|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ LONG CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 90/2024/HS-ST Ngày 26-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ LONG CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Long đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Đức Vịnh
Các Long thẩm nhân dân.
Ông Đoàn Quốc Việt – Bí thư Đoàn thanh niên xã Đồng Minh
Bà Phạm Thị Khanh – Nguyên chủ tịch Hội phụ nữ xã Hùng Tiến.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Công Khanh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Nghĩa - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 69/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Đỗ Minh T, sinh ngày 11/9/2003 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn H, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Tiến T1 và bà Nguyễn Thị H; có vợ là Bùi Thị Ngọc Á và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Bắt bị can để tạm giam từ ngày 19/01/2024 đến ngày 23/02/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh cho đến nay; có mặt.
2. Phạm Xuân D, sinh ngày 10/4/2001 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Khu dân cư T, thị trấn V, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Xuân C và bà Bùi Thị T2; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 31/01/2024 cho đến nay; có mặt.
3. Hoàng Trung T3, sinh ngày 30/10/2005 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T4 và bà Đỗ Thị P; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 31/01/2024 đến nay; có mặt.
4. Nguyễn Ngọc V, sinh ngày 27/10/2004 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Hoàng Thị H1 (Đều đã chết); vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 31/01/2024 đến nay; có mặt.
5. Trần Thành Đ, sinh ngày 06/4/2007 tại Hải Phòng (Tính đến thời điểm phạm tội được 16 năm 06 tháng 02 ngày tuổi); nơi cư trú: Thôn M, xã N, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn R và bà Đỗ Thị L; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/8/2024 đến ngày 11/10/2024 bị tạm giam theo Lệnh bắt bị can để tạm giam số 2011/LTG-CSMT của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, đến nay; có mặt.
6. Lưu Đình M, sinh ngày 28/8/1996 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Đình T5 và bà Lương Thị V1; có vợ là Phạm Hải Y và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 31/01/2024 đến nay; có mặt.
7. Phạm Hải L1, sinh ngày 05/01/2006 tại Hải Phòng (tính đến thời điểm phạm tội được 17 năm 09 tháng 23 ngày tuổi); nơi cư trú: Thôn G, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn B và bà Phạm Thị C1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/7/2024 đến nay; có mặt.
8. Nguyễn Thành N1, sinh ngày 25/10/2001 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Nông Trường Q, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H2 và bà Lê Thị T6; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Bắt bị can để tạm giam từ ngày 05/02/2024 đến ngày 14/3/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh đến nay; có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Thành Đ: Bà Đỗ Thị L, sinh năm 1969; nơi cư trú: Thôn M, xã N, huyện V, thành phố Hải Phòng, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Thành Đ: Bà Trần Thị T7 – Trợ giúp viên pháp lý nhà nước thành phố Hải Phòng, có mặt.
2
Đại diện Đoàn thanh nhiên xã N, huyện V, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Hoàng Trung Đ1, sinh năm 2006; nơi cư trú: Thôn G, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Phạm Thế Đ2, có mặt; anh Nguyễn Văn H2, có mặt; anh Nguyễn Tuấn A, chị Lê Thị Thùy L2, anh Nguyễn Quang D1, anh Nguyễn Anh Đ3, chị Phạm Thu Y1, anh Phạm Đình Đ4, anh Bùi Văn T8, anh Vũ Thế D2, đều vắng mặt.
Người giám hộ của anh Nguyễn Quang D1: Chị Vũ Thị T9, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
Người giám hộ của anh Nguyễn Anh Đ3: Bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1968; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 28/10/2023, tại Quốc lộ C thuộc địa phận khu phố Đ, thị trấn V, huyện V, thành phố Hải Phòng, nhóm của các bị cáo Đỗ Minh T, Phạm Xuân D, Lưu Đình M, Trần Thành Đ và nhóm của các bị cáo Hoàng Trung T3, Nguyễn Ngọc V, Phạm Hải L1, Nguyễn Thành N1 đã có hành vi xô xát, đánh cãi chửi nhau làm náo động trật tự ở nơi công cộng và gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.
Quá trình điều tra xác định được: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 28/10/2023, sau khi dự liên hoan sinh nhật của Phạm Việt H3, sinh ngày 29/10/2006 tại thôn G, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng, Hoàng Trung T3 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade mang biển kiểm soát 15B3-131.00 chở Nguyễn Ngọc V; Nguyễn Thành N1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade mang biển kiểm soát 15H1- 424.90; Nguyễn Quang D1, sinh ngày 31/01/2006 ở thôn Đ, xã T, huyện T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave 50cc mang biển kiểm soát 15AH1-181.54 chở Hoàng Trung Đ1, sinh ngày 24/5/2006 ở thôn G, xã Đ, huyện T cùng rủ nhau đi đến thị trấn V, huyện V để uống nước. Trên đường đi gặp Phạm Hải L1, sinh năm 2006 ở thôn G, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng điều khiển xe Exciter (chưa xác định được biển kiểm soát) nên Đ1 rủ L1 đi cùng. Khi cả nhóm đi trên Quốc lộ A thuộc địa phận thôn Đ, xã D, huyện V thì gặp Nguyễn Anh Đ3, sinh ngày 12/09/2008 ở thôn Đ, xã T, huyện T, Đ3 xin đi cùng rồi ngồi phía sau xe của N1. Cả nhóm đi xe vòng quanh thị trấn V nhưng quán nước đóng cửa nên Đ3 có đứng gần khu vực đối diện nhà thi đấu đa năng huyện V chửi một vài câu rồi cả nhóm đi tiếp. Lúc này, Đỗ Minh T đang ngồi uống nước cùng vợ chồng Nguyễn Tuấn A, Lê Thị Thùy L2 ở thôn C, xã T, huyện V; Lưu Đình M và Phạm Thế Đ2 ở thôn L, xã V, huyện V tại quán “Yến Xôi” ở khu vực vỉa hè đối diện Nhà thi đấu đa năng huyện V có nghe thấy Đại chửi. Một lúc sau, T mượn xe mô tô của
3
người khách tên L1 cũng đang uống nước ở quán để đi mua thuốc lá. Trên đường đi, T gặp nhóm thanh niên trên tại khu vực ngã ba Công viên B thuộc địa phận khu phố C, thị Trấn V, huyện V nên chặn xe do N1 điều khiển chở Đ3 ngồi phía sau và nói: “mày vừa chửi ai đấy?” Nam đáp lại: “tao có chửi mày đâu” rồi tiếp tục đi sang đường. T cầm gạch ném về phía xe của N1 và trúng vào chân của Đ3 nhưng không gây thương tích rồi T phóng xe bỏ đi. Đại hô mọi người trong nhóm “đuổi đi, đuổi đi”. Thấy vậy, mọi người trong nhóm cùng đuổi theo T. Khi đi đến ngã ba đèn xanh đèn đỏ, địa phận khu phố A, thị Trấn V, huyện V, Đ3 bảo N1 dừng xe để Đ3 xuống nhặt gạch ở đường ném T nhưng không trúng và chửi “đm mày đứng lại”. Cùng lúc này, T3 điều khiển xe mô tô chở V đi đến chặn xe của T nhưng không chặn được. T tiếp tục điều khiển xe đi đến phía trước cửa hàng F thuộc khu phố Đ thì bị L1 điều khiển xe Exciter chặn lại. V xuống xe đạp đổ xe của T và cùng T3 lao vào dùng chân tay đánh T. Thấy T túm được người T3 đánh lại nên V bỏ chạy. Đ3 tiếp tục cầm gạch ném còn N1 phóng xe đi đến gần chỗ T3 đang đánh nhau để chờ Đ3 cùng nhau vào đánh T. Lưu Đình M, Phạm Thế Đ2, Nguyễn Tuấn A ở trong quán nước chạy ra can ngăn T thì bị Đ3 ném gạch nhưng không trúng. M có nhặt viên gạch lên chạy ra đường, còn Tuấn A hỏi Đ3: “ô sao mày ném gạch vào bọn tao” thì Đại đáp: “bố mày thích đáp đấy”. L1 thấy mọi người trong quán nước chạy ra nên bỏ chạy. Lúc này, Trần Thành Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade không mang biển kiểm soát chở Phạm Xuân D đang trên đường đi đến bến xe V thì nhìn thấy T là bạn của Đ và D bị đánh nên dừng lại. Đ3 thấy có người cầm kiếm nên hô N1 bỏ chạy. Khi thấy Nguyễn Quang D1 điều khiển xe mô tô chở Hoàng Trung Đ1 đi đến, D dùng chiếc kiếm bằng kim loại dài khoảng 60cm trước đó nhặt được trên đường đi chém vào lưng Đ1 làm Đ1 ngã xuống đường, Đ cũng xuống xe chạy đến dùng tay chân đánh Đ1. Lúc này M cầm gạch chạy đến đá vào người Đ1 và hỏi “mày có phải đứa ném gạch vào tao không?”. Đ1 bảo “không anh ơi, bọn kia nó đáp chứ em không đáp”. M tiếp tục cầm gạch chạy đuổi theo nhóm thanh niên nhưng không đuổi kịp. Còn Đ và D quay trở lại cùng T đấm đá T3. Khi thấy Đ3 và N1 bỏ chạy thì Tuấn A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu VARIO không đeo biển kiểm soát đuổi theo N1 và Đ3 về phía Công viên B được khoảng 100 mét để hỏi về việc tại sao ném gạch nhưng không đuổi kịp do họ phóng nhanh nên Tuấn A quay lại quán nước. Lúc này, T và mọi người cũng dừng đánh nhau và yêu cầu T3 đi vào quán nước “Yến Xôi” trình bày tên tuổi địa chỉ rồi cho đi. Đ1 và T3 bị thương được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Đ5, V sau đó chuyển Bệnh viện H4 điều trị. Đến ngày 09/11/2023 Hoàng Trung T3 đến Công an huyện V đầu thú, ngày 18/11/2023 Phạm Xuân D đến Công an huyện V đầu thú, ngày 07/7/2024 Trần Thành Đ đến Công an huyện V đầu thú.
Tại bản kết luận giám định số 802/2023/KLTTCT-TTPYHP ngày 05/12/2023 của Trung tâm P1 kết luận về thương tích của Hoàng Trung Đ1 như sau:
“1. Các kết quả chính: Sẹo vết thương vùng lưng kích thước trung bình (chiều rộng dưới 0,5cm); gây gai sau đốt sống L1; tổn thương đứt một phần cơ thang, cơ lưng rộng, cơ răng sau dưới, cơ dựng gai đã được khâu nối phục hồi.
4
2. Kết luận: Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/08/2019 của Bộ trưởng Bộ Y2 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hoàng Trung Đ1 - sinh năm 2006 tại thời điểm giám định là: 10% (Mười phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư, trong đó: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết thương vùng lưng gây nên là: 02% (Hai phần trăm); tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do gãy gai sau đốt sống L1 gây nên là: 08% (Tám phần trăm); tổn thương đứt một phần cơ thang, cơ lưng rộng, cơ răng sau dưới, cơ dựng gai đã được khâu nối phục hồi, không có hướng dẫn tỷ lệ phần trăm tổn thương tại Thông tư hiện hành nên không có căn cứ tính tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Kết luận khác: Các thương tích trên có đặc điểm do vật sắc tác động trực tiếp gây nên”.
Tại bản Kết luận giám định số 806/2023/KLTTCT - TTPYHP ngày 05 tháng 12 năm 2023 của Trung tâm P1 về kết luận về thương tích của Hoàng Trung T3 như sau:
“1. Các kết quả chính: Tổn thương gãy xương chính mũi hai bên, không ảnh hưởng chức năng thở; tổn thương chấn động não, Glasgow 14 điểm, đã điều trị ổn định, không tổn thương nội sọ, không tổn thương xương sọ. Điện não đồ không thấy bất thường; vết xây xước da vùng trán phải để lại nền da nhẫn màu hồng nhạt, gần giống màu da.
2. Kết luận: Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/08/2019 của Bộ trưởng Bộ Y2 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hoàng Trung T3 - sinh năm 2005 tại thời điểm giám định là: 09% (Chín phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư, trong đó: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tổn thương gãy xương chính mũi hai bên, không ảnh hưởng chức năng thở gây nên là: 08% (Tám phần trăm); tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tổn thương chấn động não, Glasgow 14 điểm đã điều trị ổn định, không tổn thương nội sọ, không tổn thương xương sọ; điện não đồ không thấy bất thường gây nên là: 01% (Một phần trăm); vết xây xước da vùng trán phải để lại nền da nhẫn màu hồng nhạt, gần giống màu da, không được ghi nhận ban đầu trong hồ sơ bệnh án, không tính tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Kết luận khác: các thương tích trên có đặc điểm do vật tày (tay chân cũng là vật tày) tác động trực tiếp gây nên”.
Tại bản kết luận giám định số 935/KL-KTHS ngày 20/02/2024 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận giám định về các tập tin video thu được từ các hộ dân xung quanh khu vực hiện trường như sau: “03 tập tin Video có phần mở rộng “MP4” tổng dung lượng 72,9 MB được lưu trong 01 USB nhãn hiệu Kingston 8GB đã qua sử dụng (ký hiệu A) không tìm thấy dấu vết chỉnh sửa nội dung hình ảnh. Trích xuất 18 hình ảnh nghi liên quan đến vụ việc được lập thành bản ảnh kèm theo”.
Ngày 17/11/2023, đại diện lãnh đạo Khu phố 3/2, khu phố Đ, khu phố A thị trấn V và Ủy ban nhân dân thị trấn đều có đơn phản ánh tình trạng các thanh thiếu
5
niên sử dụng hung khí, tụ tập gây rối với diễn biến phức tạp, diễn ra công khai tại khu vực đông dân cư gây tâm lý hoang mang, lo lắng, bức xúc cho người dân trên địa bàn thị trấn V, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương và đề nghị Công an huyện điều tra làm rõ hành vi của các đối tượng để xử lý theo quy định pháp luật.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V và tại phiên toà các bị cáo Đỗ Minh T, Phạm Xuân D, Hoàng Trung T3, Nguyễn Ngọc V, Lưu Đình M, Trần Thành Đ, Phạm Hải L1 và Nguyễn Thành N1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Về dân sự: Quá trình điều tra, Phạm Xuân D đã bồi thường cho Hoàng Trung Đ1 số tiền 150.000.000 đồng, Đỗ Minh T và Phạm Xuân D đã bồi thường cho Hoàng Trung T3 tổng số tiền 10.000.000 đồng. Hiện T3 và Đ1 không có yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho D, T và những đối tượng khác có liên quan. Chị Phạm Thu Y1 là chủ quán nước “Yến Xôi” xác nhận quán không bị thiệt hại về tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì.
Tại bản Cáo trạng số 75/CT-VKS ngày 30/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo truy tố các bị cáo Đỗ Minh T, Phạm Xuân D, Hoàng Trung T3, Nguyễn Ngọc V, Lưu Đình M, Trần Thành Đ, Phạm Hải L1 và Nguyễn Thành N1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố các bị cáo Đỗ Minh T, Phạm Xuân D, Hoàng Trung T3, Nguyễn Ngọc V, Lưu Đình M, Phạm Hải L1 và Nguyễn Thành N1 đồng phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”, đồng thời đề nghị: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 (Áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đỗ Minh T và Phạm Xuân D), xử phạt các bị cáo: Đỗ Minh T và Phạm Xuân D mỗi bị cáo từ 33 đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng; các bị cáo Hoàng Trung T3, Lưu Đình M, Nguyễn Ngọc V mỗi bị cáo từ 30 đến 33 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng; bị cáo Nguyễn Thành N1 từ 27 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 54 đến 60 tháng. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; các điều 17; 58; 90; 91; 101 và Điều 38 (Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Thành Đ), xử phạt các bị cáo: Trần Thành Đ từ 22 đến 24 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/10/2024; Phạm Hải L1 từ 20 đến 22 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án; về dân sự: Không xem xét giải quyết; về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Thành Đ không có ý kiến gì về tội danh, khung hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo; người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân
6
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và khung hình phạt: Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo Đỗ Minh T, Phạm Xuân D, Hoàng Trung T3, Nguyễn Ngọc V, Lưu Đình M, Trần Thành Đ, Phạm Hải L1 và Nguyễn Thành N1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, lời khai người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 28/10/2023, do lúc ngồi uống nước tại quán Y3 thuộc khu phố Đ, thị trấn V, huyện V. Đỗ Minh T thấy Nguyễn Anh Đ3 đi cùng một số thanh thiếu niên có chửi bậy nên khi gặp nhóm của Đ3 tại khu vực ngã 3 bờ hồ thuộc địa phận khu phố C thị trấn V, Đỗ Minh T có hỏi lý do và cầm gạch ném vào chân Đ3 rồi phóng xe mô tô bỏ đi. Thấy vậy, Đ3 có hô mọi người trong nhóm của Đ3 đuổi theo T với mục đích đánh nhau. Khi Nguyễn Thành N1 chở Đ3 đuổi đến khu vực ngã ba chợ huyện V, Đ3 bảo N1 dừng xe để Đ3 nhặt gạch ném T nhưng không trúng, Đ3 tiếp tục nhặt gạch ném về phía quán nước gần đó còn Phạm Hải L1 điều khiển xe mô tô chặn xe của T, Nguyễn Ngọc V đạp đổ xe của T rồi cùng Hoàng Trung T3 đánh nhau với T. Khi Nguyễn Quang D1 điều khiển xe mô tô chở Hoàng Trung Đ1 ngồi phía sau đi đến gần khu vực đánh nhau thì Đ1 bị Phạm Xuân D dùng kiếm chém vào lưng. Thấy vậy, Trần Thành Đ, Lưu Đình M cũng chạy đến dùng chân tay đánh Đ1, D và Đ chạy đến dùng chân tay đánh T3. Hành vi nêu trên của các bị cáo đã làm cho Hoàng Trung Đ1 bị thương gây tổn hại 10% sức khỏe, Hoàng Trung T3 bị thương gây tổn hại 09% sức khỏe và gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội của địa phương. Hành vi của Đỗ Minh T, Phạm Xuân D, Hoàng Trung T3, Nguyễn Ngọc V, Lưu Đình M, Trần Thành Đ, Phạm Hải L1 và Nguyễn Thành N1 đã đủ yếu tố cầu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” với tình tiết định khung quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.
[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, cũng cần xem xét đánh giá vai trò,
7
tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân đối với từng bị cáo để áp dụng hình phạt tương xứng.
[4] Về vai trò của các bị cáo: Vụ án có 02 nhóm đối tượng tham gia, trong đó nhóm của Đỗ Minh T (gọi là nhóm V) có Đỗ Minh T, Phạm Xuân D, Trần Thành Đ và Lưu Đình M; nhóm của Hoàng Trung T3 (gọi là nhóm T) có Nguyễn Ngọc V, Hoàng Trung T3, Phạm Hải L1 và Nguyễn Thành N1 tham gia, giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, câu kết chặt chẽ khi thực hiện hành vi phạm tội nên đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Tuy nhiên, cần đánh giá nguyên nhân dẫn đến vụ việc là do sự mâu thuẫn về việc Đỗ Minh T cho rằng nhóm Tiên L3 chửi T nên đã dùng gạch ném vào nhóm Tiêng L4 sau đó T3 chở V cùng L1, N1 đuổi theo chặn đầu xe của T, hai bên đã xảy ra xô xát, D dùng kiếm chém vào lưng Đ1 rồi cùng Đ, T, M dùng tay chân đánh T3 và Đ1. Do đó, vai trò của các bị cáo được xác định như sau: T và D là người giữ vai trò chính trong vụ án và phải chịu mức hình phạt cao nhất sau đó đến các bị cáo Nguyễn Ngọc V, Hoàng Trung T3, Trần Thành Đ, Lưu Đình M, Phạm Hải L1 và Nguyễn Thành N1.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo Đỗ Minh T có ông nội là ông Đỗ Bá L5 là liệt sỹ có Bằng tổ quốc ghi công, bị cáo Nguyễn Thành N1 có tham gia nghĩa vụ quân sự, có ông ngoại là ông Lê Văn T10 là người có công với nước được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì; bị cáo Lưu Đình M có bố đẻ là ông Lưu Đình T5 được tặng kỷ niệm chương vì đã có thành tích trong chiến đấu, phục vụ công tác trên biên giới phía bắc tổ quốc; các bị cáo Phạm Xuân D, Trần Thành Đ, Hoàng Trung T3 sau khi phạm tội đã ra đầu thú; bị cáo D có ông N2 là Bùi Văn Q là người có công với nước, được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì; bị cáo Đ có ông ngoại là Đỗ Hữu X là người có công với nước, được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhất; bị cáo Nguyễn Ngọc V hiện là sinh viên được tặng giấy khen trong quá trình học tập, có đơn xin hưởng án treo được địa phương xác nhận đồng ý nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo Đỗ Minh T và Phạm Xuân D đã bồi thường thiệt hại cho Hoàng Trung Đ1 và Hoàng Trung T3 nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Về nhân thân: Các bị cáo Đỗ Minh T, Phạm Xuân D, Hoàng Trung T3, Nguyễn Ngọc V, Lưu Đình M và Nguyễn Thành N1 đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo này khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho các bị cáo dược hưởng án treo như đê nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà cũng đảm bảo tính giáo dục và phòng ngừa chung; đối với bị cáo
8
Trần Thành Đ tính đến thời điểm phạm tội được 16 năm, 06 tháng, 02 ngày tuổi; bị cáo Phạm Hải L1 tính đến thời điểm phạm tội được 17 năm, 9 tháng, 23 ngày tuổi nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 90; 91 của Bộ luật Hình sự để áp dụng đối với hai bị cáo này. Tuy nhiên, đối với bị cáo Trần Thành Đ đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H khởi tố về hành vi Mua bán trái phép chất ma tuý theo khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Phạm Hải L1 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H khởi tố về hành vi Gây rối trật tự công cộng xảy ra vào tối ngày 13/01/2024 theo khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 101 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, cách ly hai bị cáo này khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của Kiểm sát viên mới đảm bảo tính giáo dục và phòng ngừa chung.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Phạm Xuân D đã bồi thường cho Hoàng Trung Đ1 số tiền 150.000.000 đồng, Đỗ Minh T và Phạm Xuân D đã bồi thường cho Hoàng Trung T3 tổng số tiền 10.000.000 đồng. Hiện T3 và Đ1 không có yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho D, T và những đối tượng khác có liên quan nên Hội đồng xét xử không xét. Đối với chị Phạm Thu Y1 là chủ quán nước “Yến Xôi” xác nhận quán không bị thiệt hại về tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xét.
[9] Về vật chứng:
[9.1] Đối với 01 USB bên trong chứa tệp video ghi lại nội dung vụ án, sau khi giám định đã được niêm phong lại trong 01 chiếc phong bì riêng và được đánh số bút lục lưu tại hồ sơ vụ án; đối với 02 mẫu máu thu tại hiện trường đến nay không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ; đối với 01 chiếc quần đùi màu đen, gấu quần có viền kẻ màu đỏ, trắng thu của bị cáo Trần Thành Đ là trang phục của bị cáo Đ, không phải là công cụ phạm tội nên trả lại cho Đ.
[9.2] Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade mang biển kiểm soát 15H1- 424.90 do Nguyễn Thành N1 tự nguyện giao nộp; 01 xe mô tô nhãn hiệu VARIO không gắn biển kiểm soát do Nguyễn Tuấn A tự nguyện giao nộp. Qua xác minh xe mô tô mang biển kiểm soát 15H1- 424.90 được đăng ký mang tên anh Phạm Đình Đ4, sinh năm 2001 ở thôn A, xã T, huyện T. Theo anh Đ4 cho biết anh có đứng tên đăng ký xe này nhưng vào ngày 20/10/2023 anh đã bán chiếc xe này cho ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1978 ở ở Nông trường Q, xã Đ, huyện T (là bố đẻ của Nguyễn Thành N1). Theo ông H2 cho biết, tối ngày 28/10/2023 ông có cho N1 mượn xe để đi chơi nhưng không biết việc N1 dùng xe đuổi nhau, gây rối trật tự công cộng ở thị trấn V. Đối với xe mô tô nhãn hiệu VARIO không mang biển kiểm soát qua xác minh được đăng ký mang tên chị Trần Thị Thùy T11, sinh năm 1970 ở Ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh. Ngày 26/9/2023, chị T11 đã bán chiếc xe này cho anh Vũ Thế D2, sinh năm 1986 ở số B C, tổ E, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng. Theo anh D2 cho biết anh D2 có mua xe của chị T11 và đã bán lại chiếc xe này cho anh Bùi Văn T8, sinh năm 1991 ở số H, khu phố Đ, thị trấn V, huyện V. Theo anh T8 cho biết, sau khi mua xe của anh D2 anh đã bán
9
chiếc xe trên cho Nguyễn Tuấn A. Do đó, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cho mô tô mang biển kiểm soát 15H1- 424.90 cho ông Nguyễn Văn H2 và trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu VARIO cho Nguyễn Tuấn A là chủ sở hữu hợp pháp quản lý sử dụng là đúng quy định của pháp luật.
[9.3] Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade mang biển kiểm soát 15B3-131.00 do Hoàng Trung T3 điều khiển chở Nguyễn Ngọc V, là xe của anh Đinh Mạnh D3, sinh năm 1993 ở số E, đường H, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng là anh rể của V cho V mượn để đi lại nhưng đến nay anh D3 không có mặt tại địa phương nên chưa thể xác định được chiếc xe đang ở đâu và do ai quản lý nên đến nay không thu giữ được.
[9.4] Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave chưa rõ biển kiểm soát do Nguyễn Quang D1 điều khiển chở Hoàng Trung Đ1, là xe của bố mẹ D1 là bà Vũ Thị T9, sinh năm 1986 và ông Nguyễn Văn T12, sinh năm 1985 ở thôn Đ, xã T, huyện T mua cho D1 để đi lại nhưng do D1 hay dùng xe để đi chơi nên bố mẹ D1 đã bán chiếc xe cho người khác nên đến nay không thu giữ được.
[9.5] Đối với xe mô tô nhãn hiệu Exciter chưa rõ biển kiểm soát do Phạm Hải L1 điều khiển là xe của L1 nhưng sau khi xảy ra sự việc L1 đã bán chiếc xe cho người không quen biết nên đến nay không thu giữ được.
[9.6] Đối với thanh kiếm Phạm Xuân D sử dụng để đánh Hoàng Trung Đ1, do D đã vứt đi, Cơ quan điều tra đã ra thông báo truy tìm nhưng đến nay không tìm được.
[10] Đối với thương tích của Hoàng Trung T3 là 9% và thương tích của Hoàng Trung Đ1 là 10%. Do Hoàng Trung T3 và Hoàng Trung Đ1 không yêu cầu khởi tố về hành vi Cố ý gây thương tích nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V không xử lý là đúng quy định của pháp luật.
[11] Đối với Nguyễn Anh Đ3, khi thực hiện hành vi phạm tội mới được 15 năm, 01 tháng, 16 ngày tuổi nên không đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển tài liệu có liên quan đến Đ3 cho Công an huyện V để ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng là đúng quy định của pháp luật.
[12] Đối với Nguyễn Tuấn A có hành vi đuổi theo xe mô tô do Nguyễn Thành N1 điều khiển chở Nguyễn Anh Đ3 ngồi phía sau chỉ để hỏi rõ lý do vì sao Đ3 ném gạch về phía nhóm Tuấn A nhưng sau đó đã dừng đuổi theo do xe của N1 bỏ chạy với tốc độ cao. Ngoài ra Tuấn A không có hành vi gì khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V không xử lý đối với Tuấn A là đúng quy định của pháp luật.
[13] Đối với việc Nguyễn Quang D1 điều khiển xe mô tô chở Hoàng Trung Đ1 ngồi phía sau đi theo nhóm của Nguyễn Thành N1 đuổi Đỗ Minh T đến khu vực phía trước cửa hàng V2, khu phố Đ, thị trấn V thì Đ1 bị Phạm Xuân D, Trần Thành Đ, Lưu Đình M đánh nên Đ1 và D1 bỏ chạy, không tham gia đánh nhau nên
10
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V không xử lý đối với D1, Đ1 là đúng quy định của pháp luật.
[14] Đối với Phạm Thế Đ2 có mặt tại nơi xảy ra vụ án nhưng không có hành động gì, chỉ vào can ngăn nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V không xử lý là đúng quy định của pháp luật.
[15] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[16] Về quyền kháng cáo bản án: Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 (Áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51 đối với bị cáo Đỗ Minh T và bị cáo Phạm Xuân D) và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố
các bị cáo Đỗ Minh T, Phạm Xuân D, Hoàng Trung T3, Nguyễn Ngọc V, Lưu Đình M và Nguyễn Thành N1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Xử phạt:
- Bị cáo Đỗ Minh T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Bị cáo Phạm Xuân D 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Bị cáo Hoàng Trung T3 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Bị cáo Nguyễn Ngọc V 30 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm
- Bị cáo Lưu Đình M 30 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Bị cáo Nguyễn Thành N1 27 (Hai mươi bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 54 (năm tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đỗ Minh T cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Giao bị cáo Phạm Xuân D cho Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện V, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
11
Giao bị cáo Lưu Đình M cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Giao các bị cáo Hoàng Trung T3, Nguyễn Ngọc V và Nguyễn Thành N1 cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành ánh hình sự như sau:
Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật Thi hành án hình sự.
Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.
2. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51 (Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Thành Đ); các điều 17; 58; 90; 91; 101 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố
bị cáo Trần Thành Đ và bị cáo Phạm Hải L1 đồng phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”, xử phạt:
- Bị cáo Trần Thành Đ 22 (Hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
12
- Bị cáo Phạm Hải L1 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Căn cứ Điều 125 của Bộ luật Hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các các bị cáo Đỗ Minh T, Phạm Xuân D, Hoàng Trung T3, Nguyễn Ngọc V, Lưu Đình M và Nguyễn Thành N1.
Căn cứ vào khoản 4 Điều 123 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Phạm Hải L1 cho đến khi bị cáo đi chấp hành án phạt tù.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 02 mẫu máu thu tại hiện trường; trả lại cho bị cáo Trần Thành Đ 01 chiếc quần đùi màu đen, gấu quần có viền kẻ màu đỏ, trắng. Toàn bộ vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q1 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Đỗ Minh T, Phạm Xuân D, Hoàng Trung T3, Nguyễn Ngọc V, Lưu Đình M, Trần Thành Đ, Phạm Hải L1 và Nguyễn Thành N1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo bản án: Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Thành Đ, người bào chữa cho bị cáo Trần Thành Đ có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo đối với phần có liên quan trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
6. Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Đức Vịnh |
13
- - UBND thị trấn Vĩnh Bảo, huyện Vĩnh Bảo;
- - UBND xã Vinh Quang, huyện Vĩnh Bảo;
- - UBND thị trấn Vĩnh Bảo, huyện Vĩnh Bảo;
- - UBND xã Tân Liên, huyện Vĩnh Bảo;
- - UBND xã Đại Thắng, huyện Tiên Lãng;
- - Các bị cáo;
- - Người đại diện hợp pháp, người bào chữa cho bị cáo
- Trần Thành Đạt;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
- - Lưu: Hành chính tư pháp, hồ sơ vụ án.
14
Bản án số 90/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 90/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HSST
