duy K, Đào Quang T1 và Vũ Thanh T3 đã tác động gia đình do chị Nguyễn Thị L2, sinh năm 1983 (là vợ bị can T3), chị Phạm Thị M, sinh năm 1991 (là vợ bị can T1) và bà Đào Bích L (là mẹ của bị can K) đã tự nguyện bồi thường số tiền 900.000.000 đồng cho gia đình anh Trần Đăng V1 do ông Trần Đăng T9, sinh năm 1977 (là bố anh V1 đại diện) đã nhận đủ số tiền trên, đồng thời gia đình anh V1 có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị can K, T1 và T3.
Đối với thương tích 4% của bị can Vũ Thanh T3 do anh Trần Đăng V1 gây ra do anh V1 đã chết, bị can T3 không có yêu cầu, đề nghị gia đình anh V1 bồi thường tổn hại sức khỏe đối với những thương tích do anh V1 gây ra.
Quá trình điều tra các bị can Trịnh Duy K, Vũ Thanh T3, Đào Quang T1, Tô Văn T5 và Trần Duy H1 đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.
Với nội dung trên, Cáo trạng số 67/CT-VKSBN-P2 ngày 06/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố Trịnh Duy K về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự; Vũ Thanh T3, Đào Quang T1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự; Tô Văn T5, Trần Duy H1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng đã truy tố.
Bị cáo K khai khi đang từ trên sảnh quán Karaoke bước xuống đường thì nhìn thấy anh V1 cầm dao có cán dài đến chém anh T3 nên bị cáo chạy đến để đánh lại anh V1 nhằm bảo vệ cho anh T3. Trong lúc hỗn loạn bị cáo rút dao có sẵn trong người đâm anh V1. Sự việc xảy ra quá nhanh, bị cáo không nhận thức được gì. Khi đâm, bị cáo không hô hào gì, bị cáo chỉ nghĩ anh V1 bị thương. Trên đường chở anh T1 và anh T3 về Quảng Ninh thì bị cáo mới nói cho anh T1 và anh T3 biết bị cáo đâm anh V1. Lúc đâm thì anh T1 và anh T3 không biết và cũng không hô hoán gì. Bị cáo không nghĩ vết thương nguy hiểm làm anh V1 chết sau đó. Bị cáo rất ân hận và ăn năn với hành vi của mình, bị cáo xin lỗi gia đình anh V1 và mong Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét khoan hồng cho bị cáo.
Bị cáo T1 và T3 khai có sự việc xung đột với nhóm người của L5 trước đó, nhưng không gây bị thương gì cho ai, không ai dùng hung khí. Khi được mọi người can ngăn thì tất cả đều đã giải tán, ra về. Việc anh V1 cầm dao có cán dài đến chém các bị cáo rất bất ngờ và không kịp nhận thức gì. T3 khai khi giật được dao từ thay anh V1 thì bị cáo đuổi theo nhưng không chém, không hô hoán gì. T1 khai có cầm chiếc xe đạp trẻ em đập về phía anh V1 để ngăn anh V1 không chém T3 nhưng chỉ đập xuống đường, T1 cũng không hô hoán gì. T3 và T1 đều khai không biết việc K đâm anh V1, chỉ khi trên đường về Quảng Ninh thì K nói đã đâm anh V1 lúc đó T1 và T3 mới biết. T1 và T3 bồi thường cho anh V1 vì nhận thấy việc gây rối trật tự công cộng của mình cũng có phần liên quan đến việc K giết anh V1.
Bị cáo T5 và H1 khai sự việc đúng như Cáo trạng truy tố và lời khai của các bị cáo K, T1 và T3. Do biết sự việc nhóm K, T1, T3 có hành vi xúc phạm L5 nên T5 và H1 có đến gặp để hỏi rõ sự việc. Sau đó các bị cáo có xung đột và đấm đá lẫn nhau. Không ai dùng hung khí gì. Khi được can ngăn thì mọi người đều ra về. Trên đường về thì gặp anh V1 cầm dao có gán cán sắt đến để đánh nhóm của K, T3, T1. Các bị cáo T5 và H1 không tham gia đánh nhau. Các bị cáo không nhìn thấy K đâm anh V1. Khi kéo anh V1 từ mương nước lên thì mới biết anh V1 bị đâm.
Đại diện hợp pháp của bị hại bà Nguyễn Thị O1 trình bày, sau khi biết V1 chết, gia đình các bị cáo K, T1, T3 đến thăm hỏi và bồi thường cho gia đình 900.000.000 đồng. Gia đình đã nhận đủ và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Về trách nhiệm hình sự, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Chị L (vợ bị cáo T3), chị M (vợ bị cáo T1), bà Đào Bích L (mẹ bị cáo K) trình bày sau khi biết sự việc làm anh V1 chết nên các chị đã thay mặt các bị cáo đến thăm hỏi, chia buồn và bồi thường cho gia đình bị hại. Bà Đào Bích L bồi thường cho gia đình bị hại 700.000.000 đồng; chị M bồi thường 100.000.000 đồng; chị L bồi thường 100.000.000 đồng. Số tiền này các chị không yêu cầu các bị cáo hoàn lại. Các chị đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Bà Đào Bích L (mẹ bị cáo K) trình bày, bị cáo phạm tội do bồng bột, hoàn cảnh rất có khăn, có 03 con nhỏ, trong đó có nhỏ nhất chỉ mới 03 tháng tuổi; vợ bị cáo không có công ăn việc làm. Bà đề nghị HĐXX xem xét cho bị K được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, cho bị cáo mức án thấp nhất bị cáo để yên tâm cải tạo sớm trở về với gia đình và xã hội.
Chị Hoàng Thị T10 trình bày có sự việc xảy ra tại quán Karaoke của chị tuy nhiên không gây thiệt hại gì nên chị không có yêu cầu. Đối với chiếc xe đạp trẻ em là của chị nhưng đã hỏng, không có giá trị sử dụng nên chị không yêu cầu trả lại.
Anh Vũ Hoàng T11 trình bày chiếc xe ô tô nhãn hiệu Ford mang BKS là anh mua của T3. Sau đó T3 mượn lại để đi Bắc Ninh, là chỗ bạn bè nên anh đã cho T3 mượn, anh không biết việc đánh nhau. Đến nay, chiếc xe đã được CQĐT trả lại cho anh, anh không có yêu cầu gì.
Anh Trần Danh D trình bày chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade BKS 99E1-568.33 là của anh. Anh không tham gia vào việc đánh nhau, chiếc xe này không liên quan đến vụ án và anh đã được CQĐT trả lại chiếc xe trên. Anh không có yêu cầu gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh (VKS) thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội giữ nguyên Cáo trạng truy tố. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị HĐXX tuyên bố Trịnh Duy K phạm tội “Giết người”; Vũ Thanh T3, Đào Quang T1, Tô Văn T5, Trần Duy H1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự (BLHS), xử phạt Trịnh Duy K từ 09 năm đến 10 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 06/01/2024.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 BLHS, xử phạt Đào Quang T1 và Vũ Thanh T3 mỗi bị cáo từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Tô Văn T5, Trần Duy H1 mỗi bị cáo từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
* Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Đề nghị tịch thu tiêu hủy những tài sản liên quan đến hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng, gồm: 01 vật hình hộp chữ nhật, màu đen, kích thước (14.2 x 2.8 x 1.5) cm, một đầu kín, một đầu có rãnh hở, kích thước (2.5 x 0.4) cm, sâu 14 cm; một số khăn giấy tình trạng vò nát có bám dính chất màu nâu đỏ; 01 con dao có đặc điểm: Dao bằng kim loại, dài 37.5 cm, bản dao rộng 6.3cm. chuôi dao dài 10.5cm, phần chuôi dao giằng với thanh kim loại hình trụ tròn, đường kính 2.5cm, dài 1m; 01 chiếc xe đạp mini (loại của trẻ em) màu hồng.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước của bị cáo Tô Văn T5 01 xe máy không gắn biển số; loại xe: Hai bánh từ 50-173cm3, nhãn hiệu YAMAHA; số loại: TAURUS do dùng vào việc phạm tội.
Các bị cáo không tranh luận gì, chỉ đề nghị HĐXX xem xét cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất. Các bị cáo T3, T1, H1, Tiền đề nghị HĐXX xem xét cho được hưởng án treo. Các bị cáo hứa sẽ chấp hành nghiêm pháp luật và không tái phạm.
Đại diện hợp pháp của bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận gì.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo K xin lỗi gia đình bị hại. Chỉ vì một phút nông nỗi mà đã giết chết anh V1. Bị cáo rất ân hận. Bị cáo mong gia đình bị hại tha thứ và mong HĐXX cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật để sớm trở về với gia đình và xã hội. Các bị cáo T5, H1, T3, T1 xin HĐXX cho hưởng chính sách khoan hồng của pháp luật. Bị cáo T3, T1 xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo K vì hoàn cảnh của K rất khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng: Hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh: Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố là đúng. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ tại quán K4 thuộc địa phận thôn C, xã C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, khoảng 23 giờ ngày 04/01/2024 nhóm Trịnh Duy K, Vũ Thanh T3 và nhóm Tô Văn T5 Duy H1 đã có hành vi chửi bới sau đó dùng chân tay đánh nhau. Hành vi các bị cáo không không gây thương tích và không gây thiệt hại gì về tài sản nhưng gây mất trật tự trong khoảng 05 phút trước của quán K4. Khi được mọi người can ngăn, các đối tượng giải tán, ra về thì Trần Đăng V1 thuộc nhóm của T5, H1 đã cầm 01 con đao bằng kim loại, dài 37,5 cm, bản rộng 6,3 cm, chuôi dao dài 10,5 cm, phần chuôi dao được gắn với thanh kim loại màu trắng hình trụ tròn, đường kính 2,5 cm dài 1 mét đến trước quán K4 để đánh nhóm T1, T3, K. Tại đây, V1 đã dùng dao chém 02 nhát về phía T3 làm T3 bị thương tích ở bàn tay và vai, tỉ lệ thương tật 04%. Khi T3 đang giằng co con dao với V1 thì T1 cầm chiếc xe đạp trẻ em ở gần đó ném về phía V1 để ngăn V1 chém T3 nhưng không trúng. Lúc này, K đang đứng trên sảnh quán Karaoke thấy V1 cầm dao chém T3 thì chạy xuống đánh V1 để cứu T3. K lấy 01 con dao loại gọt hoa quả có sẵn trong người đâm hai nhát vào ngực và hông V1. Khi V1 quay người chạy thì K đâm tiếp 02 nhát vào đùi và mông V1. V1 được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện và tử vong sau đó.
- HĐXX xét thấy chỉ vì mâu thuẫn nhỏ xảy ra trước đó mà K có hành vi dùng dao đâm V1 dẫn đến tử vong. Khi K đâm V1 thì T3 đang giằng co với V1, lúc đó, V1 không có khả năng chém T3 nữa. Do đó, hành vi của K thuộc trường hợp giết người với tình tiết định khung “có tính chất côn đồ” theo điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS như Cáo trạng của VKS là có căn cứ.
- Về xác định đồng phạm trong tội Giết người: HĐXX xét thấy, theo camera ghi được tại hiện trường thì thời gian từ khi V1 đến đánh nhau đến khi kết thúc chỉ diễn ra rất nhanh, chỉ trong 12 giây. Khi V1 đang giằng co với T3 thì K bất ngờ chạy từ trên sảnh quán Karaoke đến đâm V1. Căn cứ vào lời khai và diễn biến hiện trường, có căn cứ xác định T3 và T1 không biết K đâm V1. T1, T3 không có hành vi hô hoán gì. Khi giật được dao từ V1 nhưng T3 chỉ giơ lên mà không chém V1. Hành vi K đâm V1 tử vong là nằm ngoài ý chí chủ quan của T3, T1. Sau khi bị đâm thì V1 chạy xuống mương nước, được mọi người kéo lên. Lúc đó, T3, T1 cũng chưa biết K dùng dao đâm V1. Khi trên đường về Quảng Ninh thì K mới nói cho T3, T1 biết việc mình đã đâm V1 thì T3 với T1 mới biết. Do vậy, CQĐT không truy cứu T1, T3 đồng phạm tội Giết người là phù hợp.
- Đối với H1 và T5 có hành vi chửi bới và đánh nhau bằng chân tay tại nơi công cộng; không sử dụng hung khí nên cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 BLHS. T3 giật được con dao từ V1 sau đó đuổi theo nhưng không chém V1; T1 lấy chiếc xe đạp trẻ em bên đường ném về phía Việt nhưng không trúng, do đó, T3 và T1 cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 2 Điều 318 BLHS với tình tiết định khung tăng nặng “Sử dụng hung khí” như Cáo trạng của VKS là có căn cứ.
- Xét vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, HĐXX thấy:
- Về vai trò: Các bị cáo không có bàn bạc, tổ chức, thống nhất thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của các bị cáo chỉ do bột phát, xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ trong quá trình hát tại quán K4. Do đó, các bị cáo chịu trách nhiệm độc lập đối với hành vi phạm tội của mình.
- Các bị cáo đều có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 BLHS.
- Về tình tiết giảm nhẹ:
- Đối với bị cáo Trịnh Duy K: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải. Sau khi phạm tội bị cáo đã tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại 700.000.000 đồng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo được gia đình bị hại làm Đơn xin giảm nhẹ hình phạt; sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú; bị cáo có có ông nội được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất và H6 hiện 60 năm tuổi Đảng; gia đình bị cáo khó khăn: vợ không có việc làm, bị cáo có 03 con nhỏ, trong đó, có con với hơn 03 tháng tuổi nên bị cáo K được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
- Đối với các bị cáo T5 và H1 quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 BLHS. Sau khi phạm tội, các bị cáo bị cáo đã ra đầu thú nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
- Đối với các bị cáo T1 và T3 quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Sau khi phạm tội, T1 và T3 ra đầu thú. Bị cáo T3 có ông ngoại là Liệt sỹ. Bị cáo T1 có bố được tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng Nhì, mẹ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng Ba, do đó, các bị cáo T1 và T3 được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 BLHS. Sau khi biết anh V1 bị chết, các bị cáo T1 và T3 đã tác động gia đình bồi thường khắc phục thiệt hại một phần cho gia đình anh V1 mỗi bị cáo 100.000.000 đồng và được gia đình anh V1 làm Đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Do T1 và T3 bị xét xử về tội Gây rối trật tự công cộng nên không có căn cứ để áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS. Tuy nhiên, xét thấy hành vi K giết anh V1 cũng một phần xuất phát từ xung đột ban đầu giữa V1 với T1 và T3. Việc T3 và T1 tác động gia đình bồi thường khắc phục thiệt hại cho gia đình anh Việt thể thể hiện các bị cáo đã nhận thức được một phần trách nhiệm của mình và cũng thể hiện các bị cáo đã tự ý thức chấp hành pháp luật nên HĐXX xem xét cho T1, T3 được tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS là phù hợp.
- Về hình phạt: Xét thấy, hành vi của K là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội nên cần buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ dài để giáo dục, cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên, xét thấy K có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51 BLHS và nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Hành vi phạm tội của K một phần xuất phát từ hành vi trái pháp luật của bị hại do đó HĐXX xét thấy có căn cứ đề áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS cho bị cáo K được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt nhưng trong khung hình phạt liền kề để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật nhưng cũng đủ nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
- Đối với bị cáo T5 và H1, HĐXX thấy các bị cáo đều có nhân thân tốt; lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú rõ ràng. Xét thấy bị cáo T5 và H1 đủ điều kiện được hưởng án treo theo Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về án treo nên có thể cho các bị cáo cải tạo tại địa phương mà không cần bắt phải chấp hành hình phạt tù cũng đủ nghiêm để răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
- Đối với bị cáo T3 và T1, HĐXX xét thấy hành vi sử dụng hung khí của T3 xuất phát từ việc giật lại con dao của V1. Khi giật được con dao từ V thì T3 cũng chỉ giơ lên mà không chém V1. Hành vi dùng chiếc xe đạp trẻ em của T1 cũng mục đích để can ngăn khi thấy V1 đang dùng dao chém T3. Các bị cáo T3 và T1 đều có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Các bị cáo đều là lao động chính trong gia đình, có con còn nhỏ; có nơi cư trú rõ ràng. Xét thấy không cần phải buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo được cải tại tại địa phương theo Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về án treo để hiện sự khoan hồng của pháp luật nhưng cũng đủ nghiêm để răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
- Về trách nhiệm dân sự: Do người đại diện hợp pháp của bị hại Trần Đăng V1 không có yêu cầu nên HĐXX không giải quyết.
- Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy những tài sản liên quan đến hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng, gồm: 01 vật hình hộp chữ nhật, màu đen, kích thước (14.2 x 2.8 x 1.5) cm, một đầu kín, một đầu có rãnh hở, kích thước (2.5 x 0.4) cm, sâu 14 cm; một số khăn giấy tình trạng vò nát có bám dính chất màu nâu đỏ; 01 con dao có đặc điểm bằng kim loại, dài 37.5 cm, bản dao rộng 6.3cm, chuôi dao dài 10.5cm, phần chuôi dao giằng với thanh kim loại hình trụ tròn, đường kính 2.5cm, dài 1m; 01 chiếc xe đạp mini (loại của trẻ em) màu hồng do không còn giá trị và chị T10 không xin nhận lại.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe mô tô màu trắng, không gắn biển số, số máy 16S2-030556 và số khung RLCS16S208Y030552, nhãn hiệu YAMAHA của Tô Văn T5 liên quan đến hành vi phạm tội.
- Vấn đề liên quan trong vụ án:
- Đối với Trần Đăng V1, ngay khi đến cửa quán K4, V1 cầm dao gắn gậy kim loại bằng kim loại là hung khí nguy hiểm, lao vào chém bị cáo T3 nhiều nhát, gây ra thương tích tổn hại 4% sức khỏe đối với T3. Do V1 đã chết nên Cơ quan CSĐT không đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với anh V1 là đúng pháp luật.
- Đối với bị cáo T3, K đánh nhau với T5 và H1, hai bên có bị xây sát da nhưng không có thương tích gì nghiêm trọng. Các đối tượng không có đề nghị và yêu cầu gì.
- Đối với Lò Khánh L5 là nhân viên hát của anh Trần Đăng V1 quản lý, sau khi mâu thuẫn với anh Nguyễn Quốc H3, rời khỏi phòng hát và nhắn tin trên ứng dụng Messenger nội dung “Các anh đến đón em, em bị khách đánh”. Khi T5 và H1 đến thì L5 không có lời nói hành động gì, nội dung tin nhắn sau đó L5 đã xóa. Vì vậy Cơ quan CSĐT (PC02) Công an tỉnh B không xem xét xử lý là phù hợp.
- Đối với chị Hoàng Thị T10 là chủ quán K4, quá trình hoạt động của quán Karaoke có dấu hiệu vi phạm hành chính về thời gian hoạt động. Cơ quan CSĐT (PC02) Công an tỉnh B đã ra Công văn số 1692/PC02 gửi Công an thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh xác minh, kiểm tra và xử lý đối với chị T10 về hoạt động của quán Karaoke Bảo A theo quy định của pháp luật.
- Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Ford Everest, BKS 14A-415.93, quá trình điều tra xác định T3 đã bán cho anh Vũ Hoàng T11, sau đó T3 có mượn lại của anh T11 để đi Bắc Ninh. Anh T11 không biết việc T3 đánh nhau, do đó, CQCSĐT đã trả lại cho anh T11 là có căn cứ.
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu AirBlade, BKS 99E1-568.33 của anh Trần Anh D1, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên không liên quan đến vụ án nên C đã trả lại cho anh D1 là có căn cứ.
- Đối với anh Nguyễn Quốc H3 có mặt tại hiện trường khi các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội gây rối trật tự công cộng và giết người. Bản thân anh H3 chỉ là người can ngăn các bị cáo. Vì vậy Cơ quan CSĐT (PC02) Công an tỉnh B không đề cập xử lý là phù hợp.
- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Trịnh Duy K phạm tội “Giết người”; các bị cáo Đào Quang T1, Vũ Thanh T3, Tô Văn T5, Trần Duy H1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
-
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trịnh Duy K 09 (Chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 06/01/2024.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Quyết định tạm bị cáo Trịnh Duy K 54 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 08/8/2024 để đảm bảo thi hành án.
-
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 BLHS, xử phạt:
-
Đào Quang T1 24 (Hai mươi tư) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 08/8/2024.
Giao bị cáo Đào Quang T1 cho UBND phường B, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
-
Vũ Thanh Tùng 2 (Hai mươi tư) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 08/8/2024.
Giao bị cáo Vũ Thanh T3 cho UBND phường U, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
-
Đào Quang T1 24 (Hai mươi tư) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 08/8/2024.
-
Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt:
-
Tô Văn Tiến 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 08/8/2024.
Giao bị cáo Tô Văn T5 cho UBND xã C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
-
Trần Duy H1 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 08/8/2024.
Giao bị cáo Trần Duy H1 cho UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
-
Tô Văn Tiến 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 08/8/2024.
-
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy những tài sản liên quan đến hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng, gồm: 01 vật hình hộp chữ nhật, màu đen, kích thước (14.2 x 2.8 x 1.5) cm, một đầu kín, một đầu có rãnh hở, kích thước (2.5 x 0.4) cm, sâu 14 cm; một số khăn giấy tình trạng vò nát có bám dính chất màu nâu đỏ; 01 con dao có đặc điểm: Dao bằng kim loại, dài 37.5 cm, bản dao rộng 6.3cm, chuôi dao dài 10.5cm, phần chuôi dao giằng với thanh kim loại hình trụ tròn, đường kính 2.5cm, dài 1m; 01 chiếc xe đạp mini (loại của trẻ em) màu hồng.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước của bị cáo Tô Văn T5 01 xe máy không gắn biển số; loại xe: Hai bánh từ 50-173cm3, nhãn hiệu YAMAHA; số loại: TAURUS; màu sơn: hiện trạng là sơn màu trắng (đỏ đen theo phiếu trả lời xác minh xe của PC08 Công an tỉnh B); số máy 16S2030556; số khung: RLCS16S208Y030552; dung tích xi lanh: 113cm3; số chỗ ngồi: 2.
(Toàn bộ vật chứng có đặc điểm theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 108/2024 ngày 06/6/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh).
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo Trịnh Duy K, Đào Quang T1, Vũ Thanh T3, Tô Văn T5, Trần Duy H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Việt Hoàng |
Bản án số 90/2024/HS-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về vụ án hình sự về tội giết người và gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 90/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Giết người và Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRINH DUY K VA DONG PHAM PHAM TOI GIET NGUOI VA GAY ROI TRAT TU CONG CONG
