TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 90/2024/HNGĐ-ST Ngày: 06/11/2024 “V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI – THÀNH PHỐ HÀ NỘI.
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Việt Anh
Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Vỹ
Ông Nguyễn Văn Lương.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Quang – Thư ký Tòa án.
Đại diện VKSND Q. Hoàng Mai tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị N – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 661/2024/TLST-HNGĐ ngày 01/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83 ngày 16/10/2024, về việc “Xin ly hôn” giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị L – sinh năm 1993.
ĐKHKTT và chỗ ở: C Tháp B, Chung cư S N, phường M, quận H, Hà Nội (Chị L có mặt).
- Bị đơn: Anh Lưu Trí K – sinh năm 1990.
ĐKHKTT và chỗ ở: C Tháp B, Chung cư S N, phường M, quận H, Hà Nội (Anh K có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện, bản tự khai và các văn bản tố tụng khác, nguyên đơn chị Phạm Thị L trình bày:
Chị và anh Lưu Trí K tự nguyện lấy nhau và có đăng ký kết hôn ngày 26/06/2013 tại UBND xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Trước đó chưa ai có vợ, có chồng. Sau khi lấy nhau vợ chồng thuê nhà ở nhiều nơi và đến năm 2020 thì anh chị mua nhà và chuyển đến đăng ký thường trú, ở tại địa chỉ C Tháp B, Chung cư S N, phường M, quận H, Hà Nội.
Quá trình chung sống vợ chồng thời gian đầu cũng không có mâu thuẫn gì lớn, nhưng do tính cách của vợ chồng không hoà hợp, không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng hay cãi nhau. Việc vợ chồng cãi nhau kéo dài, ảnh hưởng đến tình cảm vợ chồng. Mâu thuẫn trầm trọng nhất từ đầu năm 2022, vợ chồng cãi nhau không không thể nói chuyện nên ngày 18/05/2022 vợ chồng đã ly thân, mỗi người một nơi, không thể chung sống. Nay chị xác định vợ chồng ly thân đã lâu, tình cảm không còn, mỗi người một cuộc sống không ai còn quan tâm đến ai nên chị xin ly hôn với anh K.
Về con chung: Chị và anh K có 01 con chung là Lưu Hà M – sinh ngày 30/01/2014. Sau khi ly hôn chị xin nuôi con vì bao lâu anh con ở với chị, nếu được nuôi con chị không yêu cầu anh K đóng góp nuôi con vì anh K cũng không có công việc và không có thu nhập ổn định. Hiện nay chị đang làm nghề tự do nên không có tài liệu chứng cứ về thu nhập để nộp cho Toà án, tuy nhiên chị xác định chị nuôi được con của mình.
Về tài sản chung, nhà đất ở chung: Chị Liên tình bày chị và anh K không có tài sản chung gì, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Chị và anh K không có gì, không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Tại Đơn đề nghị giải quyết, Đơn xin vắng mặt tại phiên toà, bị đơn anh Lưu Trí K trình bày:
- - Về tình cảm: Chị L xin ly hôn, anh K đồng ý ly hôn.
- - Về con chung: Anh K và chị L có 01 con chung là con chung là Lưu Hà M – sinh ngày 30/01/2014. Sau khi ly hôn, do hiện nay anh phải đi làm xa, không ở gần ở con được nên tôi vợ tôi xin nuôi con, tôi đồng ý để vợ tôi nuôi con.
Hiện nay do công việc, cuộc sống chưa ổn định nên anh chưa thể cấp dưỡng nuôi con, sau này nếu ổn định về cuộc sống và thu nhập, vấn đề cấp dưỡng anh sẽ trao đổi với chị L sau.
- - Về tài sản chung và các khoản nợ chung: Anh và chị L không có gì, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Do hiện nay anh K phải đi làm xa, không thường xuyên ở nhà nên anh K xin phép được vắng mặt tại quá trình giải quyết, các buổi làm việc, hoà giải và phiên toà các cấp nếu có. Anh K đề nghị Toà án tạo điều kiện và chấp nhận.
Tại phiên tòa hôm nay: Nguyên đơn chị L vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh K, về con chung chị và anh K có 01 con chung là Lưu Hà M – sinh ngày 30/01/2014. Chị L xin nuôi con và không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nhà đất ở chung và nợ chung, chị L trình bày chị và anh K không có gì, không yêu cầ Toà án giải quyết
Bị đơn anh Lưu Trí K xin vắng mặt tại phiên tòa.
- Đại diện VKSND quận Hoàng Mai tham gia phiên tòa, phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử sơ thẩm và việc tuân theo pháp luật của các đương sự; Đồng thời đề xuất hướng giải quyết vụ án như sau:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự:
- + Việc thụ lý vụ án của Tòa án là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã thực hiện việc giao thông báo, văn bản tố tụng của Tòa án cho các đương sự, tiến hành các bước tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- + Tại phiên tòa, HĐXX đã thực hiện đầy đủ, đúng trình tự tố tụng.
- + Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và bị đơn đều chấp hành nghiêm chỉnh các thông báo của Tòa án. Bị đơn anh K đã có đơn xin vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc, phiên hoà giải vì vậy Tòa án không thể tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
Đề xuất hướng giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị L xin ly hôn với anh K, anh K đồng ý ly hôn. Như vậy, tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị L, anh K đã thực sự trầm trọng, vợ chồng không thể đoàn tụ vì tình cảm không còn nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị L. Cho chị Phạm Thị L được ly hôn với anh Lưu Trí K.
Về con chung: Chị L và anh K đều xác nhận có 01 con chung là Lưu Hà M – sinh ngày 30/01/2014. Chị L xin nuôi con, anh K đồng ý để chị L nuôi con, cháu M cũng đã trên 07 tuổi và cháu cũng xin ở với mẹ nên đề nghị HĐXX giao con chung cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con nên không đề nghị HĐXX xem xét.
Về tài sản chung, nhà đất ở chung và nợ chung: Chị L và anh K cùng xác nhận anh chị không có gì nên đề nghị HĐXX không xem xét.
Chị Phạm Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật. Chị Phạm Thị L và anh Lưu Trí K có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa. Sau phần hỏi và tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:
{1} Về tố tụng: Chị Phạm Thị L xin ly hôn với anh Lưu Trí K. Anh K hiện có hộ khẩu thường trú và nơi ở tại Căn hộ C Tháp B, Chung cư S N, phường M, quận H, Hà Nội. Vì vậy, yêu cầu của chị L thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa bị đơn anh Lưu Trí K vắng mặt và xin vắng mặt tại phiên tòa, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt Lưu Trí K.
{2} Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị L: Tài liệu trong hồ sơ thể hiện chị Phạm Thị L và anh Lưu Trí Kkết hôn tự nguyện có đăng ký kết hôn ngày 26/6/2013 tại UBND xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên theo Giấy chứng nhận kết hôn số 28 năm 2013. Do đó đây là hôn nhân hợp pháp.
Căn cứ lời trình bày của chị L, anh K cũng như các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xác định: Nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng chị L và anh K là do vợ chồng không chung sống cùng nhau từ năm 2022, dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc, anh K thường xuyên không ở nhà, vợ chồng đã ly thân từ lâu, chị L xin ly hôn, anh K đồng ý ly hôn. Như vậy, có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng của chị L và anh K là không thể khắc phục được, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng không thể đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị L. Cho chị Phạm Thị L được ly hôn với anh Lưu Trí K.
{3} Về con chung: Căn cứ lời khai của các đương sự và Giấy khai sinh của con chung. Xác định chị L, anh K có 01 con chung là Lưu Hà M – sinh ngày 30/01/2014.
Xét nguyện vọng nuôi con của đương sự: Chị L trình bày kể từ sau khi ly thân, chị là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con, anh K hay phải đi làm xa nên không thể chăm sóc con được nên chị xin nuôi con và không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con. Anh K cũng đề nghị chị L nuôi con, cháu M cũng đã có ý kiến xin được ở với mẹ. Do vậy HĐXX xét thấy nên giao con chung cho chị L được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với thực tế và phù hợp với quy định pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của anh K cho đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Anh K có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
Về tài sản chung, nhà đất ở chung và nợ chung: Chị L và anh K cùng xác nhận không có nên HĐXX không xét.
{4} Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; điểm 1.1 khoản 1 Mục II Danh mục án phí, lệ phí Tòa án: Chị Phạm Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
{5} Về quyền kháng cáo: Chị Lê Phương A và anh Lưu Trí K có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bởi các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 56; Khoản 2 Điều 81; Khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; Khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ: Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; điểm 1.1 khoản 1 Mục II Danh mục án phí, lệ phí Tòa án:
Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị L. Cho chị Phạm Thị L ly hôn với anh Lưu Trí K.
Về con chung: Xác nhận chị Phạm Thị L và anh Lưu Trí K có 01 con chung là Lưu Hà M – sinh ngày 30/01/2014.
Giao con chung cho chị Phạm Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành, đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của anh K cho đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Anh K có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
Về tài sản chung, nhà đất ở chung, nợ chung: Chị L và anh K cùng xác nhận không có nên HĐXX không xét.
Về án phí: Chị Phạm Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị Phạm Thị L đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0033687 ngày 01/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội. Xác nhận chị Phạm Thị L đã nộp đủ 300.000 đồng.
Chị Phạm Thị L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Anh Lưu Trí K có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Việt Anh Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
Thành viên Hội đồng xét xử |
Bản án số 90/2024/HNGĐ-ST ngày 06/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 90/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
