|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 90/2024/HS-ST
Ngày 14- 11 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Hồng Đức
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Viết Nguyên
Ông Trần Văn Hưng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Vinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 91/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024;
Đối với các bị cáo:
- Họ tên: Lưu Văn T. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.
Sinh ngày 09/6/1997 tại xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12; Bố: Lưu Duy P, sinh năm 1965; Mẹ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1967; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình.
Vợ: Hoàng Thị L1, sinh năm: 1997; Có 01 con, sinh năm 2020.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/02/2024 đến ngày 11/7/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn khác “Bảo lĩnh” cho đến nay.
- Họ tên: Trần Văn Đ. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.
Sinh ngày 21/11/1981 tại thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi ĐKHKTT: Khu phố N, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi ở hiện nay: Thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 07/12; Bố: Trần Anh N, sinh năm 1950; Mẹ: Trương Thị L2, sinh năm 1957; Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Vợ: Trần Thị V, sinh năm 1988; Có 01 con, sinh năm 2019.
Tiền án: Không.
Tiền sự: 01 tiền sự: Ngày 26/7/2023, bị Công an huyện Y xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Buôn bán hàng cấm” (đã nộp phạt ngày 14/8/2023).
Bị cáo bị khởi tố và áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 19/7/2024 đến nay.
- Họ tên: Ngô Hoàng A. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.
Sinh ngày 10/02/1987 tại thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Khu phố T, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 11/12; Bố: Ngô Tiến M (đã chết);Mẹ: Nguyễn Thị P1, sinh năm 1958; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ: Đỗ Thị H, sinh năm 1989; Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2021.
Tiền án: 01 tiền án: Ngày 07/12/2021, bị TAND huyện Yên Định xử phạt 15 tháng cải tại không giam giữ theo Bản án số 61/2021/HSST về tội “Đánh bạc” (tính đến ngày 24/12/2023, bị cáo chưa chấp hành xong bản án này).
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị khởi tố và áp dụng biện pháp “ Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 19/7/2024 đến nay.
- Họ tên: Lê Ngọc V1. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.
Sinh ngày 04/01/1982 tại thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Khu phố N, thị trấn Q, huyện Y, Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 6/12; Bố: Lê Văn T1 (đã chết) Mẹ: Lê Thị N1, sinh năm 1948; Gia đình có 05 anh chị em, bị can là con thứ tư trong gia đình; Vợ: Lê Thị N2, sinh năm 1986; Có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2014.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 07/7/2008 bị Tòa án ND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 24 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án và đã được xóa án tích.
Bị cáo bị khởi tố và áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 19/7/2024 đến nay.
- Họ tên: Lưu Văn L3. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.
Sinh ngày 24/9/1972 tại thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Khu phố N, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 07/12; Bố: Lưu Văn L4 (đã chết); Mẹ: Lê Thị L5, sinh năm 1944; Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ: Lê Thị T2, sinh năm 1976; Có 02 con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 2000.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị khởi tố và áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 19/7/2024 đến nay.
- Họ tên: Lê Ngọc S. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.
Sinh ngày 02/6/1987 tại thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Khu phố N, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12; Bố: Lê Minh C, sinh năm 1952; Mẹ: Trần Thị D, sinh năm 1949; Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ năm trong gia đình; Vợ: Lê Thị T3, sinh năm 1987; Có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2019.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị khởi tố và áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 19/7/2024 đến nay.
- Họ tên: Trần Tuấn A1. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.
Sinh ngày 20/10/1992 tại xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, huyện Y, Thanh Hóa.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12; Bố: Trần Đình H1, sinh năm 1965; Mẹ: Ngô Thị M1, sinh năm 1972; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Bị cáo có vợ nhưng đã ly hôn; Có 01 con, sinh năm 2020;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị khởi tố và áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 19/7/2024 đến nay.
Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
Bà Lê Thị N2, sinh năm 1986; Có mặt
Địa chỉ: Thôn N, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa;
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Lưu Văn H2, sinh năm 1991
Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào ngày 14/12/2023, Lưu Văn H2 (sinh năm 1991 ở thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa) đặt mua 01 tập 50 tờ giấy giống tiền dollars Mỹ ghi số 100 USD với giá 100.000 đồng bao gồm cả phí giao hàng và trả tiền khi nhận hàng trên trang điện tử mua sắm Shopee, với mục đích để lưu niệm, khi nhận hàng thì H2 đã chơi và làm rách 04 tờ, còn lại 46 tờ Hiệu để trong ví của mình và cất trong buồng ngủ của mình. Các tờ giấy giống tiền dollars M2 ghi số 100 USD đều có cùng seri với nhau và có chữ copy trên 2 mặt.
Khoảng giữa tháng 12/2023, Lưu Văn T thấy trong ví của anh trai mình là Lưu Văn H2 để trong buồng ngủ của anh H2 ở cùng nhà, có các tờ giấy giống tiền dollars M2 ghi số 100 USD nên T lấy khoảng 7 hoặc 8 tờ cất vào ví mình. Hôm sau, T đến nhà chị Lê Thị N2 (sinh năm 1986 ở khu phố N, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa) chơi. Tại đây, T lấy các tờ giấy giống tiền dollars Mỹ ghi số 100 USD nói với chị Nghĩa L7 tiền đô la M2 mệnh giá 100 đô và cho T đổi sang tiền Việt Nam đồng. Chị N2 không thông thạo về tiền đô la Mỹ nên nghĩ đó là tiền đô la M2 mệnh giá 100 đô thật nên đồng ý, chị N2 và T thống nhất cứ 01 tờ 100 đô chị N2 sẽ đổi cho T số tiền 2.000.000 đồng. Khi đó, T đưa cho chị N2 2 hoặc 3 tờ thì chị N2 đưa cho T số tiền tương ứng là 4.000.000 đồng hoặc 6.000.000 đồng rồi T sử dụng số tiền Việt Nam đồng để đánh bài tại nhà chị N2 và chi tiêu cá nhân. T biết chị N2 không biết các tờ giấy giống tiền dollars Mỹ ghi số 100 USD là giả nên mấy ngày sau đó T tiếp tục lấy các tờ giấy giống tiền dollars Mỹ ghi số 100 USD trong ví của anh H2 rồi tiếp tục đến nhà chị N2 chơi đổi các tờ giấy giống tiền dollars Mỹ ghi số 100 USD để lấy tiền Việt Nam đồng, khi đó T nói với chị Nghĩa là T4 đang chuẩn bị đi xuất khẩu lao động bên Đài Loan nên có nhiều tờ tiền đô la Mỹ, chị N2 không biết các tờ giấy giống tiền dollars Mỹ ghi số 100 USD là giả nên đồng ý đổi cho T4. Trong khoảng thời gian từ giữa tháng 12/2023 đến ngày 24/12/2023, T4 đã nhiều lần đổi các tờ giấy giống tiền dollars ghi số 100 USD cho chị N2 và Lê Ngọc V1 (chồng chị N2). Tổng cộng, T4 đã đổi 31 tờ giấy giống tiền dollars Mỹ ghi số 100 USD lấy số tiền 62.000.000 đồng của gia đình chị N2 rồi sử dụng để đánh bạc và chi tiêu cá nhân hết.
Đến ngày 05/01/2024, chị N2 phát hiện 31 tờ giấy giống tiền dollars Mỹ ghi số 100 USD mà T4 đổi là giả nên gọi điện cho T4 và yêu cầu T4 trả lại tiền, T4 biết gia đình chị N2 đã phát hiện các đồng dollars là giả nên T4 đồng ý sẽ trả lại tiền nhưng khi đó chưa có tiền nên T4 xin khất trả dần. Từ ngày 14/01/2024 đến ngày 09/02/2024, T4 đã trả lại cho chị N2 được tổng số tiền 19.000.000 đồng, chị N2 đã trả lại cho T4 05 tờ giấy giống tiền dollars ghi số 100 USD.
Đến ngày 19/02/2024, chị N2 gọi điện cho T4 đòi tiền nhưng T4 chưa có nên chị N2 đến Công an huyện trình báo sự việc. Đến ngày 20/02/2024, Lưu Văn T đến Công an huyện Y xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Quá trình điều tra, xác minh chị Lê Thị N2 đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra 26 tờ giấy giống tiền dollars Mỹ ghi số 100 USD. Tiến hành khám xét khẩn cấp đã thu giữ của Lưu Văn T 10 tờ giấy giống tiền dollars Mỹ ghi số 100 USD và Lưu Văn H2 tự nguyện giao nộp 10 tờ giấy giống như tiền dollars Mỹ ghi số 100 USD. Tổng cộng, Cơ quan điều tra đã thu giữ 46 tờ giấy giống tiền dollars Mỹ ghi số 100 USD để phục vụ quá trình điều tra.
Quá trình điều tra Lưu Văn T khai báo đã sử dụng toàn bộ số tiền 62.000.000 đồng từ việc đổi 31 tờ giấy giống tiền dollars Mỹ ghi số 100 USD cho chị N2 và anh V1 vào việc đánh bạc hết, tuy nhiên quá trình điều tra chỉ chứng minh được hành vi của Lưu Văn T đánh bạc vào tối ngày 24/12/2023 cùng với Trần Văn Đ, Lưu Văn L3, Lê Ngọc S, Ngô Hoàng A và Trần Tuấn A1 tại nhà Lê Ngọc V1. Cụ thể như sau: Vào tối 24/12/2023 (tức vào Đêm N), Trần Văn Đ, Lưu Văn L3, Lê Ngọc S đến nhà Lê Ngọc V1 (nhà Văn gần nhà thờ N3) chơi, ngồi uống nước ở bàn ghế đá cùng với một số người khác. Quá trình ngồi chơi thì có người rủ chơi bài ăn tiền (nhưng không rõ là ai vì khi đó có rất đông người). Sau đó, Đ cùng với S và L3 đi lên trên tầng 2 nhà Văn để chơi bài ăn tiền với nhau thì thấy có sẵn 01 bộ bài và chiếu đang chải sẵn nên Đ, S và L3 bắt đầu ngồi đánh bài ăn tiền với nhau bằng hình thức đánh ba cây. Tiếp đó, lần lượt có Ngô Hoàng A, Lưu Văn T và Trần Tuấn A1 đến nhà Văn chơi và tham gia đánh bạc cùng với Đ, S và L3 đến khoảng 24 giờ cùng ngày thì nghỉ.
Quá trình điều tra chứng minh được: Trước khi tham gia đánh bạc, Trần Văn Đ sử dụng số tiền khoảng 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng để đánh bạc, sau khi nghỉ đánh bạc Đ không đếm lại nên không biết được thua thế nào; Lưu Văn L3 sử dụng số tiền khoảng 1.300.000 đồng để đánh bạc và thua khoảng 1.000.000 đồng; Lê Ngọc S sử dụng số tiền 700.000 đồng để đánh bạc và thua hết; Ngô Hoàng A đã sử dụng số tiền khoảng 400.000 đến 500.000 đồng để đánh bạc và thua hết; Lưu Văn T sử dụng số tiền là 2.500.000 đồng (trong đó có 500.000 đồng T mang theo và 2.000.000 đồng T vừa lấy của Lê Ngọc V1 trước khi đánh bạc, đây là số tiền do T đổi các tờ giấy giống tiền dollars ghi số 100 USD cho V1 vào chiều ngày 24/12/2023 nhưng V1 đưa còn thiếu) và T bị thua hết; Trần Tuấn A1 sử dụng số tiền khoảng 1.000.000 đồng để tham gia đánh bạc và thua mấy trăm nhưng không nhớ cụ thể. Khi các đối tượng đánh bạc tại tầng 2 nhà Lê Ngọc V1 thì V1 biết và đồng ý. Quá trình đánh bạc
không bố trí người trông coi, canh gác, không ai vay mượn hay cầm cố tài sản, những người tham gia đã góp số tiền khoảng 300.000 đồng đến 400.000 đồng đưa cho Lê Ngọc V1 để phục vụ nước, thuốc lá.
Các bị cáo đánh bạc bằng hình thức chơi bài ba cây được thua bằng tiền: Cụ thể: Sử dụng một bộ bài tú lơ khơ 52 cây, sử dụng 36 cây bài từ bộ A2 (át) đến bộ I, bỏ các cây bài từ bộ A3, J, Q, K. Trong số các người chơi sẽ có một người cầm chương chia bài cho mỗi người 3 cây bài, những người chơi sẽ đặt cược số tiền đánh thấp nhất là 50.000 đồng, cao nhất thì tuỳ vào người chơi, sau khi đặt cược xong sẽ tính điểm và tính thắng thua với người cầm chương, người thắng là người có số điểm cao hơn và thắng số tiền đã đặt cược. Điểm bài mỗi ván để tính thắng
thua từ cao đến thấp theo thứ tự: Đồng hoa, sáp, rồi thứ tự từ 10 điểm đến 01 điểm. Cách tính điểm là tổng điểm của ba cây bài cộng lại, Cây A T5 là 1điểm, cây 2 tính là 2 điểm cho đến cây 9 tính là 9 điểm; Bài đồng hoa (3 cây bài liên tiếp cùng chất) thì sẽ được ăn gấp 4 lần số tiền người chơi đặt cược; Bài Sáp (3 cây bài giống nhau) thì sẽ được ăn gấp 3 lần số tiền người chơi đặt cược; Bài mỳ (3 cây bài có tổng 10 điểm) thì được gấp đôi tiền đã đặt cược; Tiếp đến là tính điểm (tổng của 3 cây bài) từ điểm 9 đến 1. Khi người chơi được bài mỳ thì sẽ được cầm chương ván tiếp theo. Trường hợp người chơi có số điểm bằng nhau thì sẽ tính từ cao xuống theo chất rô, cơ, tép, bích. Người cao điểm hơn nhà chương thì được nhận tiền tương ứng với số tiền đã đặt cược, nếu thấp hơn thì mất số tiền đã đặt cược.
Do các bị cáo tham gia đánh bạc từ ngày 24/12/2023 nhưng đến ngày 19/02/2024 sự việc mới bị phát hiện nên quá trình điều tra, xác minh không thu giữ được số tiền của các bị cáo đã sử dụng để đánh bạc và cũng không thu giữ được bài, chiếu do sau đó V1 đã vứt và đốt bỏ đi. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, đủ cơ sở xác định tổng số tiền mà các bị cáo đã sử dụng để đánh bạc vào ngày 24/12/2023 tại nhà Lê Ngọc V1 là từ 8.900.000 đồng đến 10.000.000 đồng
Tại Bản kết luận giám định số 1265/KL-KTHS ngày 28/02/2024 của V3 Bộ C1, kết luận: “46 tờ tiền giám định có mệnh giá 100 USD cùng mã số hiệu LL62033872F là các tờ tiền đô la Mỹ giả, được tạo bằng phương pháp in phun màu”.
Tại bản dịch thuật ngày 09/5/2024 của Công ty TNHH T6 dịch nội dung những chữ nước ngoài và các ký tự trên 2 mặt các tờ giấy giống như tiền dollars Mỹ ghi số 100 USD, kết quả dịch như sau: Một mặt in các dòng chữ nước ngoài gồm: “COPY” có ý nghĩa là “Bản sao”; dòng chữ “MOVIE BROP USE ONLY” có ý nghĩa là “Chỉ dùng làm đạo cụ phim”; dòng chữ “NOT LEGAL TENDER” có nghĩa là “Không phải tiền tệ hợp pháp”. Mặt còn lại in dòng chữ nước ngoài gồm: “COPY” có ý nghĩa là “Bản sao”; dòng chữ dưới copy có nghĩa là “Chỉ dùng làm đạo cụ phim”; dòng chữ “MOVIE BROP USE ONLY” có nghĩa là “Chỉ dùng làm đạo cụ phim”; dòng chữ “IN GOD WE TRUST” có nghĩa là “Chúng tôi tin tưởng vào chúa”.
Về vật chứng vụ án: 46 tờ giấy giống tiền dollars Mỹ ghi số 100 USD (kết luận giám định là các tờ tiền đô la Mỹ giả, được tạo bằng phương pháp in phun màu) được niêm phong và đưa vào hồ sơ vụ án.
Về phần dân sự: Trong quá giải quyết vụ án, Lưu Văn T đã trả lại cho gia đình chị Lê Thị N2 toàn bộ số tiền 62.000.000 đồng. Gia đình chị N2 không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Tại bản cáo trạng số 99/CT-VKSYĐ ngày 22/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định đã truy tố các bị cáo Lưu Văn T, Trần Văn Đ, Lưu Văn L3, Lê Ngọc S, Ngô Hoàng A, Trần Tuấn A1, Lê Ngọc V1, về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo Lưu Văn T, còn bị truy tố thêm về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, Kết luận giám định, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Do cần tiền để đánh bạc và tiêu sài cá nhân nên từ khoảng giữa tháng 12/2023 đến ngày 24/12/2023, tại gia đình chị Lê Thị N2 ở khu phố N, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa, Lưu Văn T đã nhiều lần sử dụng các tờ giấy giống tiền dollars Mỹ ghi số 100 USD với tổng 31 tờ để đổi lấy tiền Việt Nam đồng của gia đình chị Lê Thị N2 lấy số tiền 62.000.000 đồng tiền Việt Nam đồng để đánh bạc và tiêu sài cá nhân hết. Hành vi của Lưu Văn T là phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Hành vi của Lưu Văn T là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ.
Ngoài ra, vào tối ngày 24/12/2023 tại nhà Lê Ngọc V1 ở khu phố N, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa, Lưu Văn T cùng với Trần Văn Đ, Lưu Văn L3, Lê Ngọc S, Ngô Hoàng A và Trần Tuấn A1 đã có hành vi đánh bài ăn tiền bằng hình thức đánh ba cây, với tổng số tiền sử dụng để đánh bạc từ 8.900.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Đối với Lê Ngọc V1 là chủ nhà, không trực tiếp tham gia đánh bạc cùng với
các đối tượng, tuy nhiên việc các đối tượng tham gia đánh bạc trong nhà mình thì V1 biết và đồng ý cho các đối tượng sử dụng nhà của mình để đánh bạc, bán hàng hóa phục vụ các đối tượng tham gia đánh bạc nên Lê Ngọc V1 đồng phạm với các bị cáo khác về tội Đánh bạc.
Hành vi của Lưu Văn T, Trần Văn Đ, Lưu Văn L3, Lê Ngọc S, Ngô Hoàng A, Trần Tuấn A1 và Lê Ngọc V1 là phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định truy tố đối với các bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và vai trò đồng phạm: Đánh bạc là một tệ nạn xã hội, xâm phạm đến trật tự, nếp sống văn minh của xã hội và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Ban đầu chỉ là giải trí cho vui, dần càng dấn sâu vì cay cú, ăn thua, làm cho nhiều gia đình tan cửa, mất nhà chỉ vì có thành viên ham chơi lô đề, cờ bạc. Các bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật, vẫn cố tình phạm tội. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến an toàn và trật tự công cộng. Do đó, cần phải xử lý vụ án nghiêm minh, tương xứng với tính chất vụ án, hành vi của các bị cáo, mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo, cũng như đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng ngừa tội phạm nói chung.
Đây là vụ án hình sự có nhiều người cùng tham gia, cố ý thực hiện tội phạm nhưng không có sự bàn bạc, phân công vai trò từ trước nên chỉ là đồng phạm giản đơn. Trong đó, Trần Văn Đ, Lưu Văn L3, Lê Ngọc S là người tham gia đánh bạc từ đầu nên có vai trò thứ nhất trong vụ án; các bị can Ngô Hoàng A, Lưu Văn T và Trần Tuấn A1 đến tham gia đánh bạc sau nên giữ vai trò thứ hai trong vụ án; Lê Ngọc V1 đồng phạm có vai trò thứ ba trong vụ án.
Riêng Lưu Văn T phải chịu trách nhiệm độc lập về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong vụ án này, bị cáo Ngô Hoàng A đang có 01 tiền án về tội đánh bạc lại tiếp tục phạm tội nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; bị cáo Lưu Văn T đã nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội nên lần phạm tội này bị cáo T phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Trần Văn Đ đang có tiền sự lại tiếp tục phạm tội. Bị cáo Lê Ngọc V1 đã từng bị xét xử về tội trộm cắp tài sản. Các bị cáo khác không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;
Tất cả các bị cáo đều có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật
Hình sự; các bị cáo Trần Văn Đ, Lê Ngọc S, Lưu Văn L3, Trần Tuấn A1 được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị can Lưu Văn T được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại” và “Đầu thú” và được người bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Trần Văn Đ có bố là thương binh và được tặng thưởng Huy chương kháng chiến; Bị cáo Lê Ngọc S có ông nội được tặng Bằng khen và có bố được tặng thưởng Huy chương kháng chiến nên các bị cáo Đ, S được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trước khi mở phiên tòa bị cáo Lê Ngọc V1 xuất trình Giấy nộp tiền hỗ trợ xây dựng nhà ở cho hộ nghèo, xuất trình Giấy chứng nhận tham gia dân công hỏa tuyến của mẹ đẻ và bà nội. Bị cáo Trần Tuấn A1 xuất trình Phiếu thu ủng hộ Quỹ vì người nghèo xã Đ, huyện Y và Chứng nhận Huân Huy Chương của ông ngoại là Ngô Văn V2 và có ông nội là Trần Đình L6 là Thương binh. Bị cáo Ngô Hoàng A xuất trình Giấy xác nhận có vợ bị bệnh quanh năm, bị cáo là lao động duy nhất, đang phải nuôi 03 con nhỏ, nên các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt: Từ những phân tích, đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử, xét thấy: cần thiết xử phạt các bị cáo ở mức án như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là phù hợp, đủ tác dụng giáo dục các bị cáo và thể hiện được sự khoan hồng của pháp luật. Đối với bị cáo Lưu Văn T bị xét xử về 2 tội nên cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt.
Thời gian bị cáo Lưu Văn T đã bị tạm giữ, tạm giam cần được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù của bị cáo.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có công việc ổn định và không có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[7] Về vật chứng vụ án: 46 tờ giấy giống tiền dollars Mỹ ghi số 100 USD (kết luận giám định là các tờ tiền đô la Mỹ giả, được tạo bằng phương pháp in phun màu) đang trong hồ sơ vụ án cần phải tịch thu tiêu hủy.
Xét thấy cần thiết phải truy thu số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc, cụ thể: Truy thu của Trần Văn Đ số tiền 3.000.000 đồng; Lưu Văn L3 số tiền 1.300.000 đồng; Lê Ngọc S số tiền 700.000 đồng; Ngô Hoàng A số tiền 400.000 đồng; Lưu Văn T số tiền 2.500.000 đồng và Trần Tuấn A1 số tiền 1.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.
[8] Về phần dân sự: Trong quá giải quyết vụ án, bị cáo Lưu Văn T đã trả lại cho gia đình chị Lê Thị N2 toàn bộ số tiền 62.000.000 đồng. Gia đình chị N2 đã nhận được tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét
Về các tình tiết liên quan đến vụ án: Trong vụ án này: Đối với anh Lưu Văn H2 đã đặt mua 01 tập 50 tờ giấy giống tiền dollars Mỹ ghi số 100 USD, với mục
đích để lưu niệm, việc T lấy các tờ giấy giống tiền dollars Mỹ ghi số 100 USD để thực hiện hành vi phạm tội thì anh H2 không biết nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với anh Lưu Văn H2 là phù hợp.
Đối với chị Lê Thị N2, do không biết các đối tượng tham gia đánh bạc tại tầng 2 nhà mình vào tối 24/12/2023 nên chị N2 không đồng phạm về tội đánh bạc nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với chị Lê Thị Nghĩa L7 phù hợp.
[9] Về án phí: Các bị cáo Lưu Văn T, Trần Văn Đ, Lưu Văn L3, Lê Ngọc S, Ngô Hoàng A, Trần Tuấn A1, Lê Ngọc V1 có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: các bị cáo, Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lưu Văn T, phạm tội: “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Tuyên bố các bị cáo Lưu Văn T,Trần Văn Đ, Lưu Văn L3, Lê Ngọc S, Ngô Hoàng A, Trần Tuấn A1, Lê Ngọc V1, phạm tội: “ Đánh bạc ”
Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 174; khoản 1 Điều 321; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điểm a khoản 1 Điều 55; Điều 58 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo Lưu Văn T.
Xử phạt bị cáo 02 ( Hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội: “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 07 ( bảy) tháng tù về tội : “Đánh bạc”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cho cả 02 tội là 02(Hai) năm 10 ( mười) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/02/2024 đến ngày 11/7/2024. Không áp dụng hình phạt tiền và phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng: khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; điểm i,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo Ngô Hoàng A.
Xử phạt bị cáo 07 ( Bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng: khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; điểm i,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo Trần Văn Đ
Xử phạt bị cáo 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng: khoản 1 Điều 321; Điều 17; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo Lê Ngọc V1.
Xử phạt bị cáo 06( Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Giao bị cáo Lê Ngọc V1 cho UBND thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Áp dụng: khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo Lưu Văn L3. Xử phạt bị cáo số tiền 22.000.000 (Hai mươi hai triệu) đồng.
Áp dụng: khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm s,i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo Lê Ngọc S. Xử phạt bị cáo số tiền 21.000.000 (Hai mươi mốt triệu) đồng
Áp dụng: khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 35; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo Trần Tuấn A1. Xử phạt bị cáo số tiền 24.000.000 (Hai mươi tư triệu) đồng.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy đối với 46 tờ giấy giống tiền dollars Mỹ ghi số 100 USD là giả, hiện đang được đang được niêm phong kèm theo hồ sơ vụ án. Khi bản án có hiệu lực pháp luật sẽ được chuyển đến Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Yên Định để thi hành theo quy định.
Truy thu của bị cáo Lưu Văn T số tiền 2.500.000 đồng; Truy thu của bị cáo Trần Văn Đ số tiền 3.000.000 đồng; Truy thu của bị cáo Lưu Văn L3 số tiền 1300.000 đồng; Truy thu của bị cáo Lê Ngọc S số tiền 700.000 đồng; Truy thu của bị cáo Ngô Hoàng A số tiền 400.000 đồng; Truy thu của bị cáo Trần Tuấn A1 số tiền 1000.000 đồng để sung ngân sách nhà nước.
3.Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Căn cứ vào Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Các bị cáo Lưu Văn T, Trần Văn Đ, Lưu Văn L3, Lê Ngọc S, Ngô Hoàng A, Trần Tuấn A1, Lê Ngọc V1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo, Bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Hồng Đức |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Phạm Viết Nguyên Trần Văn Hưng |
Cao Hồng Đ1 |
Bản án số 90/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản và đánh bạc)
- Số bản án: 90/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
