Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. PHAN RANG – THÁP CHÀM

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 90/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 28-9-2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG- THÁP CHÀM,

TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyên Vy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Bình

2. Ông Lê Huỳnh Sinh

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Long – Thẩm phán Tòa án nhân dân thành phố

Phan Rang - Tháp Chàm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang- Tháp Chàm tham gia

phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Yến- Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2024 tại hội trường xử án, Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 404/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm 1980.
  • Địa chỉ: Khu phố D, phường M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (Có mặt)
  • - Bị đơn: Ông Đào Văn T, sinh năm 1976.
  • Địa chỉ: Số 1 T, khu phố D, phường M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 04 tháng 7 năm 2024 và quá trình tố tụng, Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết N trình bày:

Bà và ông Đào Văn T sau một thời gian tìm hiểu đã tiến đến hôn nhân tự nguyện, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân UBND phường Đ, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận theo giấy chứng nhận kết hôn số 50/2001 ngày 21 tháng 5 năm 2001. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2020 phát sinh mâu thuẫn kéo dài cho đến nay càng trầm trọng. Nguyên nhân do ông T quen người phụ nữ khác, thường xuyên uống rượu về nhà chửi bới đánh đập bà và các con nhiều lần; mặc dù mẹ con bà khuyên nhủ nhưng ông T không thay đổi lối sống, vẫn tính nào tật nấy. Lần gần đây vào khoảng đầu tháng 7/2024, ông T đánh mẹ con bà, chửi mắng xúc phạm và đe dọa sẽ giết chết bà và con. Vì vậy, bà cùng các con bỏ đi nơi khác sinh sống. Ông T là người chồng bạo lực bạo hành gia đình, không những không chăm lo cho vợ con mà còn thường xuyên chủi mắng, không thương yêu vợ con nên bà không còn tình cảm với ông T. Hiện vợ chồng không còn sống chung, thời gian xa nhau mạnh ai ấy sống, không quan tâm đến nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn, bà không thể quay về sống chung được nữa; vì vậy, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn ông Đào Văn T.

Về con chung: Vợ chồng có 04 con chung tên Đào Khắc T1, sinh năm 2000, Đào Xuân T2, sinh năm 2003, Đào Thị Tuyết M, sinh ngày 13/11/2006 và Đào Thị Yến T3, sinh ngày 23/7/2010. Hiện nay hai con T1 và T2 đã trưởng thành, khỏe mạnh nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Riêng Tuyết M đang học ngoài tỉnh, Yến T3 đang sống cùng ông T. Khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con M, T3. Về cấp dưỡng nuôi con, theo đơn khởi kiện bà yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi 02 con mỗi tháng 2.000.000 đồng; tuy nhiên tại phiên hòa giải cũng như tại phiên tòa, bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện bà buôn bán thu nhập bình quân mỗi tháng 6.000.000 đồng đủ khả năng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Quá trình tố tụng, Bị đơn ông Đào Văn T trình bày:

Ông và bà Nguyễn Thị Tuyết N kết hôn vào năm 2001, đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ, thành phố P - T. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến cuối tháng 7 năm 2024 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ ông tự gây gỗ với ông, rồi tự ý mời Công an phường M đến làm việc, Công an có đến nhà làm việc và khuyên nhủ vợ chồng ông. Sau sự việc đó, bà N bỏ nhà đi vào tỉnh Bình Thuận sống với con Đào Khắc T1 cho đến nay. Ông vẫn còn thương vợ thương con nên ông mong muốn vợ chồng quay về chung sống đoàn tụ. Nhưng nếu bà N vẫn cương quyết xin ly hôn, thì ông không quan tâm, bà N muốn làm gì thì làm, Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Về con chung: Vợ chồng có 04 con chung đúng như lời trình của bà N. Ông không có ý kiến gì về yêu cầu đề nghị được nuôi 02 chung tên M, T3 của bà N, vợ ông muốn làm gì thì làm. Ông đang khó khăn về kinh tế nên ông không có khả năng cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung, nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Nguyên đơn đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, riêng Bị đơn vắng mặt dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đúng thành phần, xét xử đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: Nguyên đơn xin ly hôn, yêu cầu được trực tiếp nuôi con Đào Thị Tuyết M, sinh ngày 13/11/2006 và Đào Thị Yến T3, không yêu cầu Bị đơn cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Căn cứ vào đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” được quy định tại Khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn có địa chỉ cư trú Khu phố D, phường M, thành phố P - T nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang- T theo quy định tại Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Tại phiên tòa, Bị đơn tiếp tục vắng mặt dù đã được tống đạt hợp lệ. Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt Bị đơn.

[2] Về nội dung tranh chấp:

Xét yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết N, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.1] Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Tuyết N và ông Đào Văn T được xác lập trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Đây là hôn nhân hợp pháp.

[2.2] Tại phiên tòa, bà N giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn ông T4. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hợp, không tin tưởng tình cảm của nhau nên vợ chồng thường xảy ra cãi nhau, ông T thường chửi mắng, đánh vợ con; từ đó gia đình không còn hạnh phúc. Tại phiên hòa giải, ông T năn nỉ bà N quay về nhưng bà N không đồng ý, bà cho rằng ông T có hành vi bạo lực gia đình làm cho bà luôn lo sợ, bà không thể tiếp tục chung sống với ông T được nữa; hiện vợ chồng không còn sống chung, không còn quan tâm đến nhau nên tình cảm vợ chồng đến nay không còn. Tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng ông, bà được chính quyền địa phương xác nhận. Điều này chứng tỏ hôn nhân giữa bà N, ông T lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Nguyên đơn; không chấp nhận yêu cầu đoàn tụ của Bị đơn là phù hợp quy định pháp luật.

[2.3] Về giao người trực tiếp nuôi con:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Đào Thị Tuyết M, sinh ngày 13/11/2006, Đào Thị Yến T3, sinh ngày 23/7/2010.

Xét thấy, hai con Đào Thị Tuyết M và Đào Thị Yến N1 đã trên 7 tuổi, cả hai đều có nguyện vọng ở với bà N. Hiện sức khỏe và học tập của 02 con được đảm bảo. Quá trình tố tụng, ông T không có yêu cầu, ý kiến về con chung. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, đồng thời xem xét nguyện vọng của hai con; Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu về giao người trực tiếp nuôi con của Nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với Khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.

[2.4] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết N không yêu cầu Bị đơn ông Đào Văn T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

[3] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, phù hợp với những nhận định trên, nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết N.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Tuyết N được ly hôn ông Đào Văn T.
  2. Về giao người trực tiếp nuôi con chung: Bà Bà Nguyễn Thị Tuyết N được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Đào Thị Tuyết M, sinh ngày 13/11/2006 và Đào Thị Yến T3, sinh ngày 23/7/2010.

Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với con chung, không ai được ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung.

  1. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Tuyết N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0002889 ngày 04/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang- T. Bà Nguyễn Thị Tuyết N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai, sơ thẩm, có mặt Nguyên đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; riêng Bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND Tp. PRTC;
  • - Chi cục THADS TP.PRTC;
  • - UBND phường Đông Hải;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu (hồ sơ, án văn)./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nguyên Vy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 90/2024/HNGĐ-ST ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG- THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 90/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG- THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: nhung thảo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger