Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 90/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 08 - 8-2024

“V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Minh Thư

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thái Linh; ông Nguyễn Tất Thể

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Thuần - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Lê - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2024 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 124/2024/TLST - HNGĐ, ngày 18 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Trần Ngọc C, sinh năm 1993;
  2. Nơi cư trú: Thôn A, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt

  3. Bị đơn: Chị Trương Thị O, sinh năm 1994;
  4. Nơi cư trú trước khi xuất cảnh: Thôn A, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang lao động tại Hungary. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai cũng như các tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong quá trình giải quyết, vụ án có nội dung như sau:

Nguyên đơn anh Trần Ngọc C trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Ngọc C kết hôn với chị Trương Thị O trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 21/10/2020, tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Thời kỳ đầu hôn nhân, vợ chồng chung sống với nhau hòa thuận, hạnh phúc và có 01 người con chung là cháu Trần Trung K, sinh ngày 24/8/2020. Nhưng đến cuối năm 2021, giữa vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn và xảy ra tranh cãi. Đầu năm 2024, chị O đi xuất khẩu lao động tại Hungary, kể từ thời điểm đó, mâu thuẫn giữa vợ chồng càng gay gắt và nghiêm trọng hơn nên không thường xuyên liên lạc với nhau. Những mâu thuẫn giữa vợ chồng nhiều lần đã được gia đình hai bên, người thân và bạn bè khuyên giải, hàn gắn nhưng đều không có kết quả. Nay nhận thấy tình trạng hôn nhân của vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh C đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Trương Thị O.

- Về quan hệ con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, anh Trần Ngọc C và chị Trương Thị O có 01 con chung là cháu Trần Trung K, sinh ngày 24/8/2020. Anh Trần Ngọc C có nguyện vọng giao cháu Trần Trung K cho chị Trương Thị O chăm sóc và nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con anh và chị Trương Thị O tự thỏa thuận với nhau không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Anh Trần Ngọc C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, thông qua gia đình chị Trương Thị O trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị thống nhất như ý kiến trình bày của anh Trần Ngọc C về thời gian, địa điểm kết hôn cũng như thời gian vợ chồng chung sống hạnh phúc, thời gian xảy ra mâu thuẫn và nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn. Nay chị nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không đạt được nên anh C làm đơn yêu cầu ly hôn chị đồng ý.

Về con chung: Chị Trương Thị O cho biết trong thời kỳ hôn nhân, chị và anh C có 01 con chung là Trần Trung K, sinh ngày 24/8/2020, từ khi vợ chồng mâu thuẫn đến nay cháu sống cùng với bà Hồ Thị H (mẹ đẻ chị O) được bà chăm sóc và nuôi dưỡng tốt, chị và anh C thống nhất giao con chung cho chị chăm sóc và nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Chị và anh C tự thỏa thuận với nhau về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, chị Trương Thị O cho biết hiện nay chị đang lao động tự do tại Hungary, chị không cung cấp địa chỉ cụ thể của chị tại Hungary và do tính chất công việc đi lại khó khăn nên chị không thể về Việt Nam để giải quyết vụ án. Vì vậy, chị đề nghị giải quyết vắng mặt chị và chị ủy quyền việc giao nhận tài liệu cho bà Hồ Thị H (mẹ đẻ chị O); địa chỉ: Thôn A, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh.

Người tham gia tố tụng khác bà Hồ Thị H trình bày: Cháu Trần Trung K, sinh ngày 24/8/2020 từ khi chị O đi lao động nước ngoài đến nay cháu ở với bà, được bà chăm sóc tốt. Do đó bà xin được tự nguyện chăm sóc và nuôi dưỡng cháu Trần Trung K thay chị O cho đến khi chị O về Việt Nam và hiện nay chị O con gái bà đang lao động tại Hungary không thể về Việt Nam để giải quyết vụ việc nên bà đồng ý nhận các tài liệu tố tụng của Tòa án gửi cho chị O, bà cam đoan sẽ thông báo cho chị O được biết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ án, đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 55, 57, 81, 82, 83, 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV:

- Về tình cảm: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Trần Ngọc C và chị Trương Thị O.

- Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của anh Trần Ngọc C và chị Trương Thị O về việc giao cháu Trần Trung K, sinh ngày 24/8/2020 cho chị Trương Thị O trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Trong thời gian chị O đang ở nước ngoài, tạm giao cháu K cho bà ngoại là bà Hồ Thị H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị O về Việt Nam. Về mức cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn, vợ chồng tự thỏa thuận với nhau không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Trần Ngọc C có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

- Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên miễn xem xét.

- Về án phí: anh Trần Ngọc C và chị Trương Thị O phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

  1. Về tố tụng:
    1. Chị Trương Thị O hiện đang sinh sống, lao động tại Hungary, tại công căn xuất nhập cảnh số 627/PA08-Đ1 ngày 02/7/2024 của Phòng Q (PA08) - Công an tỉnh H xác nhận: Chị Trương Thị O xuất cảnh gần nhất vào ngày 16/3/2024 hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.
    2. Quá trình giải quyết vụ án, anh Trần Ngọc C và chị Trương Thị O đều trình bày vì điều kiện công việc, không thể có mặt trực tiếp để giải quyết vụ án và yêu cầu được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và chị O ủy quyền việc giao nhận tài liệu cho bà Hồ Thị H (mẹ đẻ chị O); địa chỉ: Thôn A, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Trần Ngọc C và chị Trương Thị O theo thủ tục chung.
  2. Về nội dung:
    1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Ngọc C và chị Trương Thị O đã tuân thủ các điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn ngày 21/10/2020, tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ quy định về điều kiện kết hôn của Luật hôn nhân và gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp.
    2. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Xét thấy, mâu thuẫn giữa anh C và chị O đã lâu, giữa anh C và chị O không còn tiếng nói chung, không đồng nhất trong cuộc sống hôn nhân và cả hai đều không mong muốn duy trì cuộc sống hôn nhân này. Mặt khác, hiện nay chị O đang lao động tại Hungary, do khoảng cách về địa lý nên mâu thuẫn giữa anh C và chị O cũng không thể hóa giải được, cuộc sống hôn nhân nhân cũng không có hạnh phúc.

      Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chung thủy, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau...nhưng hôn nhân của anh C và chị O không đạt được điều đó. Tại Điều 51 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn”. Vì vậy, cần áp dụng Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Trần Ngọc C và chị Trương Thị O.

    3. Quan hệ con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, anh Trần Ngọc C và chị Trương Thị O có 01 con chung là Trần Trung K, sinh ngày 24/8/2020, Hội đồng xét xử xét thấy: Mặc dù chị O đang sinh sống và lao động ở Hungary không thể trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung, tuy nhiên từ khi vợ chồng mâu thuẫn đến nay, cháu Trần Trung K sống cùng với bà Hồ Thị H (mẹ đẻ chị O), được bà H chăm sóc và nuôi dưỡng tốt, phát triển đầy đủ thể chất lẫn tinh thần. Anh C và chị O thống nhất giao con chung Trần Trung K, sinh ngày 24/8/2020 cho chị Trương Thị O trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành và trong thời gian chị O chưa về Việt Nam, bà Hồ Thị H mẹ đẻ chị O tự nguyện chăm sóc và nuôi dưỡng cháu Trần Trung K cho đến khi chị O về Việt Nam. Xét thấy, sự thỏa thuận của anh C và chị O là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật nên cần ghi nhận sự thỏa thuận này.
    4. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Trần Ngọc C và chị Trương Thị O tự thỏa thuận với với nhau không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

    5. Về tài sản chung, nợ chung: Anh Trần Ngọc C và chị Trương Thị O không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.
  3. Về án phí: Anh Trần Ngọc C tự nguyện chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 55, 57, 81, 82, 83, 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Trần Ngọc C và chị Trương Thị O.
  2. Về con chung: Giao con chung Trần Trung K, sinh ngày 24/8/2020 cho chị Trương Thị O trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Trong thời gian chị O đang ở nước ngoài, bà Hồ Thị H (mẹ đẻ chị O) tự nguyện chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Trần Trung K cho đến khi chị O về Việt Nam. Anh Trần Ngọc C có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
  3. Về án phí: Anh Trần Ngọc C tự nguyện nộp 150.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà anh C đã nộp tại biên lai số 0000912 ngày 16/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh. Trả lại cho anh Trần Ngọc C số tiền 150.000 đồng.
  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết; Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - UBND xã Xuân Liên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Bùi Minh Thư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 90/2024/HNGĐ-ST ngày 08/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 90/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình giữa anh Trần Ngọc C và chị Trương Thị O
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger