|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 90/2024/DS-ST Ngày: 04-9-2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Minh Thìn.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Tô Phú Mỹ.
- Bà Cao Thị Diệu Hiền.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Bích Vân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 155/2023/TLST-DS ngày 11 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 99/2024/QĐST-DS ngày 14 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 (Viết tắt là Ngân hàng).
- - Ông Trần Minh P, chức vụ: Cán bộ Ngân hàng.
- - Ông Phan Tấn Đ, chức vụ: Cán bộ Ngân hàng.
- - Ông Trần Văn Q, chức vụ: Cán bộ Ngân hàng.
- Bị đơn:
- Ông Ngô Minh Đ1, sinh năm: 1977.
- Bà Lê Thị Minh X, sinh năm: 1983.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Hồ Thị Hồng M, sinh năm: 1963.
- Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm: 1983.
- Anh Nguyễn Thanh T1, sinh năm: 2002.
- Chị Nguyễn Thị Huyền T2, sinh năm: 1985.
- Anh Trịnh Văn T3, sinh năm: 1982.
- Cháu Trịnh Minh D, sinh năm: 2008.
- Bà Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm: 1958.
- Ông Trần Trung N1, sinh năm 1956.
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1978.
- Anh Huỳnh Vĩnh T4, sinh năm: 1981.
Địa chỉ: Tầng A (tầng trệt) và Tầng B, Tòa nhà S - A P, phường B, Quận A, TP ..
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V, chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền:
Địa chỉ liên hệ: Tầng F, Tòa nhà P - Số B U, Phường B, quận B, TP ..
Cùng địa chỉ: Số A ĐT H, khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đ.
Cùng địa chỉ: Số D N, Phường F, Quận A, TP ..
Người đại diện theo pháp luật của cháu Trịnh Minh D: Anh Trịnh Văn T3 và chị Nguyễn Thị Huyền T2 (cha mẹ ruột).
Cùng địa chỉ: Số H, ấp T, xã T, thành phố S, tỉnh Đ.
Cùng địa chỉ: Số F, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đ.
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đ.
Tất cả cùng nơi ở: Nhà không số trên thửa đất 1059, tờ bản đồ số 15 tuyến đường ĐT 852B, ấp T, xã T, thành phố S, tỉnh Đ.
Địa chỉ: Số B, Hẻm A, L, Khóm A, Phường C, thành phố S, tỉnh Đ.
Ông Đ có mặt tại phiên tòa; bà M, anh Thanh T5, anh T1, chị T2, anh Văn T6 vắng mặt, nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; ông P, ông Q, ông Đ1, bà X, bà N, ông N1, anh T4, bà H vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng có ông Phan Tấn Đ trình bày:
Trước đây, Ngân hàng và bà X, ông Đ1 có ký các hợp đồng tín dụng (viết tắt là HĐTD), cụ thể như sau:
- - HĐTD số 1235250.20 ngày 15/10/2020 với nội dung: Ngân hàng cho bà X và ông Đ1 vay số tiền 165.000.000 đồng; mục đích vay vốn thanh toán tiền mua xe ô tô tải, mới 100%, kinh doanh, nhãn hiệu SUZUKI SK410K4, biển số 66C-127.84, theo hợp đồng mua bán số 2567/HĐMB/TĐ-20 ngày 12/10/2020, giữa bên được cấp tín dụng và Công Ty cổ phần T7; thời hạn vay 72 tháng, từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đến ngày 16/10/2026. Lãi suất vay tại thời điểm giải ngân 12,1%/năm, lãi suất này sẽ được Ngân hàng chủ động điều chỉnh 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 3,5%/năm. Hoàn trả khoản tín dụng gốc hàng tháng vào ngày 15, kỳ trả đầu tiên ngày 15/11/2020, số tiền trả mỗi kỳ 2.295.000 đồng, số còn lại trả vào cuối kỳ. Ngày trả lãi hàng tháng vào ngày 15, trả phí theo quy định của Ngân hàng từng thời kỳ.
- Ngày 16/10/2020, Ngân hàng đã giải ngân cho bà X và ông Đ1 theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 1235250(1).20 với số tiền 165.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với HĐTD.
- - HĐTD số 7303741.21 ngày 27/5/2021 với nội dung: Ngân hàng cho bà X và ông Đ1 vay số tiền 1.850.000.000 đồng, mục đích vay vốn bù đắp vốn tự có nhận chuyển nhượng bất động sản tại xã T, thành phố S, tỉnh Đ (thửa đất 1059, tờ bản đồ số 15); thời hạn vay 180 tháng, từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đến ngày 28/5/2036. Lãi suất vay tại thời điểm giải ngân 9,3%/năm, lãi suất này là lãi suất ưu đãi và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản tín dụng, hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 3,7%/năm. Hoàn trả khoản tín dụng gốc: thời gian ân hạn không áp dụng, hàng tháng vào ngày 25, kỳ trả đầu tiên ngày 25/6/2021, số tiền trả mỗi kỳ 10.280.000 đồng, số tiền còn lại trả vào cuối kỳ. Ngày trả lãi hàng tháng vào ngày 25, kỳ trả đầu tiên ngày 25/6/2021. Ngày trả phí theo quy định của Ngân hàng từng thời kỳ.
- Ngày 28/5/2021, Ngân hàng đã giải ngân cho bà X và ông Đ1 theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 7303741.21 với số tiền 1.850.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với HĐTD.
- - HĐTD số 2214235.21 ngày 31/8/2021 với nội dung: Ngân hàng cho bà X và ông Đ1 vay số tiền 150.000.000 đồng, mục đích vay vốn tiêu dùng mua sắm vật dụng gia đình, thời hạn vay 96 tháng, từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đến ngày 01/9/2029. Lãi suất vay tại thời điểm giải ngân 12,7%/năm, lãi suất này sẽ được Ngân hàng chủ động điều chỉnh 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 4,3%/năm. Hoàn trả khoản tín dụng gốc: thời gian ân hạn không áp dụng, hàng tháng vào ngày 25, kỳ trả đầu tiên ngày 25/9/2021, số tiền trả mỗi kỳ 1.562.500 đồng. Ngày trả lãi vào ngày 25 hàng tháng, kỳ trả đầu tiên vào ngày 25/9/2021. Ngày trả phí theo quy định của Ngân hàng từng thời kỳ.
- Ngày 01/9/2021, Ngân hàng đã giải ngân cho bà X và ông Đ1 theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 2214235.21 với số tiền 150.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với HĐTD.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1059, tờ bản đồ số 15, địa chỉ xã T, thành phố S, tỉnh Đ, tài sản gắn liền trên đất là nhà ở riêng lẻ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU 544497, số vào sổ cấp GCN: CS04792 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 14/02/2020, cập nhật chuyển nhượng ngày 10/5/2021 cho bà X. Tài sản này được thế chấp tại Ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (viết tắt là HĐTC) số công chứng 3772, Quyển số 02/2021 TP/CC-SCC/HĐGD do Phòng C tỉnh Đồng Tháp công chứng ngày 28/5/2021. Việc thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
Quá trình thực hiện hợp đồng, bà X và ông Đ1 có trả được các khoản tiền như sau: HĐTD số 1235250.20 ngày 15/10/2020 tiền vốn, tiền lãi trả được 24 kỳ, trong đó nợ gốc đã trả là 55.080.000 đồng, nợ lãi đã trả 33.608.967 đồng. HĐTD số 7303741.21 ngày 27/5/2021 tiền vốn, tiền lãi trả được 16 kỳ, trong đó nợ gốc đã trả là 170.277.565 đồng, nợ lãi đã trả 236.480.670 đồng. HĐTD số 2214235.21 ngày 31/8/2021 tiền vốn, tiền lãi trả được 13 kỳ, trong đó nợ gốc đã trả là 20.312.500 đồng, nợ lãi đã trả 19.140.975 đồng. Tổng cộng các HĐTD số tiền vốn và tiền lãi đã trả là 534.900.677 đồng (trong đó nợ gốc 245.670.065 đồng, nợ lãi 289.230.612 đồng). Bà X, ông Đ1 đã vi phạm nội dung thỏa thuận tại các HĐTD, HĐTC đã ký kết, các khoản vay đã quá hạn thanh toán từ ngày 25/10/2022 và đang xếp loại nợ nhóm 4, là nợ xấu theo quy định tại Điều 10 Thông tư số 11/2021/TT-NHNN của Ngân hàng N2.
Nay Ngân hàng yêu cầu buộc bà X và ông Đ1 phải thanh toán (trả) cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 08/5/2023 là 2.092.242.724 đồng, trong đó: HĐTD số 1235250.20 ngày 15/10/2020 nợ gốc 109.920.000 đồng, nợ lãi trong hạn 933.050 đồng, nợ lãi quá hạn 8.342.096 đồng, tổng cộng 119.195.146 đồng; HĐTD số 7303741.21 ngày 27/5/2021 nợ gốc 1.679.722.435 đồng, nợ lãi trong hạn 8.735.328 đồng, nợ lãi quá hạn 142.519.937 đồng, tổng cộng 1.830.977.700 đồng; HĐTD số 2214235.21 ngày 31/8/2021 nợ gốc 129.687.500 đồng, nợ lãi trong hạn 676.712 đồng, nợ lãi quá hạn 11.705.666 đồng, tổng cộng 142.069.878 đồng. Tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn kể từ ngày 09/5/2023 cho đến khi bà X và ông Đ1 thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại các HĐTD số 1235250.20 ngày 15/10/2020, Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 1235250(1).20 ngày 16/10/2020; HĐTD số 7303741.21 ngày 27/5/2021, Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 7303741.21 ngày 28/5/2021; HĐTD số 2214235.21 ngày 31/8/2021, Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 2214235.21 ngày 01/9/2021.
Trong trường hợp bà X và ông Đ1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, đề nghị Tòa án tuyên Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản thế chấp. Hiện tài sản bà X, ông Đ1 thế chấp là quyền sử dụng đất thửa đất số 1059, tờ bản đồ số 15, địa chỉ xã T, thành phố S, tỉnh Đ và tài sản gắn liền với đất là nhà ở riêng lẻ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU 544497, số vào sổ cấp GCN: CS04792 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 14/02/2020, cập nhật chuyển nhượng ngày 10/5/2021 cho bà X thì bà M, anh Thanh T5, anh T1, chị T2, anh Văn T6, cháu D, bà N, ông N1, anh T4, bà H đang quản lý, sử dụng. Do đó, Ngân hàng yêu cầu những người này di dời tài sản, giao thửa đất và căn nhà ở riêng lẻ bà X, ông Đ1 thế chấp cho Ngân hàng để Ngân hàng yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp.
Bất kỳ sự thay đổi, sửa chữa, nâng cấp nào của bà X và ông Đ1 đối với tài sản thế chấp làm tăng giá trị thực tế của tài sản thế chấp sẽ được coi là bộ phận không thể tách rời thuộc tài sản thế chấp để thu hồi nợ vay cho Ngân hàng. Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho bên vay vốn với Ngân hàng. Trường hợp nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết nợ thì bên vay vốn vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng.
Trong trường hợp bà X, ông Đ1 đã thi hành án xong, mà tài sản thế chấp không bị phát mãi để thi hành án thì Ngân hàng trả lại cho bà X, ông Đ1 toàn bộ bản chính giấy tờ thế chấp do Ngân hàng đang giữ.
Ngoài ra, Ngân hàng không có yêu cầu gì khác.
Các bị đơn bà Lê Thị Minh X, ông Ngô Minh Đ1 dù đã được tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ, nhưng không có văn bản nêu ý kiến, không đến Tòa án để làm việc, không xuất trình bất cứ tài liệu, chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thanh T, bà Hồ Thị Hồng M, anh Nguyễn Thanh T1 có đơn yêu cầu giải quyết vụ kiện vắng mặt. Trước đây có ý kiến trình bày:
Tháng 12/2021 anh Thanh T5 có mua nhà, đất (thửa đất 1059) của bà X, ông Đ1 với giá tiền tổng cộng 2,7 tỷ đồng. Đến tháng 6/2022 anh Thanh T5 sửa chữa lại nhà, xây dựng, mở rộng thêm; Đến tháng 8/2022 thì anh Thanh T5, bà M, anh T1 về ở trong 01 phòng của căn nhà 02 phòng đến nay. Từ tháng 12/2023 anh Thanh T5 cho anh Văn T6, chị T2 thuê 01 phòng của căn nhà 02 phòng (thỏa thuận bằng lời nói) với giá 2.000.000 đồng/tháng và anh Thanh T5 cũng cho ông N1, bà N thuê 01 căn nhà (thỏa thuận bằng lời nói) với giá 1.500.000 đồng/tháng đến nay.
Anh Thanh T5 không có tranh chấp, không có yêu cầu gì về hợp đồng mua bán nhà, đất với bà X, ông Đ1. Anh Thanh T5, bà M, anh T1 không có tranh chấp, không có yêu cầu gì về hợp đồng thế chấp thửa đất 1059, tờ bản đồ số 15 và căn nhà trên đất giữa Ngân hàng và bà X, ông Đ1. Trường hợp xử lý tài sản thế chấp thửa đất 1059, tờ bản đồ số 15 và căn nhà trên đất thì anh Thanh T5 yêu cầu được ưu tiên mua.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trịnh Văn T3, chị Nguyễn Thị Huyền T2; anh Văn T6, chị T2 cũng là người đại diện theo pháp luật của cháu Trịnh Minh D (cha, mẹ ruột) có đơn yêu cầu giải quyết vụ kiện vắng mặt. Trước đây có ý kiến trình bày:
Từ tháng 12/2023 anh Văn T6, chị T2 có thuê 01 phòng của nhà 02 phòng từ anh Thanh T5 (thỏa thuận bằng lời nói) với giá thuê là 2.000.000 đồng/tháng để ở đến nay. Trong vụ án này anh Văn T6, chị T2 không có tranh chấp, không có yêu cầu gì. Mọi kết quả giải quyết của Tòa án anh Văn T6, chị T2 sẽ chấp hành theo quy định.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Huỳnh Vĩnh T4 vắng mặt tại phiên tòa. Trước đây có ý kiến trình bày:
Anh T4 đang quản lý, sử dụng một phần thửa đất 1059, tờ bản đồ số 15 để xây dựng nhà ở, sân gạch sử dụng từ năm 2022 đến nay. Phần đất này vào khoảng tháng 8/2022 bà X, ông Đ1 thỏa thuận bằng lời nói bán (chuyển nhượng) cho anh T4 với giá tiền 350.000.000 đồng, diện tích thỏa thuận là 5m x 7m = 35m², lúc này anh T4 biết thửa đất 1059 và nhà trên đất bà X, ông Đ1 đang thế chấp ngân hàng.
Anh T4 không có tranh chấp, không có yêu cầu gì về việc chuyển nhượng đất với bà X, ông Đ1, không có yêu cầu gì về số tiền đã trả nhận chuyển nhượng đất của bà X, ông Đ1; không có tranh chấp, không có yêu cầu gì về hợp đồng thế chấp thửa đất 1059, tờ bản đồ số 15 và nhà trên đất giữa Ngân hàng với bà X, ông Đ1.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Tuyết N, ông Trần Trung N1 và bà Nguyễn Thị H dù đã được tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ, nhưng không có văn bản nêu ý kiến, không đến Tòa án để làm việc, không xuất trình bất cứ tài liệu, chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
- - Về tố tụng: Thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, đều đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Tuyết N, ông Trần Trung N1, anh Huỳnh Vĩnh T4 và bà Nguyễn Thị H không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án.
- - Về nội dung vụ án: Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng, buộc bà X và ông Đ1 phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền vốn vay, tiền lãi vay tạm tính đến ngày 08/5/2023 là 2.092.242.724 đồng; tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn kể từ ngày 09/5/2023 cho đến khi bà X và ông Đ1 thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại các HĐTD số 1235250.20 ngày 15/10/2020, Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 1235250(1).20 ngày 16/10/2020; HĐTD số 7303741.21 ngày 27/5/2021, Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 7303741.21 ngày 28/5/2021; HĐTD số 2214235.21 ngày 31/8/2021, Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 2214235.21 ngày 01/9/2021. Trong trường hợp bà X, ông Đ1 không trả được nợ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo HĐTC ngày 28/5/2021 để thi hành án theo quy định của pháp luật.
- - Về án phí và chi phí tố tụng khác đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, nhưng bà X, ông Đ1, bà N, ông N1, bà H không có văn bản trình bày ý kiến, cũng không đến Tòa án để làm việc, tham dự phiên tòa xét xử vụ án; anh T4 dù nhận các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa án để làm việc, không tham dự phiên tòa xét xử vụ án; bà M, anh Thanh T5, anh T1, chị T2, anh Văn T6 vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.
[2] Về nội dung vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Về trình tự thủ tục và nội dung xác lập HĐTD số 1235250.20 ngày 15/10/2020, Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 1235250(1).20 ngày 16/10/2020; HĐTD số 7303741.21 ngày 27/5/2021, Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 7303741.21 ngày 28/5/2021; HĐTD số 2214235.21 ngày 31/8/2021, Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 2214235.21 ngày 01/9/2021 và HĐTC ngày 28/5/2021 giữa bên cho vay và nhận thế chấp là Ngân hàng với bên vay và thế chấp tài sản là bà X, ông Đ1 phù hợp với quy định của pháp luật, được công nhận, có hiệu lực, nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng thì bà X, ông Đ1 đã vi phạm nghĩa vụ trong các HĐTD, chưa trả đầy đủ vốn và lãi cho Ngân hàng theo như hợp đồng đã ký kết. Do đó, Ngân hàng yêu cầu bà X, ông Đ1 trả số tiền vốn vay và tiền lãi tạm tính đến ngày 08/5/2023 tổng cộng là 2.092.242.724 đồng; tiếp tục trả lãi, lãi quá hạn kể từ ngày 09/5/2023 theo quy định tại các HĐTD, Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ cho đến khi bà X và ông Đ1 trả nợ xong, đồng thời yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo HĐTC là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.2] Trên thửa đất 1059 bà X, ông Đ1 thế chấp cho Ngân hàng từ ngày 28/5/2021, hiện nay có 03 căn nhà có kết cấu nền gạch men, mái tole, vách tường + tole. Trong đó, có 01 căn nhà ngăn thành 02 phòng ở, 01 phòng hiện do bà M, anh Thanh T5, anh T1 ở và 01 phòng do anh Văn T6, chị T2, cháu D ở; 01 căn nhà do bà N, ông N1 đang ở; 01 căn nhà hiện do bà H ở. Theo đó:
[2.2.1] Anh Thanh T5 trình bày tháng 12/2021 anh Thanh T5 có mua nhà, đất (thửa đất 1059) của bà X, ông Đ1 với giá tiền tổng cộng 2,7 tỷ đồng. Đến tháng 6/2022 anh Thanh T5 sửa chữa lại nhà, xây dựng, mở rộng thêm; Đến tháng 8/2022 thì anh Thanh T5, bà M, anh T1 về ở trong 01 phòng của căn nhà 02 phòng đến nay. Từ tháng 12/2023 anh Thanh T5 cho anh Văn T6, chị T2 thuê 01 phòng của căn nhà 02 phòng (thỏa thuận bằng lời nói) với giá 2.000.000 đồng/tháng và anh Thanh T5 cũng cho ông N1, bà N thuê 01 căn nhà (thỏa thuận bằng lời nói) với giá 1.500.000 đồng/tháng đến nay.
Anh Thanh T5 không có tranh chấp, không có yêu cầu gì về hợp đồng mua bán nhà, đất với bà X, ông Đ1. Anh Thanh T5, bà M, anh T1 không có tranh chấp, không có yêu cầu gì về hợp đồng thế chấp thửa đất 1059, tờ bản đồ số 15 và căn nhà trên đất giữa Ngân hàng và bà X, ông Đ1. Anh Thanh T5, bà M, anh T1, anh Văn T6, chị T2 không có tranh chấp, không có yêu cầu gì trong vụ án. Anh T6 chỉ trình bày, trường hợp xử lý tài sản thế chấp thửa đất 1059, tờ bản đồ số 15 và căn nhà trên đất thì anh Thanh T5 yêu cầu được ưu tiên mua.
Anh Thanh T5, bà M, anh T1, anh Văn T6, chị T2 đã được Tòa án thông báo, giải thích về quyền lợi sẽ bị ảnh hưởng nếu không yêu cầu xem xét hợp đồng chuyển nhượng nhà, đất, hợp đồng thuê nhà, việc xây dựng sửa chữa nhà trên thửa đất 1059. Tuy nhiên, anh Thanh T5, bà M, anh T1, anh Văn T6, chị T2 khi Tòa án ghi lời khai, trình bày không yêu cầu, nên Tòa án không xem xét, nếu có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
[2.2.2] Anh Huỳnh Vĩnh T4 trình bày có quản lý, sử dụng một phần thửa đất 1059, tờ bản đồ số 15 để xây dựng nhà ở, sân gạch sử dụng từ năm 2022 đến nay. Phần đất này vào khoảng tháng 8/2022 bà X, ông Đ1 thỏa thuận bằng lời nói bán (chuyển nhượng) cho anh T4 (không lập văn bản) với giá tiền 350.000.000 đồng, diện tích thỏa thuận là 5m x 7m = 35m², lúc này anh T4 có biết thửa đất 1059 và nhà trên đất bà X, ông Đ1 đang thế chấp ngân hàng. Tuy nhiên, trong vụ án này Anh T4 không có tranh chấp, không có yêu cầu gì về việc chuyển nhượng đất với bà X, ông Đ1, không có yêu cầu gì về số tiền đã trả nhận chuyển nhượng đất của bà X, ông Đ1; không có tranh chấp, không có yêu cầu gì về hợp đồng thế chấp thửa đất 1059, tờ bản đồ số 15 và nhà trên đất giữa Ngân hàng với bà X, ông Đ1.
Anh Trà d đã được Tòa án thông báo, giải thích về quyền lợi sẽ bị ảnh hưởng nếu không yêu cầu xem xét hợp đồng chuyển nhượng nhà, đất, hợp đồng thuê nhà, việc xây dựng sửa chữa nhà, công trình trên thửa đất 1059. Tuy nhiên, anh T4 vẫn không yêu cầu, nên Tòa án không xem xét, nếu có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
[2.2.3] Bà Nguyễn Thị Tuyết N, ông Trần Trung N1 và bà Nguyễn Thị H là những người có đang sử dụng nhà trên thửa đất 1059, mặc dù đã được tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ, nhưng không có văn bản nêu ý kiến, không đến Tòa án để làm việc, không xuất trình bất cứ tài liệu, chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình.
Bà N, ông N1, bà H dù đã được Tòa án thông báo, giải thích về quyền lợi sẽ bị ảnh hưởng nếu không yêu cầu xem xét hợp đồng chuyển nhượng nhà, đất, hợp đồng thuê nhà, việc xây dựng sửa chữa nhà, công trình trên thửa đất 1059. Tuy nhiên, bà N, ông N1, bà H vẫn không yêu cầu, nên Tòa án không xem xét, nếu có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
[3] HĐTC ngày 28/5/2021 giữa bà X, ông Đ1 với Ngân hàng đối thửa đất số 1059, tờ bản đồ số 15 và tài sản gắn liền trên đất là nhà ở riêng lẻ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU 544497 cấp ngày 14/02/2020, cập nhật chuyển nhượng ngày 10/5/2021, HĐTC được công chứng và được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 28/5/2021 là hợp pháp, có hiệu lực, phát sinh hiệu lực đối kháng với bên thứ ba kể từ ngày 28/5/2021. Còn những người hiện đang ở trên đất thực hiện các giao dịch với bà X, ông Đ1 và thực hiện các giao dịch với nhau đều sau ngày đã đăng ký giao dịch bảo đảm, hơn nữa các giao dịch này hình thức chỉ bằng lời nói, văn bản không có công chứng, chứng thực.
Do đó, việc Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp; yêu cầu những người đang ở trên thửa đất 1059 là bà M, anh Thanh T5, anh T1, chị T2, anh Văn T6, cháu D, bà N, ông N1, anh T4, bà H di dời tài sản, giao thửa đất và căn nhà ở riêng lẻ bà X, ông Đ1 thế chấp cho Ngân hàng để Ngân hàng yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp thu hồi nợ cho Ngân hàng trong trường hợp bà X và ông Đ1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng là có căn cứ và phù hợp quy định của pháp luật, nên được chấp nhận.
[4] Trên thửa đất 1059 có nhà của anh Thanh T5 được xây cất sau khi đã được thế chấp đất cho Ngân hàng; Anh Thanh T5 có ý kiến trường hợp xử lý tài sản thế chấp thửa đất 1059 và căn nhà trên đất thì anh Thanh T5 yêu cầu được ưu tiên mua.
Hội đồng xét xử nhận thấy, yêu cầu của anh Thanh T5 phù hợp với Án lệ số 11/2017/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 14/12/2017, về công nhận hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất mà trên đất có tài sản không thuộc sở hữu của bên thế chấp; Án Lệ có nội dung như sau: “....Trường hợp trên đất có nhiều tài sản gắn liền với đất mà có tài sản thuộc sở hữu của người sử dụng đất, có tài sản thuộc sở hữu của người khác mà người sử dụng đất chỉ thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc sở hữu của mình, hợp đồng thế chấp có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật thì hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật...
... Trường hợp bên thế chấp và bên nhận thế chấp thỏa thuận bên nhận thế chấp được bán tài sản bảo đảm là quyền sử dụng diện tích đất mà trên đất có nhà thuộc sở hữu của người khác không phải là người sử dụng đất thì cần dành chủ sở hữu nhà đó được quyền ưu tiên nếu họ có nhu cầu mua (nhận chuyển nhượng)”.
Do đó, căn cứ vào nội dung của Án Lệ nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được ưu tiên mua của anh Thanh T5.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận, nên bà X, ông Đ1 phải liên đới chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
[6] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận, nên bà X, ông Đ1 phải liên đới chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 700.000 đồng. Ngân hàng đã nộp tạm ứng toàn bộ chi phí; do đó, bà X, ông Đ1 phải liên đới trả lại cho Ngân hàng 700.000 đồng.
[7] Đối với ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp quy định pháp luật, nên Hội đồng xét xử thống nhất.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 91, 92, 147, 157, 227, 228, 264, 271, 273, 278 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ các Điều 357, 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- - Căn cứ các Điều 100, 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024;
- - Căn cứ Án lệ số 11/2017/AL được công bố theo Quyết định số 299/QĐ-CA28 tháng 12 năm 2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
- - Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH12 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1.
- Buộc bà Lê Thị Minh X, ông Ngô Minh Đ1 phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 số tiền vốn vay, tiền lãi vay tạm tính đến ngày 08/5/2023 là 2.092.242.724 đồng. Tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn kể từ ngày 09/5/2023 theo quy định tại các Hợp đồng tín dụng số 1235250.20 ngày 15/10/2020, Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 1235250(1).20 ngày 16/10/2020; Hợp đồng tín dụng số 7303741.21 ngày 27/5/2021, Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 7303741.21 ngày 28/5/2021; Hợp đồng tín dụng số 2214235.21 ngày 31/8/2021, Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 2214235.21 ngày 01/9/2021 cho đến khi bà X và ông Đ1 thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
- Trong trường hợp bà X, ông Đ1 không trả được nợ, thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản thế chấp là thửa đất số 1059, tờ bản đồ số 15, địa chỉ xã T, thành phố S, tỉnh Đ và tài sản gắn liền trên đất là nhà ở riêng lẻ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU 544497, số vào sổ cấp GCN: CS04792 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 14/02/2020, cập nhật chuyển nhượng ngày 10/5/2021 cho bà Lê Thị Minh X, theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 28/5/2021 để thu hồi nợ.
Trường hợp này anh Nguyễn Thanh T được ưu tiên nhận chuyển nhượng đối với diện tích đất đang sử dụng.
Nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết nợ thì bà X, ông Đ1 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1.
- Buộc bà Hồ Thị Hồng M, anh Nguyễn Thanh T, anh Nguyễn Thanh T1, chị Nguyễn Thị Huyền T2, anh Trịnh Văn T3, cháu Trịnh Minh D, bà Nguyễn Thị Tuyết N, ông Trần Trung N1, anh Huỳnh Vĩnh T4, bà Nguyễn Thị H giao thửa đất số 1059, tờ bản đồ số 15 và tài sản gắn liền trên đất là nhà ở riêng lẻ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU 544497, số vào sổ cấp GCN: CS04792 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 14/02/2020, cập nhật chuyển nhượng ngày 10/5/2021 cho bà X, mà bà X và ông Đ1 thế chấp cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 để Ngân hàng yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản thế chấp.
- Trường hợp bà X, ông Đ1 trả được nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1, tài sản thế chấp không bị phát mãi để thi hành án thì Ngân hàng phải trả lại cho bà X, ông Đ1 toàn bộ bản chính giấy tờ thế chấp (hiện Ngân hàng đang giữ).
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Bà Lê Thị Minh X, ông Ngô Minh Đ1 phải liên đới chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm là 73.845.000đ (Bảy mươi ba triệu tám trăm bốn mươi lăm nghìn đồng).
- - Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 36.922.500 đồng theo biên lai thu số 0003230 ngày 11/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Buộc bà Lê Thị Minh X, ông Ngô Minh Đ1 phải liên đới phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 700.000 đồng.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Cao Thị Diệu Hiền – Tô Phú Mỹ |
Đỗ Minh Thìn |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa
Đỗ Minh Thìn
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh ĐT;
- - VKSND thành phố Sa Đéc;
- - Chi cục THADS TP. Sa Đéc;
- - Các đương sự;
- - Lưu Hồ sơ, Văn phòng.
Bản án số 90/2024/DS-ST ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 90/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu bên a buộc bên b trả lại số tiền vốn vay
