|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 90/2024/HC-ST Ngày: 04-6-2024 |
|
|
V/v: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Minh Trí
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Phan Ngọc Rỹ
Bà Nguyễn Thị Thủy
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An: Ông Võ Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử sơ thẩm vụ án hành chính thụ lý số 40/2024/TLST-HC ngày 28 tháng 02 năm 2024 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2024/QĐXXST-HC ngày 02 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Ông Nguyễn Phước N, sinh năm 1970. Địa chỉ: Ấp G, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người bị kiện:
Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Thành P - Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Hồ Phương B - Phó trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1948. Địa chỉ: Ấp G, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Bà Võ Thị M, sinh năm 1950. Địa chỉ: Ấp G, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1988. Địa chỉ: Ấp G, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
(Ông N, ông B, ông Đ có mặt; bà M, người đại diện theo ủy quyền của Ủy ban có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và lời trình bày trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa người khởi kiện có nội dung như sau:
Ông Nguyễn Phước N khởi kiện yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K 613666, đối với thửa đất số 351, thuộc tờ bản đồ số 3, diện tích 118,9 m², do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho ông Nguyễn Văn X, tọa lạc tại ấp G, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
Lý do khởi kiện: Từ trước năm 1975 ông bà của ông N có cho cha mẹ ông N thửa đất 394, 413 loại đất ONT và đất vườn, cùng lối đi từ bản đồ số 03 cũ, được Nhà nước cấp giấy mới ngày 16/10/2017 thửa đất số 481, 271, tờ bản đồ số 10 loại đất ONT, loại đất cây hàng năm khác, tại xã M.
Cha mẹ ông N có cất nhà ở ổn định từ sau năm 1975 đến nay có lối đi mặt tiền đường nhựa Giồng Lớn ngang khoảng 3,8m, dài một cạnh 26,4m và một cạnh dài 30,1m, ngang hậu 4.7m, diện tích 118.9m², bản đồ cũ không thể hiện đường, đi qua một phần thửa đất số 351 tờ bản đồ số 03 cũ đã tách rời độc lập, ông N đã xây dựng hàng rào kiên cố và sử dụng từ đó cho đến nay để vào nhà nhưng ông Nguyễn Văn X đứng tên một phần thửa 351 nói trên. Tuy nhiên, do khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn X đối với thửa đất trên thì không có đo đạc xem xét thực tế, nên ngày 27/06/1997 ông được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất nói trên cho ông X là không đúng thực tế.
Ngày 06/11/2023, Ủy ban nhân dân huyện Đ có gửi công văn số 14817/UBND-TCD về việc trả lời đơn của công dân, hướng dẫn ông nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân.
Nay ông N làm đơn này đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Long An giải quyết hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 351, tờ bản đồ số 03 (trong đó diện tích 118.9m² của ông N) do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho ông Nguyễn Văn X.
Tại Văn bản số 5905/UBND-TA ngày 22/4/2024 của người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện Đ trình bày có nội dung:
Ngày 27/6/1997, Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn X với diện tích 14.540m² gồm 08 thửa trong đó có thửa 351; tờ bản đồ số 3; diện tích 166m², đất tọa lạc xã M là căn cứ vào hồ sơ xét duyệt của Hội đồng xét cấp giấy quyền sử dụng ruộng đất của xã Mỹ Hạnh N1 và Danh sách đủ điều kiện cấp giấy, trong đó có hộ ông Nguyễn Văn X.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Văn X, bà Võ Thị M có ý kiến trình bày:
Về nguồn gốc của đường đi do không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc để làm đường đi ra thổ mộ (do di huấn ông bà nói miệng nên không có bằng chứng và 1 phần đường lên thổ mộ thuộc quyền sử dụng đất ông N nên đường đi bị hủy bỏ), chỉ còn trong giấy quyền sử dụng đất 118.9m² do ông Nguyễn Văn X đứng tên mà
ông N đã gom xây rào chung với diện tích 296m² mà gia đình ông chia hương quả thân tộc cho ông N vào 09/6/2008. Ông đồng ý để lại cho ông N tiếp tục sử dụng. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.
Về nội dung: Qua xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa cho thấy, ngày 27/6/1997 Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn X với diện tích 14.540m² gồm 08 thửa trong đó có thửa 351; tờ bản đồ số 3; diện tích 166m², đất tọa lạc xã M là căn cứ vào hồ sơ xét duyệt của Hội đồng xét cấp giấy quyền sử dụng ruộng đất của xã Mỹ Hạnh N1 và Danh sách đủ điều kiện cấp giấy, trong đó có hộ ông Nguyễn Văn X. Trên thửa đất số 351, tờ bản đồ số 3, toạ lạc tại xã M, huyện Đ, có 1 lối đi, mặt tiền tiếp giáp đường G, lối đi được tráng đan xi măng, chiều ngang phía trước tiếp giáp lộ là 3,8m, chiều ngang phía sau 4,7m, chiều dài 1 cạnh 26,4m, chiều dài cạnh còn lại 30,1m nằm trong khuôn viên hàng rào nhà ông N. Ủy ban nhân dân huyện khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn X chỉ dựa vào hồ sơ địa chính, không đo đạc và xem xét hiện trạng sử dụng đất dẫn đến cấp sai đối tượng sử dụng đất. Ông Nguyễn Phước N khởi kiện đề nghị hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K 613666, thửa đất số 351, thuộc tờ bản đồ số 3, đối với phần đất có diện tích 118,9 m², do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho ông Nguyễn Văn X, tọa lạc tại ấp G, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu chứng cứ, ý kiến của những người tham gia tố tụng và ý kiến Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Nguyễn Phước N yêu cầu Tòa án hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K 613666, thửa đất số 351, thuộc tờ bản đồ số 3, đối với phần đất có diện tích 118,9 m², do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho ông Nguyễn Văn X, tọa lạc tại ấp G, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. Đây là khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Long An theo quy định tại khoản 1 Điều 30 và khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính.
[2] Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 06/11/2023, Ủy ban nhân dân huyện Đ có công văn số 14817/UBND-TCD về việc trả lời đơn của công dân, hướng dẫn ông N nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân. Nên ngày 24/11/2023 ông Nguyễn Phước N nộp đơn khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An là còn trong thời hiệu, nên Tòa án thụ lý giải quyết là đúng quy định tại Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính.
[3] Về việc tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và đối thoại: Tòa án đã có thông báo cho các đương sự nhưng người bị kiện vắng mặt, người khởi kiện có đơn yêu cầu không đối thoại nên Tòa án lập biên bản về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản không tiến hành đối thoại được theo quy định của Điều 135, 137 Luật Tố tụng hành chính.
[4] Người đại diện theo pháp luật của người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện Đ có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 158 Luật Tố tụng hành chính Tòa án nhân dân tỉnh Long An tiến hành xét xử vắng mặt ông P là phù hợp.
[5] Về hình thức và thẩm quyền ban hành quyết định:
Ngày 27/6/1997, Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn X với diện tích 14.540m² gồm 08 thửa trong đó có thửa 351; tờ bản đồ số 3; diện tích 166m², đất tọa lạc xã M là căn cứ vào hồ sơ xét duyệt của Hội đồng xét cấp giấy quyền sử dụng ruộng đất của xã M và danh sách đủ điều kiện cấp giấy, trong đó có hộ ông Nguyễn Văn X là đúng quy định về hình thức, thẩm quyền, ban hành quyết định theo quy định của Luật Đất đai năm 1993.
Tuy nhiên, Ủy ban nhân dân huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn X chỉ dựa vào hồ sơ địa chính, không đo đạc và xem xét hiện trạng sử dụng đất là có sai sót.
[6] Về nội dung của quyết định hành chính: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và phần trình bày của các đương sự tại phiên tòa thể hiện thửa đất số 351, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại xã M, huyện Đ, có 1 lối đi, mặt tiền tiếp giáp đường G, lối đi được tráng đan xi măng, chiều ngang phía trước tiếp giáp lộ là 3,8m, chiều ngang phía sau 4,7m, chiều dài 1 cạnh 26,4m, chiều dài cạnh còn lại 30,1m nằm trong khuôn viên hàng rào nhà ông N. Nội dung này được chứng minh qua lời khai của ông N, ông X, bà M và biên bản thẩm định tại chổ của Tòa án nhân dân tỉnh Long An ngày 26/4/2024. Ủy ban nhân dân huyện khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn X chỉ dựa vào hồ sơ địa chính, không đo đạc và xem xét hiện trạng sử dụng đất dẫn đến cấp sai đối tượng sử dụng đất là trái với quy định tại Điều 2, Điều 20, Điều 73 Luật Đất đai năm 1993. Do đó, yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Phước N là có căn cứ nên được chấp nhận như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tại phiên tòa.
[7] Về chi phí tố tụng và án phí:
Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng. Ông N đã nộp và tự nguyện chịu toàn bộ chi phí này nên ghi nhận là phù hợp theo khoản 1 Điều 357, 358 Luật Tố tụng hành chính.
Về án phí: Ủy ban nhân dân huyện Đ phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định của Điều 348 Luật Tố tụng hành chính và Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193; Điều 30, Điều 32, Điều 116, Điều 158, Điều 348, Điều 357, Điều 358 Luật Tố tụng hành chính;
Căn cứ Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Áp dụng Điều 2, Điều 20, Điều 73 Luật Đất đai năm 1993;
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Phước N.
- Về chi phí tố tụng:
- Về án phí:
- Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K 613666, đối với thửa đất số 351, thuộc tờ bản đồ số 3, có diện tích 118,9 m², do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho ông Nguyễn Văn X ngày 27/6/1997, tọa lạc tại ấp G, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
Ông N được quyền đăng ký kê khai để được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Phước N chịu 3.000.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, ông N đã nộp xong.
Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) ông Nguyễn Phước N đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000185 ngày 23/02/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An.
Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Minh Trí |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Minh Trí |
Bản án số 90/2024/HC-ST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Số bản án: 90/2024/HC-ST
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Phước N "Khiếu kiện quyết định hành chính" UBND huyện Đức Hòa
