Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM DƯƠNG

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 90/2024/HS-ST

Ngày 12 tháng 12 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thảo

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Trần Thị Kim Duyên

- Bà Phạm Thị Minh Quế

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hoài Phương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Phan Anh, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc, Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 79/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Hoàng Văn C, sinh ngày 26/9/1997, tại xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1974; vợ là Đào Thị L, sinh năm 1993 và 01 con, sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

Tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 28/2017/QĐ-TA ngày 19/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định đưa Hoàng Văn C vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng. C chấp hành xong ngày 22/01/2019.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2021/HSST ngày 04/06/2021, Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Hoàng Văn C 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. C chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/4/2022; chấp hành xong án phí hình sự ngày 31/8/2021.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/5/2024 cho đến nay (có mặt).

2. Nguyễn Quang V, sinh ngày 22/9/1983, tại phường T, quận N, thành phố Hà Nội; nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường T, quận N, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quang Á, sinh năm 1956 (đã chết) và bà Đỗ Thị B, sinh năm 1954; vợ là Đào Thị Q, sinh năm 1988 (đã ly hôn) và 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2014/HSST ngày 26/06/2014, Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt Nguyễn Quang V 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. V chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2019, chấp hành xong án phí hình sự và số tiền truy thu ngày 18/05/2015.

Tại Quyết định xử phạt hành chính số 08942 ngày 28/09/2007 của Công an phường Trung Liệt, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Quang V về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, số tiền phạt 350.000đồng. V đã chấp hành nộp phạt ngày 28/9/2007.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/5/2024 cho đến nay (có mặt).

3. Lê Thị Đ, sinh ngày 02/11/1991, tại xã V, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn Q, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn N1, sinh năm 1970 và bà Đỗ Thị C1, sinh năm 1970; chồng là Trần Văn H, sinh năm 1992 (đã ly hôn) và 03 con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/5/2024 cho đến nay (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Chị Đỗ Thị Q1, sinh năm 1999; nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
  • + Chị Phùng Thị Kiều L1, sinh năm 2003; nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
  • + Bà Trần Thị H1, sinh năm 1972; nơi cư trú: Tổ dân phố số F, thị trấn K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
  • + Chị Đào Thị L, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi ở hiện nay: Tổ dân phố M, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
  • + Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1974; nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

- Người làm chứng: Anh Phùng Thế D, sinh năm 1996; nơi cư trú: Phố Â, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).

- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Bá L2 - Tổ trưởng Tổ dân phố số 6, thị trấn K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Tổ dân phố số 6, thị trấn K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Văn C là người nghiện chất ma tuý từ năm 2017 cho đến ngày bị bắt giữ. Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 31/5/2024, C cùng chị Đỗ Thị Q1 và chị Phùng Thị Kiều L1 ăn đêm tại khu vực vòng xuyến xã A, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau khi ăn đêm xong, C điều khiển xe máy biển kiểm soát 88H1 - 324.22, còn chị Q1 điều khiển xe máy biển kiểm soát 88E1 - 048.73 chở chị L1 đến Nhà nghỉ S ở tổ dân phố số 6, thị trấn K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc để thuê phòng nghỉ. Khi đến Nhà nghỉ S, C gặp bà Trần Thị H1 là chủ nhà nghỉ S và thuê phòng số 404 tầng 04 để nghỉ. Khi lên phòng số 404, C nảy sinh ý định sử dụng trái phép chất ma túy cùng với chị Q1 và chị L1. Thực hiện ý định, C sử dụng ứng dụng Zalo và số điện thoại 0868.705.xxx gọi đến số điện thoại 0346.242.xxx của Lê Thị Đ hỏi mua ma tuý đồng thời xin một số ống hút và giấy bạc. Khi nhận điện thoại của C thì Đ đang ở tại ngôi nhà thuộc tổ dân phố C, phường Đ, thành phố V, Vĩnh Phúc cùng với Nguyễn Quang V. Đàn biết V có ma túy để bán nên Đ bảo V bán ma túy cho C nên V đồng ý và bảo Đ nói với C xuống chỗ Đ để mua ma tuý. Sau đó, Đ thoả thuận bán ma tuý cho C với số tiền 300.000đồng và hẹn C đến nhà Đ lấy ma tuý. C đồng ý rồi chuyển khoản số tiền 300.000đồng cho Đ từ số tài khoản của C là 0327.594.935 Ngân hàng M1 đến số tài khoản của Đàn 0346.242.532 Ngân hàng V1. Sau đó, Đ chuyển lại số tiền 300.000đồng này đến số tài khoản 0361.000.359.162 Ngân hàng V2 cho V. Sau đó, C gọi 01 xe taxi của hãng 02113.56.56.56 đến Nhà nghỉ S chở C đến phòng ở của Đ. Khi đến nơi, C đi vào trong nhà thì gặp V nên V đưa cho C 01 túi nhỏ nilon, bên trong có chứa các hạt tinh thể dạng đá màu trắng, là ma túy dạng đá và 01 viên ma túy ngựa màu hồng, 02 ống hút nhựa màu trắng, 02 ống hút nhựa màu tím cùng một ít giấy bạc. Sau khi mua được ma túy, C đi xe taxi quay về Nhà nghỉ S. C cầm gói ma tuý cùng các đồ vật khác đi lên phòng số 404 tầng 04 của Nhà nghỉ rồi lấy 01 chai nước lọc có sẵn trong phòng và sử dụng bật lửa hơ thủng nắp chai, nhét ống hút nhựa vào lỗ thủng tạo thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Sau đó, C cho số ma túy đá, viên ma túy ngựa ra giấy bạc, dùng bật lửa hơ nóng rồi trực tiếp hút 02 “khói”. Sau đó, C một tay cầm giấy bạc một tay châm lửa hơ nóng ma tuý đá cho chị Q1 hút khoảng 05 “khói” và chị L1 hút khoảng 02 “khói”. Đến 04 giờ 20 phút ngày 31/5/2024, khi C, chị Q1 và chị L1 đang sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Công an huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc kiểm tra phát hiện, lập biên bản sự việc. Cơ quan điều tra đã thu giữ: Thu giữ tại kệ tủ ở đầu giường trong phòng số 404 của Nhà nghỉ S 01 chai nhựa Dasani, bên trong có chứa nước lọc, trên nắp chai có gắn 02 ống hút, trong đó 01 ống hút màu trắng đầu có gắn giấy bạc, thân ống hút có quấn mảnh giấy bạc và 01 ống hút màu tím được gắn ống hút màu trắng; 01 mảnh giấy bạc, bên trên có bám dính chất màu nâu lẫn chất màu hồng, được niêm phong ký hiệu A1; 01 chiếc bật lửa màu xanh; thu giữ của C 03 điện thoại di động gồm 01 điện thoại Iphone đã cũ, bên trong lắp sim 0982.449.231, được niêm phong ký hiệu M1; 01 điện thoại Nokia màu đen đã cũ, bên trong lắp sim 0868.705.040, được niêm phong ký hiệu M2; 01 điện thoại Samsung màu xám màn hình bị vỡ nát, bên trong không có thẻ sim, được niêm phong ký hiệu M3; 01 xe máy Serius nhãn hiệu Yamaha màu đỏ đen biển kiểm soát 88H1 - 32.422; thu giữ của chị L1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh, bên trong lắp sim 0988.400.624 được niêm phong ký hiệu M4; thu giữ của chị Q1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu hồng, bên trong lắp sim 0867.219.997 được niêm phong ký hiệu M5; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Lead biển kiểm soát 88E1 - 04873.

Cùng ngày 31/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp người, chỗ ở đối với Lê Thị Đ tại tổ dân phố C, phường Đ, thành phố V. Tại thời điểm khám xét Đ đang ở cùng với V. Quá trình khám xét, cơ quan điều tra đã thu giữ: Thu giữ tại túi quần bên phải phía trước của V 01 đoạn ống hút màu xanh dương phần đầu được vót nhọn; 01 túi nilon màu trắng, có khóa bấm màu trắng, phía trên viền kẻ màu xanh dương, bên trong chứa 03 viên nén hình tròn màu hồng và các hạt tinh thể màu trắng, dạng đá, được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu A2; 01 bật lửa gas màu tím; thu giữ tại hộp gỗ trên mặt két sắt trong phòng ngủ của Đ và V gồm 06 túi nilon màu trắng, khóa bấm màu trắng, bên trong bám dính các hạt tinh thể màu trắng dạng đá xen lẫn chất bột màu hồng, được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu A4; 01 điện thoại Nokia màu xanh dương, loại màn hình đen trắng, phím bấm; thu giữ tại gầm giường phòng ngủ của Đ và V gồm 01 bộ coóng thủy tinh, thân mình bằng thủy tinh, bên trong chứa nước phần nắp bình gắn các ống hút nhiều màu khác nhau; 01 cuộn giấy bạc; thu giữ tại túi quần áo trong phòng ngủ của Đ và V 01 cân tiểu ly được thu trong bao thuốc lá Thăng Long; 01 tờ tiền mệnh giá 1.000đồng được gấp lại, bên trong chứa các chất bột màu trắng thu trong bao thuốc lá Thăng Long, được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu A3; 50 chiếc túi nilon có khóa bấm màu trắng, phía trên viền màu đỏ, bên trong không chứa đồ vật tài liệu gì; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Remi 9A đã cũ của V được niêm phong ký hiệu M6; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO của Đàn được niêm phong ký hiệu M7.

Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã tiến hành thu mẫu nước tiểu của Hoàng Văn C, chị Đỗ Thị Q1, chị Phùng Thị Kiều L1, Lê Thị Đ và Nguyễn Quang V được niêm phong ký hiệu lần lượt từ A5 đến A9.

Tại Kết luận giám định số 1589/KLGĐ ngày 04/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận:

Đều tìm thấy chất ma túy Methamphetamine bám dính trong một chai nhựa có 02 ống hút ở trên nắp và 01 gói giấy bạc bên trong bám dính chất màu nâu lẫn chất màu hồng của mẫu ký hiệu A1. Không xác định được khối lượng chất màu nâu lẫn chất màu hồng bên trong gói giấy bạc do lượng mẫu ít.

Tinh thể dạng đá có trong mẫu ký hiệu A2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2271gam (không phẩy hai hai bảy một gam, không kể bao bì) loại Methamphetamine.

03 (ba) viên nén màu hồng có trong mẫu ký hiệu A2 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,2941gam (không phẩy hai chín bốn một gam, không kể bao bì) loại Methamphetamine.

Chất bột màu trắng của mẫu ký hiệu A3 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1038gam (không phẩy một không ba tám gam, không kể bao bì) loại Ketamine.

Đều tìm thấy chất ma túy Methamphetamine bám dính trong 06 vỏ túi nilon bên trong có bám dính chất màu hồng, màu trắng của mẫu ký hiệu A4 gửi giám định. Không xác định được khối lượng chất màu hồng, màu trắng bên trong 06 vỏ túi nilon do lượng mẫu ít.

Tại Kết luận giám định số 1637/KLGĐ gày 08/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: “Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong mẫu chất lỏng màu vàng ghi là mẫu nước tiểu thu của Hoàng Văn C, sinh năm 1997; nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, ký hiệu A5 gửi giám định.

Tại Kết luận giám định số 1638/KLGĐ ngày 08/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: “Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong mẫu chất lỏng màu vàng ghi là mẫu nước tiểu thu của Đỗ Thị Q1, sinh năm 1999; nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, ký hiệu A6 gửi giám định.

Tại Kết luận giám định số 1639/KLGĐ ngày 08/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: “Tìm thấy chất ma túy Ketamine trong chất lỏng màu vàng ghi là mẫu nước tiểu thu của Phùng Thị Kiều L1, sinh năm 2003; nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, ký hiệu A7 gửi giám định.

Quá trình điều tra, chị Phùng Thị Kiều L1 khai nhận trước đó ngày 30/5/2024, chị L1 có sử dụng ma tuý Ketamine, ngày 31/5/2024, tại phòng số 404 Nhà nghỉ S, chị L1 có sử dụng ma tuý Methamphetamine, tuy nhiên chị L1 chỉ ngậm trong miệng rồi nhả ra ngay khi sử dụng. Ngày 17/7/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đã có văn bản đề nghị Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giải thích về việc chị Phùng Thị Kiều L1 trong hai ngày 30/05/2024 và 31/05/2024 sử dụng 02 loại ma túy là K và Methamphetamine mà kết quả xét nghiệm nước tiểu chỉ tìm thấy chất ma túy Ketamin.

Ngày 19/7/2024, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc có văn bản số 304/CV-KTHS về việc giải thích Kết luận giám định như sau: Việc chị Phùng Thị Kiều L1 trong 02 ngày 30/05/2024 và 31/05/2024 đã sử dụng 02 loại ma túy gồm K và M, nhưng chỉ ngậm trong miệng rồi nhả ra ngay khi sử dụng Methamphetamin. Do đó, chỉ tìm thấy chất ma túy Ketamin trong mẫu nước tiểu của chị L1 theo Kết luận giám định là phù hợp, khách quan và chính xác.

Tại Kết luận giám định số 1640/KLGĐ ngày 08/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: “Tìm thấy chất ma túy Morphine và M trong chất lỏng màu vàng ghi là mẫu nước tiểu thu của Lê Thị Đ, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn Q, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, ký hiệu A8 gửi giám định.

Tại Kết luận giám định số 1641/KLGĐ ngày 08/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: “Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong mẫu chất lỏng màu vàng ghi là mẫu nước tiểu thu của Nguyễn Quang V, sinh năm 1983; nơi cư trú: Phường T, quận N, thành phố Hà Nội, ký hiệu A9 gửi giám định.

Tại Kết luận giám định số 2361/KL-KTHS ngày 15/8/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max thu giữ của Hoàng Văn C kết luận: “Khôi phục, trích xuất được 21,7 GB (23.325.565.043 bytes) dữ liệu từ mẫu cần giám định. Toàn bộ dữ liệu được nén và sao lưu vào USB.

Qua nghiên cứu Kết luận giám định số 2361 xác định dữ liệu trích xuất từ điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, mặt lưng bị vỡ, đã qua sử dụng của Hoàng Văn C, có nội dung C liên lạc với Đ qua ứng dụng Zalo phù hợp lời khai của Đ và C về thời gian C và Đ sử dụng Zalo để mua bán ma tuý ngày 31/05/2024.

Tại Kết luận giám định số 2362/KL-KTHS ngày 15/8/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia thu giữ của Hoàng Văn C kết luận: “Khôi phục, trích xuất được 79,6 MB (83.563.721 bytes) dữ liệu từ mẫu cần giám định. Toàn bộ dữ liệu được nén và sao lưu vào đĩa DVD.

Tại Kết luận giám định số 2363/KL-KTHS ngày 15/8/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xám thu giữ của Hoàng Văn C kết luận: “Khôi phục, trích xuất được 400 MB (420.128.522 bytes) dữ liệu từ mẫu cần giám định. Toàn bộ dữ liệu được nén và sao lưu vào đĩa DVD.

Qua nghiên cứu Kết luận giám định số 2362 và 2363 xác định các dữ liệu trích xuất từ điện thoại nhãn hiệu Nokia màu đen và điện thoại di động nhãn hiệu SamSung màu xám của Hoàng Văn C không có nội dung gì liên quan đến vụ án.

Tại Kết luận giám định số 2364/KL-KTHS ngày 15/8/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Remi 9A thu giữ của Nguyễn Quang V kết luận: “Khôi phục, trích xuất được 3,78 GB (4.060.830.656 bytes) dữ liệu từ mẫu cần giám định. Toàn bộ dữ liệu được nén và sao lưu vào đĩa DVD.

Qua nghiên cứu Kết luận giám định số 2364 xác định các dữ liệu trích xuất từ chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Remi 9A màu xanh của Nguyễn Quang V không có nội dung gì liên quan.

Tại Kết luận giám định số 2365/KL-KTHS ngày 15/8/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO thu giữ của Lê Thị Đ kết luận: “Khôi phục, trích xuất được 2,40 GB (2.579.708.034 bytes) dữ liệu từ mẫu cần giám định. Toàn bộ dữ liệu được nén và sao lưu vào đĩa DVD.

Qua nghiên cứu Kết luận giám định số 2365 xác định các dữ liệu trích xuất từ chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A16K, màu xanh dương của Lê Thị Đ có nhiều cuộc gọi giữa Đ và Hoàng Văn C phù hợp lời khai của Đ và C về thời gian C và Đ liên lạc để hỏi mua ma tuý ngày 31/05/2024.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh, bên trong lắp sim 0988.400.624 của chị Phùng Thị Kiều L1 (ký hiệu M4), điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu hồng, bên trong lắp sim 0867.219.997 của chị Đỗ Thị Q1 (Ký hiệu M5) và chiếc điện thoại di động Nokia màu xanh dương, loại màn hình đen trắng, phím bấm thu giữ trên hộp gỗ trên mặt két sắt trong phòng ngủ của Lê Thị Đ và Nguyễn Quang V, kết quả không phát hiện nội dung liên quan đến việc Mua bán và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Cơ quan điều tra đã tiến hành sao kê số tài khoản 0327.594.935 Ngân hàng M1 của Hoàng Văn C, số tài khoản 0346.242.532 Ngân hàng V1 của Lê Thị Đ, số tài khoản 0361.000.359.162 Ngân hàng V2 của Nguyễn Quang V. Kết quả sao kê phù hợp với nội dung chuyển số tiền 300.000đồng để mua ma tuý trong ngày 31/5/2024 giữa C, Đ và V. Ngoài ra qua nghiên cứu nội dung sao kê số tài khoản của Đ và C thể hiện trước ngày 31/5/2024, Đ và C nhiều lần giao dịch chuyển tiền cho nhau, quá trình điều tra Đ và C khai nhận chỉ là những lần chuyển tiền vay mượn không liên quan gì đến việc mua bán ma tuý nên cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.

Tại Cáo trạng số 87/CT-VKSTD ngày 31/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố Hoàng Văn C về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; truy tố Nguyễn Quang V, Lê Thị Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng.

Đề nghị:

- Tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Quang V, bị cáo Lê Thị Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt Hoàng Văn C từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31/5/2024.

- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt Nguyễn Quang V từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày ngày 31/5/2024.

- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt Lê Thị Đ từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày ngày 31/5/2024.

- Về Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy mẫu A1: 01 vỏ chai nhựa, có 02 ống hút ở trên nắp và một gói giấy bạc; Mẫu A2 tinh thể = 0,1319gam, Mẫu A2 viên nén = 0,1608gam; Mẫu A3 = 0,0672gam và 06 vỏ túi nilon của mẫu A4 cùng bao gói được niêm phong hoàn trả kèm theo Kết luận giám định số 1589/KL-KTHS.

Tịch thu, tiêu hủy 01 chiếc bật lửa màu xanh; 01 bật lửa gas màu tím;01 bộ coóng thủy tinh, thân mình bằng thủy tinh, bên trong chứa nước phần nắp bình gắn các ống hút nhiều màu khác nhau; 01 cuộn giấy bạc; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 cân tiểu ly; 50 chiếc túi nilon có khóa bấm màu trắng, phía trên viền màu đỏ, bên trong không chứa đồ vật tài liệu gì; 01 đoạn ống hút màu xanh dương phần đầu được vót nhọn.

Tịch thu bán phát mại nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Nokia màu đen đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số 0868.705.040 thu giữ của Hoàng Văn C; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO đã qua sử dụng thu giữ của Lê Thị Đ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Remi 9A đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Quang V.

Trả lại cho chị Đào Thị L 01 điện thoại Iphone đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số 0982.449.231.

Trả lại cho bà Nguyễn Thị N 01 điện thoại Samsung màu xám màn hình bị vỡ nát, bên trong không có thẻ sim và 01 xe máy Serius nhãn hiệu Yamaha màu đỏ đen, biển kiểm soát 88H1 - 32422.

Trả lại cho Nguyễn Quang V 01 chiếc điện thoại Nokia màu xanh dương nhưng tiếp tục tạm giữ đảm thi hành án.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 300.000đồng V có được do bán ma túy cho C và tờ tiền 1.000đồng trong mẫu A3.

Các bị cáo Hoàng Văn C, Nguyễn Quang V, Lê Thị Đ không bào chữa, không tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự tố tụng của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người chứng kiến không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa và trong quá trình điều tra, các bị cáo Hoàng Văn C, Nguyễn Quang V, Lê Thị Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố. Xét lời nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người chứng kiến, phù hợp với vật chứng thu giữ được và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ chứng cứ khách quan để kết luận:

Hoàng Văn C là người nghiện chất ma tuý từ năm 2017 cho đến ngày bị bắt giữ. Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 31/5/2024, C cùng chị Đỗ Thị Q1 và chị Phùng Thị Kiều L1 ăn đêm tại khu vực vòng xuyến xã A, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau khi ăn đêm xong, C điều khiển xe máy biển kiểm soát 88H1 - 324.22, còn chị Q1 điều khiển xe máy biển kiểm soát 88E1 - 048.73 chở chị L1 đến Nhà nghỉ S ở tổ dân phố số 6, thị trấn K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc để thuê phòng nghỉ. Khi đến Nhà nghỉ S, C thuê phòng số 404 tầng 04 để nghỉ. Khi lên phòng số 404, C nảy sinh ý định tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cùng với chị Q1 và chị L1. Thực hiện ý định, C gọi điện thoại cho Lê Thị Đ hỏi mua ma tuý dạng đá và ma tuý kẹo. Đ đồng ý và thoả thuận bán ma tuý cho C với số tiền 300.000đồng và hẹn C đến nơi ở của Đ lấy ma tuý. C đồng ý rồi chuyển khoản cho Đ số tiền 300.000đồng từ số tài khoản của C đến số tài khoản của Đ. Đàn chuyển lại số tiền 300.000đồng này đến số tài khoản của Nguyễn Quang V. Sau đó, C đi xe taxi đến nơi ở của Đ thì gặp V nên V đưa cho C 01 túi nhỏ nilon, bên trong có chứa các hạt tinh thể dạng đá màu trắng, là ma túy dạng đá và 01 viên ma túy ngựa màu hồng, 02 ống hút nhựa màu trắng và 02 ống hút nhựa màu tím cùng một ít giấy bạc. Sau khi mua được ma túy, C đi xe taxi quay về Nhà nghỉ S. C cầm gói ma tuý cùng các đồ vật khác đi lên phòng số 404 tầng 04 của Nhà nghỉ rồi lấy 01 chai nước lọc có sẵn trong phòng và sử dụng bật lửa hơ thủng nắp chai, nhét ống hút nhựa vào lỗ thủng tạo thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Sau đó, C cho số ma túy đá, viên ma túy ngựa ra giấy bạc, dùng bật lửa hơ nóng rồi trực tiếp hút 02 “khói”. Sau đó, C một tay cầm giấy bạc, một tay châm lửa hơ nóng ma tuý đá cho chị Q1 hút khoảng 05 “khói” và chị L1 hút khoảng 02 “khói”. Đến 04 giờ 20 phút ngày 31/5/2024, khi C, chị Q1 và chị L1 đang sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Công an huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc kiểm tra phát hiện, lập biên bản sự việc. Cơ quan điều tra đã thu giữ: Thu giữ tại kệ tủ ở đầu giường trong phòng số 404 là 01 chai nhựa Dasani, bên trong có chứa nước lọc, trên nắp chai có gắn 02 ống hút (trong đó 01 ống hút màu trắng đầu có gắn giấy bạc, thân ống hút có quấn mảnh giấy bạc; 01 ống hút màu tím được gắn ống hút màu trắng); 01 mảnh giấy bạc, bên trên có bám dính chất màu nâu lẫn chất màu hồng, được niêm phong ký hiệu A1; 01 chiếc bật lửa màu xanh; thu giữ của C 03 điện thoại di động đã qua sử dụng và 01 xe máy Serius nhãn hiệu Yamaha màu đỏ đen biển kiểm soát 88H1- 32.422; thu giữ của chị L1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh; thu giữ của chị Q1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu hồng đã qua sử dụng và 01 xe máy nhãn hiệu Honda Lead biển kiểm soát 88E1-04873.

Hành vi của bị cáo Hoàng Văn C đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi của các bị cáo Nguyễn Quang V, Lê Thi Đ1 đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:

“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

b) Đối với 02 người trở lên;

Điều 251Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm."

Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, gây mất trật tự công cộng, trật tự trị an, an toàn xã hội, gây nên sự bất bình trong quần chúng nhân dân. Trong vụ án này, Hoàng Văn C có hành vi chuẩn bị ma tuý, chuẩn bị công cụ và thực hiện hành vi hơ nóng ma tuý để tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý cho 02 người là chị Đỗ Thị Q1 và chị Phùng Thị Kiều L1 nên hành vi của Hoàng Văn C đã cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Lê Thị Đ và Nguyễn Quang V đã có hành vi bán cho Hoàng Văn C 01 túi nilon, bên trong có chứa các hạt tinh thể dạng đá màu trắng là ma túy đá và 01 viên ma túy ngựa màu hồng. Trong đó, Đ là người trực tiếp liên hệ và giao dịch mua bán ma tuý với C, còn ma tuý là của V và V là người trực tiếp đưa ma tuý cho C. Do C cùng với chị Q1 và chị L1 đã sử dụng hết số ma tuý trên nên không xác định được khối lượng ma tuý mà Đ và V đã bán. Do vậy, V và Đ phải chịu trách nhiệm về hành vi bán ma túy cho C ngày 31/5/2024 theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đối với số lượng ma tuý do Công an huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc thu giữ tại nơi ở của Đ, gồm có 0,5212gam Methamphetamine và 0,1038gam Ketamine, quá trình điều tra xác định là của V tàng trữ để bán kiếm lời. Giữa V và Đ không có thỏa thuận gì về việc Đ giúp sức cho V để bán ma túy. Việc V cất giấu số ma túy này tại nơi ở, Đ không biết nên V phải chịu trách nhiệm về hành vi tàng trữ số ma túy này với mục đích để bán kiếm lời.

Căn cứ khoản 2 Điều 5 Nghị định số 19/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số Điều của Bộ luật Hình sự năm 2015xác định: Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của Methamphetamine so với mức tối thiểu đối với Methamphetamine quy định tại khoản 2 của Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 là: 0,5212 : 5 x 100% = 10,424%; Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của Ketamine so với mức tối thiểu đối với Ketamine quy định tại khoản 2 của Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 là: 0,1038 : 20 x 100% = 0,519% . Tổng tỷ lệ phần trăm là 10,943% (dưới 100%). Như vậy, hành vi của Nguyễn Quang V đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015.

Các bị cáo Hoàng Văn C, Nguyễn Quang V, Lê Thị Đ là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, “Mua bán trái phép chất ma túy” là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện nên cần xử lý nghiêm tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo.

[3]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

Các bị cáo Hoàng Văn C, Nguyễn Quang V, Lê Thị Đ không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Các bị cáo Hoàng Văn C, Nguyễn Quang V, Lê Thị Đ đều thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về nhân thân: Các bị cáo Hoàng Văn C, Nguyễn Quang V, Lê Thị Đ đều là người không có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, bị cáo Hoàng Văn C, bị cáo Nguyễn Quang V là người có nhân thân xấu. Bị cáo Chung đã từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng và đã từng bị xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Bị cáo V đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đã từng bị xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Các bị cáo Chung, V đều đã có thời gian cải tạo trong môi trường trại giam nhưng các bị cáo Chung, V không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.

Do đó, phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo Hoàng Văn C, Nguyễn Quang V, Lê Thị Đ, có như vậy mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm.

[4]. Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, bị cáo Hoàng Văn C có thể bị phạt tiền từ 50.000.000đồng đến 500.000.000đồng. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo C không có tài sản, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung để phạt tiền đối với bị cáo C.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, các bị cáo Nguyễn Quang V, Lê Thị Đ có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 500.000.000đồng. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo V, Đ không có tài sản, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung để phạt tiền đối với các bị cáo V, Đ.

[5]. Đối với số ma túy Nguyễn Quang V bán cho Hoàng Văn C và số ma túy V tàng trữ tại nơi ở mà cơ quan công an thu giữ được khi khám xét, quá trình điều tra V khai mua từ tối hôm trước của một người nam giới ở khu vực bến xe phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc với mục đích bán lại kiếm lời. V không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này nên cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh, điều tra, xử lý là phù hợp.

[6]. Đối với chị Đỗ Thị Q1 và chị Phùng Thị Kiều L1, quá trình điều tra xác định ngày 31/05/2024, chị Q1 và chị L1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý trong Nhà nghỉ S, Công an huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với chị Q1 và chị L1 là phù hợp.

[7]. Đối với bà Trần Thị H1 là chủ Nhà nghỉ S, quá trình điều tra làm rõ tại thời điểm Hoàng Văn C tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng số 404 của Nhà nghỉ vào ngày 31/5/2024, cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú Nhà nghỉ S đủ điều kiện về an ninh trật tự để hoạt động kinh doanh. Bà H1 đã chủ động thông báo, phối hợp với Công an huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc kiểm tra, phát hiện quả tang hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” của Hoàng Văn C nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

[8]. Về xử lý vật chứng:

Đối với các mẫu A1: 01 vỏ chai nhựa có 02 ống hút ở trên nắp và 01 gói giấy bạc; Mẫu A2 tinh thể = 0,1319gam, Mẫu A2 viên nén = 0,1608gam; Mẫu A3 = 0,0672gam và 06 vỏ túi nilon của mẫu A4 cùng bao gói được niêm phong hoàn trả kèm theo kết luận giám định số 1589/KL-KTHS cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc bật lửa màu xanh đã qua sử dụng, quá trình điều tra xác định C sử dụng chiếc bật lửa này vào việc “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” cần tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 01 bật lửa gas màu tím thu tại nhà ở của Đ, quá trình điều tra xác định là của Nguyễn Quang V không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 bộ coóng thủy tinh, thân mình bằng thủy tinh, bên trong chứa nước, phần nắp bình gắn các ống hút nhiều màu khác nhau, quá trình điều tra xác định đây là dụng cụ sử dụng ma túy của Nguyễn Quang V cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 đoạn ống hút màu xanh dương phần đầu được vót nhọn, 01 cuộn giấy bạc, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long thu của V, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy; 01 cân tiểu ly, quá trình điều tra xác định V dùng cân tiểu ly để cân ma túy cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 50 chiếc túi nilon có khóa bấm màu trắng, phía trên viền màu đỏ, bên trong không chứa đồ vật tài liệu gì. Quá trình điều tra Nguyễn Quang V khai nhận dùng để đựng ma túy, cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với tờ tiền 1.000đồng trong mẫu A3 cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động Nokia màu đen đã qua sử dụng, bên trong lắp sim 0868.705.040 thu giữ của Hoàng Văn C và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO đã qua sử dụng thu giữ của Lê Thị Đ, quá trình điều tra xác định C và Đ sử dụng để liên hệ mua bán ma túy cần tịch thu bán phát mại sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với 01 điện thoại Iphone đã qua sử dụng, bên trong lắp sim 0982.449.231 thu giữ của Hoàng Văn C, quá trình điều tra xác định là tài sản C mượn của chị Đào Thị L, sinh năm 1993 trú tại xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc là vợ của C để đăng nhập Z gọi hỏi mua ma túy của Lê Thị Đ. Chị L không biết việc C sử dụng làm phương tiện liên lạc mua ma tuý. Do vậy, cần trả lại cho chị L là phù hợp.

Đối với 01 điện thoại Samsung màu xám màn hình bị vỡ nát, bên trong không có thẻ sim thu giữ của Hoàng Văn C quá trình điều tra xác định là tài sản C mượn của bà Nguyễn Thị N là mẹ của C. Việc C sử dụng chiếc điện thoại này đăng nhập tài khoản Ngân hàng của C chuyển tiền mua ma túy cho Đ, bà N không biết nên cần trả lại chiếc điện thoại này cho bà N.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Remi 9A đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Quang V, quá trình điều tra xác định Nguyễn Quang V đã sử dụng để nhận số tiền 300.000đồng từ tài khoản của Đ để bán ma tuý cho C, cần tịch thu bán phát mại sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 xe máy Serius nhãn hiệu Yamaha màu đỏ đen, biển kiểm soát 88H1 - 32422 thu giữ của Hoàng Văn C, quá trình điều tra xác định C mượn của bà Nguyễn Thị N là mẹ của C, không liên quan gì đến vụ án, cần trả lại cho bà N là phù hợp.

Đối với 01 chiếc điện thoại Nokia màu xanh dương thu giữ của Nguyễn Quang V, quá trình điều tra xác định không liên quan gì đến hành vi phạm tội cần trả lại cho V nhưng tiếp tục tạm giữ bảo đảm thi hành án.

Đối với số tiền 300.000đồng, V có được do bán ma túy cho C, quá trình điều tra V đã tác động gia đình nộp lại nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước đối với số tiền 300.000đồng này.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu hồng, bên trong lắp sim 0867.219.997, 01 xe máy nhãn hiệu Honda lead, biển kiểm soát 88E1 - 04873 tạm giữ của chị Đỗ Thị Q1 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh, bên trong lắp sim 0988.400.624 thu giữ của chị Phùng Thị Kiều L1, quá trình điều tra xác định không liên quan gì đến vụ án. Ngày 18/10/2024, cơ quan điều tra đã trả lại những đồ vật trên cho chị Q1 và chị L1.

[6]. Về án phí: Các bị cáo Hoàng Văn C, Nguyễn Quang V, Lê Thị Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật sẽ được Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Quang V, bị cáo Lê Thị Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

2.1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt Hoàng Văn C 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 31/5/2024).

2.2. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt Nguyễn Quang V 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 31/5/2024).

2.3. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt Lê Thị Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 31/5/2024).

3. Xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy mẫu A1: 01 vỏ chai nhựa, có 02 ống hút ở trên nắp và 01 gói giấy bạc; Mẫu A2 tinh thể = 0,1319gam, Mẫu A2 viên nén = 0,1608gam; Mẫu A3 = 0,0672gam và 06 vỏ túi nilon của mẫu A4 cùng bao gói được niêm phong hoàn trả kèm theo kết luận giám định số 1589/KL-KTHS.

Tịch thu, tiêu hủy 01 chiếc bật lửa màu xanh; 01 bật lửa gas màu tím; 01 bộ coóng thủy tinh, thân mình bằng thủy tinh, bên trong chứa nước, phần nắp bình gắn các ống hút nhiều màu khác nhau; 01 cuộn giấy bạc; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 cân tiểu ly; 50 chiếc túi nilon có khóa bấm màu trắng, phía trên viền màu đỏ, bên trong không chứa đồ vật tài liệu gì; 01 đoạn ống hút màu xanh dương phần đầu được vót nhọn.

Tịch thu bán phát mại sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Nokia màu đen đã qua sử dụng, bên trong lắp sim 0868.705.040 thu giữ của Hoàng Văn C; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO đã qua sử dụng thu giữ của Lê Thị Đ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Remi 9A đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Quang V.

Trả lại cho chị Đào Thị L 01 điện thoại Iphone đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số 0982.449.231.

Trả lại cho bà Nguyễn Thị N 01 điện thoại Samsung màu xám màn hình bị vỡ nát, bên trong không có thẻ sim và 01 xe máy Serius nhãn hiệu Yamaha màu đỏ đen, biển kiểm soát 88H1 - 32422.

Trả lại cho Nguyễn Quang V 01 chiếc điện thoại Nokia màu xanh dương nhưng tiếp tục tạm giữ bảo đảm thi hành án.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 300.000đồng V có được do bán ma túy cho C và tờ tiền 1.000đồng trong mẫu A3.

(đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 13/11/ 2024 và giấy ủy nhiệm chi ngày 13/11/2024).

4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí toà án, các bị cáo Hoàng Văn C, Nguyễn Quang V, Lê Thị Đ, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - TAND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND huyện Tam Dương;
  • - Công an huyện Tam Dương;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự;
  • - Chi cục thi hành án dân sự huyện Tam Dương;
  • - Lưu HS, bộ phận theo dõi THAHS, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Thanh Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 90/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 90/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn C phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, Nguyễn Quang V và Lê Thị Đ phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger