Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUY PHONG

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30-9-2024

V/v “Ly hôn

và nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lý Văn Lấy

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bích Lam

Ông Dương Khắc Hùng

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Đắc Quốc Tuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Minh Nguyệt – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 335/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2024 về việc: “Ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2024/QĐ-XX, ngày 31 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 70/2024/QĐ-HPT ngày 16 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh ngày 26/02/1978; Hiện trú tại: thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Có mặt
  2. Bị đơn: Ông Lê Thanh Đ, sinh ngày 01/01/1979; Hiện trú tại: thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn và tờ khai ngày 12/6/2024, tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày: Nguyên vào năm 1996 bà và ông Lê Thanh Đ đã chung sống với nhau như vợ chồng, đến năm 2006 thì đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã C cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 68 ngày 17/04/2006.

Trong quá trình chung sống, ông Lê Thanh Đ thường xuyên đi quan hệ ngoại luồng với một cô gái khác tên H, có lần bà đi làm vắng thì ông Đ chở cô gái về nhà.

Hơn nữa ông Đ thường hay đi ăn nhậu, mỗi lần về nhà là kiếm chuyện gây cãi, mỗi khi bà nói lại thì bị ông Đ đánh đập. Do đó giữa bà và ông Đ bất đồng quan điểm, không thể chung sống với nhau được nữa. Bà và ông Đ đã ly thân nhau hơn 01 năm nay.

Vì những mâu thuẫn ngày càng gay gắt, không thể hàn gắn. Do đó bà nhận thấy tình trạng hôn nhân giữa bà và ông Đ đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà kiên quyết ly hôn với ông Đồng

Về con chung: 03 đứa, Lê Thanh V1, sinh ngày 17/12/1996, Lê Thanh K, sinh ngày 04/7/1999, Lê Thị Tường V2, sinh ngày 19/7/2010. V1 và K đã trưởng thành và đi làm thuê. Cháu V2 hiện đi họ nghề, bà yêu cầu nuôi dưỡng, giáo dục cháu V2. Bà không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Để tự thoả thuận

Về nợ chung: Không có.

Bị đơn ông Lê Thanh Đ vắng mặt nên không có lời trình bày.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.

Việc tuân theo pháp luật của thư ký phiên tòa: thư ký đã tuân thủ theo đúng quy định tại các Điều 237 và Điều 239 Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án:

Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà Nguyễn Thị L đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 70 và Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn ông Lê Thanh Đ không thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của người tham gia tố tụng theo quy định tại các Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

Đề nghị áp dụng: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146 và khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điềi 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Lê Thanh Đ.

Về con chung: Giao cho bà L nuôi dưỡng, giáo dục Lê Thị Tường V2, sinh ngày 19/7/2010 đến khi trưởng thành. Bà L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung: Để tự thoả thuận nên không xem xét

Về nợ chung: Không có.

Về án phí: bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: bà Nguyễn Thị L khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Lê Thanh Đ, do đó đây là vụ án “Tranh chấp về ly hôn” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. ông Lê Thanh Đ có nơi cư trú tại thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Nguyễn Thị L thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Về thủ tục tố tụng: Qua xác minh tại Ban cán sự thôn H, xã C, huyện T, tỉnh Bình Thuận thì ông Lê Thanh Đ có hộ khẩu thường trú tại H, xã C, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến ngày xét xử, do ông Đ không hợp tác, từ chối nhận giấy triệu tập. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi cư trú của ông Lê Thanh Đ theo đúng trình tự thủ tục tố tụng mà pháp luật đã quy định nhưng ông Đ vẫn không có mặt cũng như không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để tiến hành xét xử vắng mặt ông Đ theo thủ tục chung.

[3]. Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L: Theo lời trình bày của bà L cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì bà L và ông Lê Thanh Đ tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Bình Thuận theo giấy chứng nhận kết hôn số: 68 ngày 17/04/2006 nên quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông Đ là hợp pháp.

Bà L cho rằng do ông Đ hay nghi ngờ bà ngoại tình, cứ mỗi lần ăn nhậu về thì kiếm chuyện chưởi bới, bà nói lại thì bị ông Đ đánh đập hâm doạ đủ điều, vào năm 2015 bà có làm đơn ly hôn ông Đ cũng vì mâu thuẫn trên, do ông Đ không chịu đến Toà và đi làm ăn xa không về được nên Toà án đình chỉ vụ án. Nay tiếp tục xảy ra mâu thuẫn là do ông Đ ngoại tình, ăn nhậu, khi bà nói thì bị ông Đ đánh đập, mâu thuẫn đã trầm trọng không tự giải quyết được, nên bà bỏ đi ở chổ khác, giao căn nhà cho ông Đ ở. Vợ chồng bà đã sống ly thân hơn 01 năm nay, không còn ai quan tâm đến ai.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Đ, ông Đ có nhận giấy triệu tập nhưng không chấp hành theo giấy triệu tập, sau khi lập biên bản về việc tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải Toà đã tống đạt cho ông Đ kết quả hoà giải, ông Đ có nhận nhưng ông không phản hồi ý kiến đối với yêu cầu của bà L, điều này chứng tỏ ông Đ không có quan tâm gì đến mối quan hệ hôn nhân giữa ông và bà L và nghĩa vụ đối với con. Chứng tỏ ông Đ không có mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Nhận thấy tình trạng hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị L và ông Lê Thanh Đ đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, để đảm bảo quyền lợi của các đương sự và để ổn định cuộc sống cho các bên, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị L.

[4]. Về con chung: Bà L yêu cầu nuôi con chung, tuy nhiên do hiện cháu V2 đi học xa và nguyện vọng của cháu V2 cũng xin được ở với mẹ. Xét thấy, bà L yêu cầu được nuôi con, ông Đ biết nhưng không có ý kiến gì, bà L cam đoan sẽ lo cho con có một sống đầy đủ cả về tinh thần lẫn vật chấ. Vì vậy, nên giao con chung cho bà L nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.

Bà L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

[5]. Về tài sản chung: Để tự thoả thuận nên không xem xét

[6]. Về nợ chung: Không có.

[7]. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật nên ghi nhận.

[8]. Về án phí: căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Tòa án bà Nguyễn Thị L phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146 và khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điềi 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Tòa án.
  2. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị L đối với ông Lê Thanh Đ. Bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Lê Thanh Đ.

    Về con chung: Giao cho bà L nuôi dưỡng, giáo dục Lê Thị Tường V2, sinh ngày 19/7/2010 đến khi trưởng thành. Bà L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

    Bà L không được ngăn cản ông Đ trong việc thăm nom và chăm sóc, giáo dục con chung.

    Về tài sản chung: Để tự thoả thuận

    Về nợ chung: Không có.

  3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị L phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Bà L đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại biên lai thu số 0006995 ngày 01/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong, bà L đã nộp đủ án phí.
  4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt nguyên đơn, báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 30/9/2024). Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND (tỉnh+huyện);
  • - Tòa án tỉnh;
  • - Các đương sự;
  • - THA huyện;
  • - UBND (xã) thị trấn;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lý Văn Lấy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 90/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn và nuôi con chung

  • Số bản án: 90/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con chung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger