|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG Bản án số: 90/2024/DS-ST Ngày 30 – 9 – 2024 “V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Diệu.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Văn Qui.
- Ông Nguyễn Văn Trưởng.
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Nhiệm – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mỹ Diện – Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 150/2024/TLST-DS, ngày 21 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 206/2024/QĐXXST-DS, ngày 29 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 181/2024/QĐST-DS ngày 13 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần P1.
Địa chỉ trụ sở chính: Số D và D, đường L, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật ông Trịnh Văn T – Chủ tịch Hội đồng Quản trị.
Người đại diện theo uỷ quyền: Hồ Thái T1, chức vụ Giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần P1 – Chi nhánh H2.
Địa chỉ: Số A, đường C, phường V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang.
Theo văn bản uỷ quyền số 15/2024/UQ-CT.HĐQT ngày 06/5/2024 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần P1.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Liêu Thái H; chức vụ: Chuyên viên Thu hồi nợ, Phòng xử lý hội sở - Khối vận hành (có mặt).
Địa chỉ: Tầng A, tầng B, Tòa nhà Hòa Bình B, số A, Hòa Bình, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
Theo văn bản uỷ quyền số 39/2024/UQ-OCB ngày 01/7/2024 của Giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần P1 – Chi nhánh H2.
- Bị đơn:
2.1. Ông Cao Hùng T2, sinh năm 1973 (vắng mặt).
2.2. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1970 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Khu V Bình Thạnh B, phường B, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần P1 (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) có người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng là ông Liêu Thái H trình bày ý kiến:
Bà Nguyễn Thị L và ông Cao Hùng T2 có ký kết hợp đồng tín dụng số 0012/2021/HĐTD-OCD-CN ngày 19/01/2021 để vay số tiền 4.000.000.000 đồng, mục đích vay là thanh toán tiền mua bất động sản tại thửa 2922, 2923. Thời hạn vay 228 tháng, lãi suất cho vay trong 03 tháng đầu là 11%/năm, từ tháng thứ 4 trở đi áp dụng lãi suất cho vay điều chỉnh định kỳ 06 tháng/lần, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn.
Để đảm bảo khoản vay ông T2 và bà L có thế chấp các tài sản gồm: giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH00049 do Ủy ban nhân dân thị xã L cấp ngày 10/11/2015 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CH00052 do Ủy ban nhân dân thị xã L cấp ngày 10/11/2015 do Cao Hùng T2 và bà Nguyễn Thị L đứng tên chủ sử dụng.
Ngoài khoản nợ nêu trên, bà Nguyễn Thị L và Ngân hàng thương mại cổ phần P1 còn ký kết hợp đồng mở thẻ tín dụng số 099/2020/HĐTD-THE-HG ngày 30/11/2020 hạn mức tín dụng là 300.000.000 đồng.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông T2, bà L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ, tính đến thời điểm khởi kiện ông T2, bà L còn nợ Ngân hàng tổng số tiền 3.743.659.862 đồng. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông T2, bà L có trách nhiệm trả cho Ngân hàng tổng số tiền 3.743.659.862 đồng.
Yêu cầu tiếp tục tính lãi suất theo thoả thuận phát sinh tại hợp đồng tín dụng, các phụ lục hợp đồng, hợp đồng mở thẻ tín dụng đã ký kết giữa Ngân hàng và ông Cao Hùng T2, Nguyễn Thị L kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả hết số nợ. Trường hợp, ông T2, bà L không thực hiện hoặc thực hiện không đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì yêu cầu kê biên phát mãi tài sản đã thế chấp đã ký kết để đảm bảo thu hồi nợ.
Tại phiên tòa, Ngân hàng rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, đối với khoản nợ thẻ tín dụng, Ngân hàng xác định chỉ khởi kiện yêu cầu bà L là chủ thẻ phải thanh toán khoản nợ gốc thẻ tín dụng, lãi và phí phát sinh theo hợp đồng đã ký kết, không yêu cầu ông T2 có nghĩa liên đới cùng bà L trả khoản nợ này. Ngân hàng xác định yêu cầu Toà án giải quyết cụ thể như sau: Buộc bị đơn ông T2, bà L phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền nợ theo hợp đồng tín dụng là: 2.626.584.552 đồng. Trong đó: Nợ gốc 1.931.190.332 đồng, lãi suất trong hạn: 570.980.486 đồng, lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả lãi: 67.634.723 đồng, lãi quá hạn: 56.779.011 đồng. Đối với bà L phải thanh toán nợ thẻ tín dụng với tổng số tiền: 1.107.897.589 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 287.232.441đồng, lãi: 349.199.748 đồng, phí: 471.465.400 đồng.
Quá trình tố tụng tại Tòa án bị đơn ông Cao Hùng T2, bà Nguyễn Thị L vắng mặt chưa ghi nhận được ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký, chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần P1. Buộc bị đơn ông Cao Hùng T2 và bà Nguyễn Thị L có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần P1 tổng số tiền nợ theo hợp đồng tín dụng là: 2.626.584.552 đồng. Buộc bà Nguyễn Thị L phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần P1 tổng số tiền nợ thẻ tín dụng là 1.107.897.589 đồng.
Tiếp tục tính lãi suất theo thoả thuận phát sinh tại hợp đồng tín dụng, các phụ lục hợp đồng, hợp đồng mở thẻ tín dụng đã ký kết giữa Ngân hàng và ông Cao Hùng T2, Nguyễn Thị L kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả hết số nợ. Trường hợp, ông T2, bà L không thực hiện hoặc thực hiện không đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì yêu cầu kê biên phát mãi tài sản đã thế chấp đã ký kết để đảm bảo thu hồi nợ.
Về chi phí tố tụng và án phí bị đơn phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần P1 khởi kiện bị đơn ông Cao Hùng T2 và bà Nguyễn Thị L yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng nên xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà, bị đơn ông Cao Hùng T2 và bà Nguyễn Thị L vắng mặt, Toà án đã tiến hành triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai ông T2, bà L vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân Hội đồng xét xử sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn. Tòa án căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 40 Bộ luật dân sự; Điều 173, 179 Bộ luật tố tụng dân sự, hướng dẫn tại tại điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 05 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho đương sự và căn cứ vào các tài liệu chứng cứ nguyên đơn cung cấp để giải quyết.
[3] Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp gồm: Hợp đồng tín dụng số 0012/2021/HĐTD-OCD-CN, Khế ước nhận nợ - Khách hàng cá nhân số 0012/2021/KUNN-OCD-CN lập ngày 19/01/2021; Hợp đồng sửa đổi bổ sung số 0012.01/2021/PLHĐTD-OCB-CN ngày 29/9/2021 về việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số 0012/2021/HĐTD-OCD-CN và khế ước nhận nợ số 0012/2021/KUNN-OCD-CN lập ngày 19/01/2021; Hợp đồng sửa đổi bổ sung số 0012.02/2022/PLHĐTD-OCB-CN ngày 18/03/2022; Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân số 099/2020/HĐTD-THE-HG ngày 30/11/2020, chủ thẻ chính bà Nguyễn Thị L; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0012/2021/BĐ ngày 19/01/2021; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 0012.01/2022/PLBĐ ngày 18/3/2022 về việc sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0012/2021/BĐ ngày 19/01/2021; phiếu yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 10/01/2021; bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00049 do Ủy ban nhân dân thị xã L cấp ngày 10/11/2015; Bảng kê tính lãi khách hàng Nguyễn Thị L đối với hợp đồng tín dụng ngày 20/5/2024; ngày 30/9/2024; hồ sơ pháp lý gồm: Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần M, Quyết định phân công số 1018/2023/QĐ-NS&ĐT ngày 26/12/2023 đối với ông Nguyễn Huỳnh Duy P, Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh Mã số 0300852005-007 đăng ký lần đầu ngày 27/11/2006 đăng ký thay đổi lần thứ 10 ngày 01/11/2022, Quyết định số 927/2023/NS&ĐT ngày 30/10/2023 về việc tuyển dụng và bổ nhiệm chức vụ đối với ông Lê Thanh Đ; Quyết định số 137/2024/QĐ-CT-HĐQT ngày 21/6/2024 về việc tuyển dụng và bổ nhiệm chức vụ đối với ông Hồ Thái T1; hồ sơ ủy quyền của Ngân hàng: Giấy uỷ quyền tham gia tố tụng số 15/2024/UQ-CT.HĐQT ngày 06/5/2024 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần P1 và số 39/2024/UQ-OCB ngày 01/7/2024 của Giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần P1 – Chi nhánh H2.
[4] Từ những tài liệu, chứng cứ nêu trên chứng minh được giữa Ngân hàng và ông Cao Hùng T2, bà Nguyễn Thị L có thỏa thuận và giao kết và thực hiện Hợp đồng tín dụng số 0012/2021/HĐTD-OCD-CN ngày 19/01/2021 để vay số tiền 4.000.000.000 đồng, mục đích vay là thanh toán tiền mua bất động sản tại thửa 2922, 2923. Thời hạn vay 228 tháng, lãi suất cho vay trong 03 tháng đầu là 11%/năm, từ tháng thứ 4 trở đi áp dụng lãi suất cho vay điều chỉnh định kỳ 06 tháng/lần, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn. Ngoài khoản nợ nêu trên bà Nguyễn Thị L còn ký kết Hợp đồng mở thẻ tín dụng số 099/2020/HĐTD-THE-HG ngày 30/11/2020, hạn mức tín dụng là 300.000.000 đồng.
[5] Quá trình thực hiện hợp đồng ông T2, bà L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi theo định kỳ của hợp đồng tín dụng; bà L vi phạm nghĩa vụ thanh toán gốc, lãi và phí được thep thoả thuận tại hợp đồng mở thẻ tín dụng. Tính đến thời xét xử sơ thẩm. bị đơn ông T2, bà L còn nợ Ngân hàng tổng số tiền theo hợp đồng tín dụng là: 2.626.584.552 đồng. Trong đó: Nợ gốc 1.931.190.332 đồng, lãi suất trong hạn: 570.980.486 đồng, lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả lãi: 67.634.723 đồng, lãi quá hạn: 56.779.011 đồng. Đối với bà L còn nợ thẻ tín dụng với tổng số tiền: 1.107.897.589 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 287.232.441đồng, lãi: 349.199.748 đồng, phí: 471.465.400 đồng. Do đó, việc Ngân hàng khởi kiện ông T2, bà L buộc ông T2, bà L thanh toán nợ gốc, lãi, phí phát sinh theo thoả thuận là có căn cứ.
[6] Tại phiên toà, đại diện theo uỷ quyền của Ngân hàng thay đổi yêu cầu khởi kiện đối với khoản nợ thẻ tín dụng, xác định người ký phát hành thẻ tín dụng là bà L nên Ngân hàng yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà L phải có nghĩa vụ thanh toán nợ gốc, lãi, phí phát sinh. Ngân hàng rút lại yêu cầu khởi kiện đối với ông T2 liên quan đến khoản nợ thẻ tín dụng. Căn cứ Điều 188 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chỉ xem xét trong phạm vi khởi kiện của nguyên đơn và căn cứ Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ giải quyết đối với một phần yêu cầu khởi kiện nguyên đơn đã rút.
[7] Đối với Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0012/2021/BĐ ngày 19/01/202; được ký kết giữa ông T2, bà L với Ngân hàng nội dung thể hiện: “Điều 1: Bên thế chấp đồng ý thế chấp tài sản nêu tại Điều 2 hợp đồng này để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của bên thế chấp đối với OCB gồm toàn bộ nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, phí, chi phí khác; Điều 2: Tài sản thế chấp gồm: Tài sản 1: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CH00049 do Ủy ban nhân dân thị xã L cấp ngày 10/11/2015 cho bà Phạm Thu H1, đến ngày 19/01/2021 thì ông T2, bà L nhận chuyển nhượng từ bà H1 và đã được Chi nhánh văn phòng đất đai thị xã L chỉnh lý biến động cho ông T2, bà L cụ thể như sau: Thửa đất số 2922, tờ bản đồ số 1, địa chỉ thửa đất Khu vực Bình Thạnh B, phường B, thị xã L, tỉnh Hậu Giang. Diện tích 135,1m², loại đất ở tại đô thị. Tài sản 2: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CH00052 do Ủy ban nhân dân thị xã L cấp ngày 10/11/2015, thửa đất số 2923, tờ bản đồ số 1, địa chỉ thửa đất Khu vực Bình Thạnh B, phường B, thị xã L, tỉnh Hậu Giang. Diện tích 134,7m², loại đất ở tại đô thị.
[8] Về hình thức: Hợp đồng thế chấp lập thành văn bản, có công chứng và đăng ký thế chấp tại chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã L ngày 19/01/2021, theo đúng quy định tại Điều 500, 501, 502, 503 Bộ luật dân sự 2015. Về nội dung: tại thời điểm ký kết và đăng ký hợp đồng thế chấp bên thế chấp có quyền thế chấp theo quy định tại các Điều 166, 167, 168 Luật đất đai 2013. Đến ngày 18/3/2022, Ngân hàng và ông T2, bà L tiếp tục ký kết Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 0012.01/2022/PLBĐ ngày 18/3/2022 về việc sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0012/2021/BĐ ngày 19/01/2021 sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 2 của hợp đồng thế chấp cụ thể như sau: “Tài sản đảm bảo gồm thửa đất số 2922, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CH00049 do Ủy ban nhân dân thị xã L cấp ngày 10/11/2015 cho bà Phạm Thu H1, đến ngày 19/01/2021 chỉnh lý biến động sang tên ông T2, bà L...”.
[9] Căn cứ biên bản xem xét thẩm định tại chổ ngày 09/8/2024 của Toà án nhân dân thị xã Long Mỹ thể hiện: “Thửa đất số 2922 vẫn do ông Cao Hùng T2, bà Nguyễn Thị L đứng tên chủ sử dụng, chưa chuyển quyền cho người khác. Qua khảo sát bản đồ địa chính không thể hiện chủ sử dụng giáp ranh, hiện trạng phần đất là đất trống không có công trình, vật kiến trúc, cây trồng trên đất chỉ có cây tạp tự mọc. Đại diện theo uỷ quyền của Ngân hàng không yêu cầu tiến hành đo đạc thự tế để xác định vị trí thửa đất cụ thể, yêu cầu Toà án căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết, việc đo đạc thực tế Ngân hàng sẽ yêu cầu trong giai đoạn thi hành án”.
[10] Từ những nhận định và chứng cứ nêu trên, căn cứ các quy định tại khoản 1, 5 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà. Buộc bị đơn ông Cao Hùng T2, bà Nguyễn Thị L có trách nhiệm liên đới trả cho nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần P1 khoản nợ theo hợp đồng tín dụng tính đến ngày xét xử sơ thẩm là: 2.626.584.552 đồng. Buộc bà L có trách nhiệm thanh toán khoản nợ thẻ tín dụng tính đến ngày xét xử sơ thẩm với tổng số tiền: 1.107.897.589 đồng cho Ngân hàng.
[11] Tiếp tục tính lãi suất, phí phát sinh theo hợp đồng tín dụng, các Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng và ông Cao Hùng T2, bà Nguyễn Thị L; giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết giữa Ngân hàng và bà Nguyễn Thị L kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi ông T2, bà L trả hết số nợ. Trong trường hợp ông T2, bà L không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thì Ngân hàng có quyền đề nghị phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ.
[12] Về chi phí xem xét thẩm định tại chổ: Căn cứ Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn đã nộp xong với số tiền 2.000.000đồng. Do yêu cầu của nguyên đơn được Toà án chấp nhận nên bị đơn phải chịu. Bị đơn ông T2, bà L có trách nhiệm trả lại cho Ngân hàng số tiền này.
[12] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị đơn ông Cao Hùng T2, bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với yêu cầu của Ngân hàng được Toà án chấp nhận với số tiền 2.626.584.552 đồng = 72.000.000đồng + (626.584.552 đồng x 2%) = 84.531.691 đồng. Bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí tương ứng với yêu cầu của Ngân hàng được Toà án chấp nhận với số tiền 1.107.897.589 đồng = 36.000.000 đồng + (3% x 307.897.589 đồng) = 45.236.927 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 42, 91, 147, 157, 173, 179, 188, 217, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 3 Điều 40, khoản 1, 5 Điều 466, 500, 501, 502, 503 Bộ luật dân sự 2015 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 166, 167, 168 Luật đất đai năm 2013; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 05 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
[2] Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần P1.
[3] Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần P1 về việc yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông Cao Hùng T2 có trách nhiệm liên đới cùng với bà Nguyễn Thị L trả số tiền nợ theo thoả thuận đã ký kết tại giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân số 099/2020/HĐTD-THE-HG ngày 30/11/2020 được ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần P1 - Chi nhánh H2 và bà Nguyễn Thị L.
[4] Buộc bị đơn ông Cao Hùng T2 và bà Nguyễn Thị L có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần P1 với tổng số tiền nợ theo hợp đồng tín dụng là: 2.626.584.552 đồng (hai tỷ sáu trăm hai mươi sáu triệu năm trăm tám mươi bốn nghìn năm trăm năm mươi hai đồng). Trong đó: Nợ gốc 1.931.190.332 đồng (một tỷ chín trăm ba mươi mốt triệu một trăm chín mươi nghìn ba trăm ba mươi hai đồng), lãi suất trong hạn: 570.980.486 đồng (năm trăm bảy mươi triệu chín trăm tám mươi nghìn bốn trăm tám mươi sáu đồng, lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả lãi: 67.634.723 đồng (sáu mươi bảy triệu sáu trăm ba mươi bốn nghìn bảy trăm hai mươi ba đồng), lãi quá hạn: 56.779.011 đồng (năm mươi sáu triệu bảy trăm bảy mươi chín nghìn không trăm mười một đồng).
[5] Tiếp tục tính lãi suất phát sinh theo thỏa thuận đã ký kết tại Hợp đồng tín dụng số Hợp đồng tín dụng số 0012/2021/HĐTD-OCD-CN, Khế ước nhận nợ-Khách hàng cá nhân 0012/2021/KUNN-OCD-CN lập ngày 19/01/2021 lập ngày 19/01/2021; Hợp đồng sửa đổi bổ sung số 0012.01/2021/PLHĐTD-OCB-CN ngày 29/9/2021; Hợp đồng sửa đổi bổ sung số 0012.02/2022/PLHĐTD-OCB-CN ngày 18/03/2022 được ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần P1 - Chi nhánh H2 và ông Cao Hùng T2, bà Nguyễn Thị L kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi bị đơn ông T2, bà L trả hết số nợ.
[6] Trong trường hợp bị đơn ông T2, bà L không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ phát sinh theo Hợp đồng tín dụng Ngân hàng thương mại cổ phần P1 có quyền đề nghị phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp đã ký kết số Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0012/2021/BĐ ngày 19/01/2021; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp số 0012.01/2022/PLBĐ ngày 18/3/2022 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần P1 - Chi nhánh H2 với ông Cao Hùng T2 và bà Nguyễn Thi L1.
[7] Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị L có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần P1 với tổng số tiền: 1.107.897.589 (một tỷ một trăm lẻ bảy triệu tám trăm chín mươi bảy nghìn năm trăm tám mươi chín đồng). Trong đó: Nợ gốc: 287.232.441đồng (hai trăm tám mươi bảy triệu hai trăm ba mươi hai nghìn bốn trăm bốn mươi mốt đồng), lãi: 349.199.748 đồng (ba trăm bốn mươi chín triệu một trăm chín mươi chín nghìn bảy trăm bốn mươi tám đồng), phí: 471.465.400 đồng (bốn trăm bảy mươi mốt triệu bốn trăm sáu mươi lăm nghìn bốn trăm đồng).
[8] Tiếp tục tính lãi suất phát sinh theo thỏa thuận đã ký kết tại Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân số 099/2020/HĐTD-THE-HG ngày 30/11/2020 được ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần P1 - Chi nhánh H2 và bà Nguyễn Thị L kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi bị đơn bà L trả hết số nợ.
[9] Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi, lãi suất cho vay thì lãi, lãi suất cho vay được xác định theo thỏa thuận của các bên và văn bản quy phạm pháp luật quy định về lãi, lãi suất có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh lãi, lãi suất.
[10] Về chi phí tố tụng: Ngân hàng thương mại cổ phần P1 đã nộp xong với số tiền 2.000.000đồng (hai triệu đồng). Bị đơn ông Cao Hùng T2 và bà Nguyễn Thi L1 có trách nhiệm liên đới trả lại cho nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần P1 số tiền 2.000.000đồng (hai triệu đồng).
[11] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Cao Hùng T2, bà Nguyễn Thị L phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền 84.531.691 đồng (tám mươi bốn triệu năm trăm ba mươi mốt nghìn sáu trăm chín mươi mốt đồng). Bị đơn bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí với số tiền 45.236.927 đồng (bốn mươi lăm triệu hai trăm ba mươi sáu nghìn chín trăm hai mươi bảy đồng).
[12] Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần P1 được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 53.436.000đồng (năm mươi ba triệu bốn trăm ba mươi sáu nghìn đồng) theo biên lai thu số 0007901 ngày 27 tháng 6 năm 2024, nhận tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
[13] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
[14] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Diệu |
Bản án số 90/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 90/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
