Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NGÔ QUYỀN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2024/HS-ST

Ngày 26-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hồng Phương

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Vũ Văn Khang

Bà Hà Thị Mão

Thư ký phiên toà: Ông Vũ Trọng Kiên - Thư ký Toà án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Đình Hưởng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền, Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 76/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 218/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Ngô Văn T, sinh ngày 06 tháng 6 năm 1977 tại Hải Phòng; nơi ĐKHKTT: Số H T, phường T, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Ngõ A Tổ M, phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Bảo vệ; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn T1 và bà Đỗ Thị B; có vợ là Nguyễn Thị Thảo H và 02 con; tiền án: Tại Bản án số 186/2006/HSST ngày 31/3/2006 của Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt 05 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chưa được xoá án tích); tiền sự: Không; nhân thân: 02 lần bị kết án: Tại Bản án số 32/2016/HSST ngày 28/11/2016 của Toà án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã được xóa án tích); Tại Bản án số 23/2020/HS-ST ngày 28/8/2020 của Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xử phạt 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã được xóa án tích); tạm giam từ ngày 04/12/2023; có mặt.

- Bị hại:

  1. Chị Trần Thị D, sinh năm 2000; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn C, xã Q, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; nơi ở hiện nay: Số C Đ, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
  2. Chị Bùi Thị Khánh L, sinh năm 2000; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã N, huyện Y, tỉnh Hòa Bình; nơi ở hiện nay: Số C Đ, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
  3. Anh Phạm Cao Á, sinh năm 1999; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm B, xã L, huyện K, tỉnh Ninh Bình; nơi ở hiện nay: Số A P, Khu dân cư P, phường A, quận D, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Đàm Trung K; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền ăn tiêu nên T đã nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền. Khoảng 09 giờ ngày 19/9/2023, T mặc áo dài tay kiểu rằn ri, quần kaki dài sáng màu, đeo giầy vải màu đen, khẩu trang màu trắng, đội mũ bảo hiểm màu đen dạng lưỡi trai, điều khiển xe mô tô Honda Dream BKS 16L3-4392, mang theo 01 ba lô, 01 kim cộng lực đến khu nhà trọ số C Đ, N, Hải Phòng. Phát hiện khu nhà trọ vắng người, nên T dùng kìm cắt tai khoá cổng điều khiển xe mô tô vào bên trong, thấy khu nhà trọ có 04 phòng (đánh số từ 1 đến 4), T lần lượt cắt khoá cửa các phòng trọ sau đó vào các phòng lục tìm tài sản. Sau khi lục tài sản tại các phòng, T đã lấy được 01 máy tính nhãn hiệu HP để trên bàn tại phòng trọ số 02 của chị Trần Thị D và 01 máy tính nhãn hiệu DELL để trên bàn học cạnh cửa sổ của chị Bùi Thị Khánh L tại phòng trọ số 3 rồi cất giấu 02 chiếc máy tính trên vào ba lô điều khiển sau đó điều khiển xe mô tô đi về Cửa hàng số D N, phường V, quận K, Hải Phòng bán 02 máy tính được 5.500.000 đồng.

Tiếp đó đến ngày 14/11/2023, T tiếp tục điều khiển mô tô Honda Dream BKS 16L3-4392, mang theo 01 ba lô, 01 kìm cộng lực đi đến khu N đường P, phường A, quận D. Thấy khu nhà trọ vắng người nên T đã dùng kìm cắt khóa ngoài của phòng trọ số 12, mở cửa vào lấy 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell màu trắng để trên bàn của anh Phạm Cao Á sau đó giấu vào ba lô rồi mang đến khu vực cầu vượt L, quận N bán cho người không quen biết được 1.200.000 đồng. Toàn bộ số tiền bán 03 máy tính trộm cắp được T đã chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 19/9/2023, anh Đàm Trung K (sinh năm 1979, trú tại số A Đ, quận N, Hải Phòng) phát hiện dãy nhà trọ gồm 04 phòng đánh thứ tự từ 1-4 do mình làm chủ tại số C Đ, quận N bị kẻ gian phá khóa cổng và khóa các phòng trọ. Anh K đã liên lạc với những người thuê trọ và đến cơ quan Công an trình báo. Công an quận N tiến hành rà soát và xác định tại phòng trọ số 2 của chị Trần Thị D (sinh năm 2000, trú tại thôn C, xã Q, thành phố H, tỉnh Hưng Yên) bị mất 01 máy tính xách tay nhãn hiệu HP màu bạc; phòng trọ số 3 của chị Bùi Thị Khánh L (sinh năm 2000, trú tại thôn H, xã N, huyện Y, tỉnh Hòa Bình) bị mất 01 máy tính xách tay Dell màu đen. Sau khi nhận được tin báo, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm và thu giữ dấu vết tại hiện trường.

Đến ngày 14/11/2023, anh Nguyễn Cao Á1 (sinh năm 1999, trú tại xóm B, xã L, huyện K, tỉnh Ninh Bình) có đơn trình báo đến Công an phường A, quận D, Hải Phòng về việc bị mất 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell tại phòng trọ số 12 thuộc khu N đường P, phường A, quận D. Sau khi tiếp nhận đơn trình báo, cơ quan Công an đã tiến hành kiểm tra, rà soát camera và thu giữ hình ảnh tại hiện trường. Triệu tập đến cơ quan điều tra làm việc, Ngô Văn T đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản máy tính là tài sản của anh Á1 đồng thời giao nộp 01 xe môtô Honda Dream biển kiểm soát 16L3-4392; 01 kìm cộng lực dài 35,5cm, lưỡi màu trắng, tay cầm bọc nhựa màu xanh; 01 ba lô màu đen, mặt trước có chữ FPTSHOP đã qua sử dụng. Cơ quan điều tra tạm giải quyết cho T về chờ Kết luận định giá.

Ngày 16/11/2023, Ngô Văn T đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận N đầu thú về hành vi trộm cắp tài sản của mình tại khu nhà trọ của anh Đàm Trung K ngày 19/9/2023 và giao nộp 01 đôi giày vải màu đen, viền đế màu trắng, mà T sử dụng khi thực hiện hành vi trộm cắp.

Tại Kết luận định giá tài sản số 62/KL-HĐĐGTS ngày 29/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận N, kết luận: 01 máy tính xách tay nhãn hiệu HP 15S- FQ2029TU 2Q5Y7PA, màu bạc, đã qua sử dụng của chị Trần Thị D bị chiếm đoạt ngày 19/9/2023 trị giá 11.500.000 đồng; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell 7480 I5, 7300/8/256G/14 inch, màu đen, đã qua sử dụng của chị Bùi Thị Khánh L bị chiếm đoạt ngày 19/9/2023 trị giá 4.000.000 đồng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 19/KL-HĐĐGTS ngày 11/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận D, kết luận: 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Latitude E6540 i7 4600M, đã qua sử dụng của anh Phạm Cao Á bị chiếm đoạt ngày 14/11/2023, trị giá 4.000.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 79/CT-VKSNQ ngày 25 tháng 3 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền truy tố bị cáo Ngô Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Ngô Văn T đã tác động gia đình bồi thường cho các bị hại chị D 11.500.000 đồng, chị L 4.000.000 đồng; anh Ánh yêu cầu T phải bồi thường số tiền 5.000.000 đồng; gia đình bị cáo đã bồi thường đủ số tiền trên, do đó các bị hại không có đề nghị gì thêm về trách nhiệm dân sự.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 kìm cộng lực dài 35,5cm, lưỡi màu trắng, tay cầm bọc nhựa màu xanh; 01 ba lô màu đen, mặt trước có chữ FPTSHOP đã qua sử dụng; 01 đôi giày vải màu đen, viền đế màu trắng, đã qua sử dụng.

- Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi như nội dung nêu trên và bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của bị hại, người làm chứng: Tại phiên tòa, các bị hại và người làm chứng đều vắng mặt, trước đó đã có lời khai ở cơ quan điều tra nên căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử.

- Về tội danh:

[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét có đủ cơ sở kết luận: Trong các ngày 19/9/2023 và 14/11/2023 Ngô Văn T đã hai lần thực hiện hành vi lén lút dùng kìm cộng lực cắt phá khoá cửa các phòng trọ trên địa bàn quận N và D, thành phố Hải Phòng chiếm đoạt 01 máy tính xách tay nhãn hiệu HP 15S-FQ2029TU 2Q5Y7PA, màu bạc của chị Trần Thị D, trị giá 11.500.000 đồng; 01 nhãn hiệu Dell 7480 I5, 7300/8/256G/14inch, màu đen của chị Bùi Thị Khánh L, trị giá 4.000.000 đồng và 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Latitude E6540 i7 4600M của anh Phạm Cao Á trị giá 4.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo T chiếm đoạt là 19.500.000 đồng. Hành vi của bị cáo Ngô Văn T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây mất trật tự, trị an ở địa phương, đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt:

[4] Xét về nhân thân: Bị cáo có 02 tiền án đều đã được xóa án tích, như vậy bị cáo có nhân thân xấu.

[5] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã hai lần trộm cắp tài sản nên thuộc trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; bị cáo có 01 tiền án chưa được xoá án nay lại tiếp tục phạm tội nên thuộc trường hợp “tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Sau khi phạm tội bị cáo đã đến cơ quan Công an đầu thú; bị cáo đã tác động đến gia đình khắc phục hậu quả cho các bị hại và được các bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo T được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, xét cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

[8] Theo khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo có nghề nghiệp không ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự:

[9] Bị cáo Ngô Văn T đã tác động gia đình bồi thường cho các bị hại chị D 11.500.000 đồng, chị L 4.000.000 đồng; anh Ánh yêu cầu T phải bồi thường số tiền 5.000.000 đồng; gia đình bị cáo đã bồi thường đủ số tiền trên, do đó các bị hại không có đề nghị gì thêm về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xét.

- Về xử lý vật chứng:

[10] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 kìm cộng lực dài 35,5cm, lưỡi màu trắng, tay cầm bọc nhựa màu xanh; 01 ba lô màu đen, mặt trước có chữ FPTSHOP đã qua sử dụng; 01 đôi giày vải màu đen, viền đế màu trắng, đã qua sử dụng.

- Về án phí:

[11] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về những vấn đề khác:

[12] Trong vụ án này, theo lời khai của bị cáo T, sau khi trộm cắp được 01 máy tính nhãn hiệu HP của chị D, 01 máy tính nhãn hiệu Dell của chị L, T đã mang bán cho cửa hàng số D N, phường V, quận K. Xác minh tại cửa hàng, chủ cửa hàng anh Nguyễn Quang L1, trú tại: Thôn H, xã A, huyện A, Hải Phòng cho biết, do thời gian đã lâu, anh L1 không nhớ việc mua 02 máy tính có đặc điểm nêu trên của T vào ngày 19/9/2023, anh L1 không vào sổ sách theo dõi việc mua bán máy tính cũ, kiểm tra trong cửa hàng của anh L1 không phát hiện chiếc máy tính nào có đặc điểm như 02 chiếc máy tính trên; đối với người mua 01 máy tính nhãn hiệu Dell Latitude E6540 i7 4600M của T vào ngày 14/11/2023 tại khu vực cầu vượt L, T không biết lai lịch của người này, nên chưa có căn cứ để xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g,h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự,

Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Ngô Văn T 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04 tháng 12 năm 2023.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 kìm cộng lực dài 35,5cm, lưỡi màu trắng, tay cầm bọc nhựa màu xanh; 01 ba lô màu đen, mặt trước có chữ FPTSHOP; 01 đôi giày vải màu đen, viền đế màu trắng.

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25 tháng 3 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng).

Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội, bị cáo Ngô Văn T phải nộp 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo:

Căn cứ các điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - VKSND Quận Ngô Quyền;
  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - TAND TP. Hải Phòng;
  • - CQCSĐT- Công an Quận Ngô Quyền;
  • - CQTHAHS- Công an Quận Ngô Quyền;
  • - Phòng PV06- Công an TP. Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng;
  • - Trại tạm giam- Công an thành phố Hải Phòng;
  • - Chi cục THA DS Quận Ngô Quyền;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Thị Hồng Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 90/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 90/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: thụ lý số 76/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2024
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger