|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 90/2024/HNGĐ-ST
Ngày 29 - 7 - 2024
V/v: Ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH - TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quý.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hoàng Phúc.
Ông Nguyễn Đức Binh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Sang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý: 167/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2024, về Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 175/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 136/2024/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2024; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1990; nơi cư trú: Số 68, tổ 5, ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Anh Vũ Hồng Ph, sinh năm 1988; nơi cư trú: Số nhà 28, đường số 32, thôn 6, xã ĐK, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa vắng mặt nguyên đơn nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; còn bị đơn vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản về việc không tiến hành hòa giải được, cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim L trình bày:
Chị Nguyễn Thị Kim L và anh Vũ Hồng Ph giữa hai người tự tìm hiểu yêu thương nhau và tổ chức lễ cưới truyền thống tại địa phương; vào năm 2011, anh chị có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Sau ngày cưới, vợ chồng sống hạnh phúc khoảng 5 năm thì xãy ra mâu thuẫn là do tính cách, quan điểm sống của mỗi người không hợp nhau nên thường xãy ra va chạm là do anh Ph thường xuyên uống rượu, không lo làm ăn, vô trách nhiệm với vợ con, cuộc sống của vợ chồng không được hạnh phúc; nên chị sống ly thân từ năm 2016 cho đến năm 2018. Đến năm 2022, chị và anh Ph ra tòa ly hôn, anh Ph hứa thay đổi cách sống nên vợ chồng về đoàn tụ. Tuy nhiên trong thời gian qua anh Ph không thay đổi nên gây áp lực đối với chị. Nay, chị xác định vợ chồng không còn tình cảm, yêu thương, quý trọng nhau nên chị xin được ly hôn với anh Ph.
Về con chung, về tài sản chung và nợ chung: Chị Liễu không yêu cầu Tòa án phải giải quyết.
Đối với bị đơn anh Vũ Hồng Ph:
Sau khi thụ lý vụ án, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn anh Ph không có ý kiến gì, cũng không có yêu cầu phản tố và vắng mặt không có lý do.
Tòa án đã thực hiện việc xác minh về tình trạng hôn nhân của chị Nguyễn Thị Kim L và anh Vũ Hồng Ph, thể hiện tại biên bản xác minh ngày 10/6/2024 của bà Vũ Thị M, sinh năm 1954 là mẹ ruột của anh Vũ Hồng Ph, trú tại: Số nhà 28, đường số 32, thôn 6, xã ĐK, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận đã cung cấp một số thông tin như sau:
Anh Vũ Hồng Ph, sinh năm 1988; có đăng ký hộ khẩu và sinh sống tại địa chỉ: Số nhà 28, đường số 32, thôn 6, xã ĐK, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Hiện nay do anh Ph đang làm ở xa nên anh không có ở nhà.
Chị Nguyễn Thị Kim L và anh Vũ Hồng Ph sau khi kết hôn thì chung sống hạnh phúc được khoảng 5 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng về tài chính gia đình dẫn đến hai vợ chồng thường xuyên cải nhau. Vợ chồng chị L và anh Ph đã ly thân được 3 năm. Hiện tại không còn sống chung với nhau nữa. Anh Ph đã biết việc chị L nộp đơn ly hôn, anh cũng đã nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án; các Thông báo về phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải của Tòa án nhưng do bận công việc và sợ ảnh hưởng đến con cái nên anh Ph không đến Tòa án làm việc được.
Tòa án đã tiến hành hòa giải để các đương sự tự thỏa thuận với nhau về các vấn đề có tranh chấp trong vụ án, nhưng bị đơn anh Vũ Hồng Ph không tham gia nên không tiến hành hòa giải được.
Ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, của các đương sự và phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Về thủ tục: Thẩm phán thụ lý vụ án và Hội đồng xét xử, Thư ký ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện các hoạt động tố tụng để giải quyết vụ án đúng theo trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Các đương sự, đối với nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, còn bị đơn không chấp hành theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Giải quyết cho chị Nguyễn Thị Kim L ly hôn với anh Vũ Hồng Ph.
- Về con chung, về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền: Tòa án nhân dân huyện Đức Linh đã thụ lý và giải quyết đơn khởi kiện của nguyên đơn là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết là ly hôn.
[1.3] Về xét xử vắng mặt: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do; còn nguyên đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt tại phiên tòa đối với nguyên đơn và bị đơn là phù hợp.
[2] Nội dung vụ án:
[2.1] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim L và anh Vũ Hồng Ph giữa hai người tự tìm hiểu yêu thương nhau và tổ chức lễ cưới truyền thống tại địa phương; vào năm 2011, anh chị có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Sau ngày cưới, vợ chồng sống hạnh phúc khoảng 5 năm thì xãy ra mâu thuẫn là do tính cách, quan điểm sống của mỗi người không hợp nhau nên thường xãy ra va chạm là do anh Ph thường xuyên uống rượu, không lo làm ăn, vô trách nhiệm với vợ con, cuộc sống của vợ chồng không được hạnh phúc; nên chị sống ly thân từ năm 2016 cho đến năm 2018. Đến năm 2022, chị và anh Ph ra tòa ly hôn, anh Ph hứa thay đổi cách sống nên vợ chồng về đoàn tụ. Tuy nhiên trong thời gian qua anh Ph không thay đổi nên gây áp lực đối với chị. Nay, chị xác định vợ chồng không còn tình cảm, yêu thương, quý trọng nhau nên chị xin được ly hôn với anh Ph.
Hội đồng xét xử thấy rằng, mâu thuẫn vợ chồng của anh chị đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên nghĩ cần xử cho chị L ly hôn anh Ph là phù hợp.
[2.2] Về con chung, về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về áp dụng án lệ: Sau khi rà soát các án lệ đã được Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao công bố thấy rằng: Nội dung tranh chấp của vụ án không có những tình tiết, sự kiện tương tự đã được nêu trong các án lệ nên không áp dụng án lệ để giải quyết tranh chấp này, mà căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết.
[4] Về án phí: Chị L chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim L ly hôn anh Vũ Hồng Ph.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, nhưng được tính trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng do chị L đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004429 ngày 22 tháng 4 năm 2024. Chị Nguyễn Thị Kim L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Báo cho nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
- Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Quý |
Bản án số 90/2024/HNGĐ-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH - TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn
- Số bản án: 90/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH - TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận cho ly hôn
