Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 90/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 12/7/2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hoàng Thị Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hữu Tới

Bà Nguyễn Thị Mai Hoa.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Trịnh Thu Trang, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Lê Thu H - Kiểm sát viên. Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 81/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58 /2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/6/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị H1, sinh năm: 1994 ( Vắng mặt) Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
  2. Bị đơn: Anh Hoàng Văn H2, sinh năm 1991(Vắng mặt.) Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn T, xã N, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú hiện nay: Đài Loan

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 27 tháng 3 năm 2024 bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là chị Hoàng Thị H1 trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Hoàng Văn H2 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 20/11/2017 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Sau khi kết hôn, vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến tháng 12 năm 2018 thì anh H2 sang Đài Loan cư trú và làm việc. sau đó vợ chồng bất đồng quan điểm sống Vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2020 đến nay, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Văn H2.

Về con chung: Chị và anh Hoàng Văn H2 có 01 con chung là cháu Hoàng Bảo Anh K, sinh ngày 16/6/2019. Ly hôn chị H1 có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng Hoàng Bảo Minh K1, không yêu cầu anh Hoàng Văn H2 cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị và anh Hoàng Văn H2 không có tài sản chung và công nợ chung nên chị H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Hoàng Thị H1 trình bày không biết địa chỉ cụ thể của anh Hoàng Văn H2 tại Đài Loan nên không thể cung cấp cho Tòa án. Anh Hoàng Văn H2 vẫn thường xuyên liên lạc với bố mẹ đẻ là ông Hoàng Văn P và bà Tô Thị M, địa chỉ Thôn T, xã N, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Đề nghị Tòa án tiến hành thu thập thêm thông tin của anh Hoàng Văn H2 từ bố mẹ đẻ anh H2 là ông Hoàng Văn P và bà Tô Thị M, địa chỉ Thôn T, xã N, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Tại các biên bản lấy lời khai, bà Tô Thị M trình bày:

Bà là mẹ đẻ của anh Hoàng Văn H2. Chị Hoàng Thị H1 là vợ anh Hoàng Văn H2 và là con dâu của bà. Năm 2017 anh H2 và chị H1 kết hôn với nhau. Sau khi kết hôn vợ chồng anh sống hạnh phúc. Đến năm 2018 anh H2 đi Đài Loan làm ăn, bà không biết địa chỉ cụ thể của anh H2 ở Đài Loan nên không thể cung cấp cho Tòa án nhưng bà vẫn thường xuyên liên lạc với anh H2 nên bà đồng ý nhận các văn bản của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho anh Hoàng Văn H2. Chị Hoàng Thị H1 có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn anh Hoàng Văn H2, Quan điểm của bà là không muốn anh chị ly hôn . Vợ chồng anh H2 và chị H1 có 01 con chung là cháu Hoàng Bảo Anh K, sinh ngày 16/6/2019. Ly hôn chị H1 có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng Hoàng Bảo Minh K1, bà M mong muốn được nuôi cháu. Về tài sản chung thì anh chị có 01 mảnh đất tại xã M, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa:

  • Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51; 56; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân Gia đình.

Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Hoàng Thị H1

Về hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị H1 được ly hôn anh Hoàng Văn H2

Về con: Chị Hoàng Thị H1 và anh Hoàng Văn H2 có 01 con chung là cháu Hoàng Bảo Anh K, sinh ngày 16/6/2019. Ly hôn chị H1 có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng Hoàng Bảo Minh K1, không yêu cầu anh Hoàng Văn H2 cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Do anh Hoàng Văn H2 hiện nay đang sống và làm việc tại Đài Loan, từ khi anh H2 đi Đài Loan đến nay, con vẫn ở với chị H1, chị vẫn nuôi dưỡng chăm sóc cháu chu đáo. Do vậy để đảm bảo ổn định cuộc sống cho cháu Hoàng Bảo A K1, nên giao cho chị Hoàng Thị H1 trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hoàng Bảo Anh K. Về cấp dưỡng nuôi con chị Hoàng Thị H1 không yêu cầu anh Hoàng Minh K1 cấp dưỡng nuôi con. Xét đây là sự tự nguyện của đương sự nên chấp nhận. Căn cứ các Điều 51; 56; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân Gia đình.

Về tài sản và công nợ chung: Chị Hoàng Thị H1 không yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Chị Hoàng Thị H1 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Đ a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu,chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng,Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa nhận định:

[ 1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về thẩm quyền của Tòa án:

Bị đơn là anh Hoàng Văn H2 có đăng ký HKTT tại xã N, huyện H nhưng hiện nay đang sinh sống tại Đài Loan. Do trong vụ án có bị đơn cư trú ở nước ngoài. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37, khỏan 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

[ 1.2]. Về việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn:

Chị Hoàng Thị H1 chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của anh Hoàng Văn H2 ở Việt Nam nhưng không cung cấp được địa chỉ của anh H2 tại nước ngoài. Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai nhưng bà Tô Thị Minh m đẻ của anh H2 trình bày không biết địa chỉ của anh Hoàng Văn H2 ở Hàn Quốc. Tuy anh H2 thường xuyên liên lạc với gia đình nhưng cố tình không cung cấp địa chỉ của anh H2 hiện nay ở nước ngoài. Bà M vẫn thường xuyên liên lạc với anh H2 nên đã nhận các văn bản tố tụng để thông báo cho anh H2.Vì vậy, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục bị đơn cố tình giấu địa chỉ.

[1.3]. Về sự vắng mặt của đương sự:

Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Hoàng Thị H1 có đơn xin xử vắng mặt; bị đơn là anh Hoàng Văn H2 mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng qua người thân đến lần thứ hai nhưng vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về hôn nhân:

Căn cứ các BL: 01,05,06,21;22;25;26: Chị Hoàng Thị H1 và anh Hoàng Văn H2 kết hôn trên cơ sở tự nguyện; có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ( Uý ban nhân dân xã N, huyện H) nên là hôn nhân hợp pháp.

Trong lời khai, các tài liệu gửi đến Tòa án, chị Hoàng Thị H1 trình bày vợ chồng anh chị bất đồng quan điểm sống,mâu thuẫn nhiều năm nay, không còn quan tâm đến nhau, vợ chồng sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị Hoàng Thị H1 và anh Hoàng Văn H2 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, vợ chồng ly thân đã lâu, không ai quan tâm đến ai, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận cho chị Hoàng Thị H1 được ly hôn anh Hoàng Văn H2.

[2.2]. Về con chung :

Căn cứ các BL 01;02;04; 06; 20;21;22; 25; 26: Chị Hoàng Thị H1 và anh Hoàng Văn H2 có 01 con chung là cháu Hoàng Bảo Anh K, sinh ngày 16/6/2019. Ly hôn chị H1 có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng Hoàng Bảo Minh K1, không yêu cầu anh Hoàng Văn H2 cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Do anh Hoàng Văn H2 hiện nay đang sống và làm việc tại Đài Loan, từ khi anh H2 đi Đài Loan đến nay, con vẫn ở với chị H1, chị vẫn nuôi dưỡng chăm sóc cháu chu đáo. Do vậy để đảm bảo ổn định cuộc sống cho cháu Hoàng Bảo A K1, nên giao cho chị Hoàng Thị H1 trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hoàng Bảo Anh K. Về cấp dưỡng nuôi con chị Hoàng Thị H1 không yêu cầu anh Hoàng Minh K1 cấp dưỡng nuôi con. Xét đây là sự tự nguyện của đương sự nên chấp nhận. Căn cứ các Điều 51; 56; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân Gia đình..

[2.3]. Về tài sản, công nợ chung:

Căn cứ các BL: 01; 221;22; 25; 26: Về tài sản và công nợ chung: Chị Hoàng Thị H1 không yêu cầu do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về án phí:

Chị Hoàng Thị H1 là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Đ a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị Hoàng Thị H1 đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; khoản 1 Điều 40, Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

- Xử: 1. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Hoàng Thị H1

  • Về hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị H1 được ly hôn anh Hoàng Văn H2.
  • Về con chung : Chị Hoàng Thị H1 và anh Hoàng Văn H2 có 01 con chung là cháu Hoàng Bảo Anh K, sinh ngày 16/6/2019. Ly hôn giao cho chị H1 trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hoàng Bảo Minh K1,
  • Về cấp dưỡng nuôi con chấp nhận sự tự nguyện của chị Hoàng Thị H1 không yêu cầu anh Hoàng Văn H2 cấp dưỡng nuôi con.

Anh Hoàng Văn H2 có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.

  • Về tài sản, công nợ chung: Chị Hoàng Thị H1 không yêu cầu giải quyết

2. Về án phí: Chị Hoàng Thị H1 phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000đồng tiền tạm ứng án phí chị H1 đã nộp theo biên lai thu số 0000303 ngày 03/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. Chị H1 đã nộp đủ.

3. Quyền kháng cáo:

Chị Hoàng Thị H1 có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Hoàng Văn H2 có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật /.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát NDcấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hoá (P9);
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - UBND xã Ngư Lộc, huyện Hậu Lộc;
  • - Các đương sự;
  • - Tổ HC-TP; - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu Tòa GD & NCTN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Nguyệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 90/2024/HNGĐ-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 90/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Thị H1 - Hoàng Văn H2 "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger