|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc. |
|
Bản án số: 90/2024/DS-PT Ngày: 26/7/2024. V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quốc Thành.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thu Hà.
Ông Phạm Trường Du.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Chuỳ - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 45/2024/TLPT-DS ngày 23 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do bản án sơ thẩm số 14/2024/DS-ST ngày 04 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2024/QĐ-PT ngày 26 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Trương Văn B, sinh năm 1958.
Địa chỉ: Phố B, L, thị trấn C, huyện B, tỉnh Thanh Hóa (có mặt).
* Bị đơn: Bà Hà Thị L, sinh năm 1960.
Anh Hà Tuấn A, sinh năm 1987.
Cùng đia chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện B, tỉnh Thanh Hóa. (bà L có mặt; Anh Hà Tuấn A vắng mặt, đã ủy quyền cho bà L tham gia tố tụng).
Người đại diện theo uỷ quyền của bà L: Ông Nguyễn Đình S (SN 1961).
Địa chỉ: Xã T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Trương Văn B trình bày:
2
Ngày 28/10/2017, bà Hà Thị L vay của ông 10.000.000đ (mười triệu đồng). Có viết giấy vay tiền, thỏa thuận lãi suất 3%/tháng. Thời hạn vay từ 28/10/2017 đến 07/11/2017 (10 ngày). Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa trả lãi và gốc.
Ngày 30/7/2022 bà L và con trai là Hà Tuấn A tiếp tục vay tiền của ông B là 132.500.000đ (một trăm ba hai triệu năm trăm nghìn đồng) hai bên có viết giấy vay tiền. Thỏa thuận vay 06 tháng lãi suất 3%/tháng. Từ ngày vay đến nay chưa trả đồng nào. Nay ông B khởi kiện bà L và anh Tuấn A có trách nhiệm trả toàn bộ tiền gốc và lãi của hai khoản vay trên từ ngày vay theo lãi suất 20%/năm.
* Tại các bản tự khai cũng như quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Hà Thị L trình bày: Ngày 28/10/2017 bà có vay 10.000.000đ (mười triệu đồng) của ông B nhưng đã trả xong, khi bà trả thì ông B nói “để ông tìm giấy nợ xé sau”. Vì tin tưởng nên không yêu cầu ông B ký nhận. Nay ông B không xé giấy vay số tiền trên mà lại kiện đòi tiền lần nữa nên bà L không đồng ý trả. Bà đề nghị Tòa án xem xét.
Về khoản vay 132.500.000₫ (một trăm ba hai triệu năm trăm nghìn đồng) ngày 30/7/2022 là chốt cả nợ gốc 100.000.000₫ (một trăm triệu đồng) và lãi 32.500.000đ (ba hai triệu năm trăm nghìn đồng) viết lại giấy vay có cả chữ ký của con trai bà là Hà Tuấn A. Khoản tiền này bà L vay để chi tiêu sinh hoạt cả gia đình, con trai là anh Tuấn A cũng biết khi chốt nợ, cả hai mẹ con cùng ký.
* Tại các bản tự khai cũng như quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Hà Tuấn A trình bày: Khoản tiền 132.500.000₫ (một trăm ba hai triệu năm trăm nghìn đồng) anh ký giấy vay tiền cùng mẹ là Hà Thị L là khoản tiền chốt nợ với ông B. Trước đây bà L vay với ông B để chi trả các khoản nợ khác trong gia đình và chữa bệnh cho bố, anh Tuấn A chỉ ký xác nhận cùng mẹ chứ không được tiêu nên không có trách nhiệm trả. Sau khi làm bản tự khai anh Hà Tuấn A ủy quyền cho mẹ đẻ là Hà Thị L tham gia tố tụng vì anh phải đi làm ăn xa.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông B yêu cầu bà Hà Thị L và anh Hà Tuấn A trả toàn bộ tiền gốc của hai lần vay ngày 28/10/2017 là 10.000.000đ (mười triệu đồng) và vay 132.500.000₫ (một trăm ba hai triệu năm trăm nghìn đồng) ngày 30/7/2022. Về lãi suất, ông B không yêu cầu lãi đối với khoản vay 10.000.000₫ (mười triệu đồng) ngày 28/10/2017. Đối với tiền lãi của của khoản vay 132.500.000₫ (một trăm ba hai triệu năm trăm nghìn đồng) vay ngày 30/7/2022 thì ông yêu cầu tính lãi từ ngày vay đến 30/3/2024 là 20 tháng (132.500.000₫ x 1,66% x 20 tháng = 43.990.000₫). Tổng cả gốc và lãi ông yêu cầu bà L phải trả cho ông là 132.500.000đ + 43.990.000₫ = 176.490.000₫ (một trăm bảy sáu triệu bốn trăm chín mươi nghìn đồng). Ông B tự nguyện bớt cho bà L 6.490.000₫ (sáu triệu bốn trăm chín mươi nghìn đồng). Chỉ yêu cầu bà L và anh Tuấn A có trách nhiệm trả cho ông B tổng cả hai khoản vay là 180.000.000₫ (một trăm tám mươi triệu đồng).
3
Cũng tại phiên tòa sơ thẩm, bà Hà Thị L thừa nhận có ký hai giấy vay tiền với ông Trương Văn B cụ thể: Giấy vay 10.000.000đ (mười triệu đồng) ngày 28/10/2017 một mình bà L ký. Tuy nhiên bà không xuất trình được chứng cứ gì về việc bà đã trả cho ông B. Khoản vay ngày 30/7/2022 là 132.500.000₫ (một trăm ba hai triệu năm trăm nghìn đồng) là cộng dồn cả tiền gốc 100.000.000₫ (một trăm triệu đồng) và lãi 32.500.000đ (ba hai triệu năm trăm nghìn đồng) để chốt nợ vào một giấy vay tiền. Cả bà và con trai là anh Tuấn A cùng ký vào giấy vay tiền. Nay do hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, mặc dù ông B đã bớt cho bà 6.490.000₫ (sáu triệu bốn trăm chín mươi nghìn đồng) tiền lãi nhưng nguyện vọng bà L xin chỉ trả tổng số hai món vay đang còn nợ là 150.000.000₫ (một trăm năm mươi triệu đồng).
Tại Bản án sơ thẩm số 14/2024/DS-ST ngày 04/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa đã áp dụng: Các Điều 357; Điều 463; Điều 466; Điều 468 Bộ luật Dân sự (BLDS); Khoản 3 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 2 Điều 92; Điều 147; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố Tụng Dân sự (BLTTDS); Điểm đ khoản 1 Điều 12; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trương Văn B đối với khoản vay ngày 28/10/2017 số tiền gốc 10.000.000đ (mười triệu đồng). Không chấp nhận yêu cầu về tính lãi vì đã hết thời hiệu. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Trương Văn B đối với khoản vay ngày 30/7/2022 số tiền gốc 132.500.000₫ và lãi là 1,66%/tháng. Tổng cả gốc và lãi (đã trừ số tiền 6.490.000₫ ông B tự nguyện bót) là 170.000.000đ (một trăm bảy mươi triệu đồng). Bà Hà Thị L có trách nhiệm trả cho ông Trương Văn B 10.000.000đ (mười triệu đồng). Bà Hà Thị L và anh Hà Tuấn A phải có trách nhiệm liên đới trả cho ông Trương Văn B tổng cả gốc và lãi là 170.000.000₫ (một trăm bảy mươi triệu đồng), trả một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra Bản án còn quyết định về lãi xuất chậm trả, án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.
Sau khi xử sơ thẩm, ngày 16/4/2024, bị đơn bà Hà Thị L đã kháng cáo toàn bộ nội dung không đồng ý trả khoản vay 10.000.000đ (mười triệu đồng) ngày 28/10/2017 và xin toàn bộ số lãi của khoản vay 132.500.000₫ (một trăm ba hai triệu năm trăm nghìn đồng) ngày 30/7/2022. Tại phiên toà phúc thẩm: Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, người kháng cáo không rút đơn kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà có quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của BLTTDS trong quá trình giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử (HĐXX) đã thực hiện đúng các quy định của BLTTDS về phiên tòa phúc thẩm. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng
4
theo quy định của BLTTDS. Về nội dung, đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS quyết định theo hướng: Không chấp nhân kháng cáo của bị đơn bà Hà Thị L, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm số 14/2024/DS-ST ngày 04/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa. Về án phí phúc thẩm bị đơn bà Hà Thị L được miễn án phí phúc thẩm do là người cao tuổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến tranh luận của các đương sự và quan điểm của Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa về việc giải quyết vụ án, HĐXX nhận định:
[1] Về tố tụng và quan hệ pháp luật: Ông Trương Văn B cho bà Hà Thị L vay tiền hai lần. Ngày 28/10/2017 viết giấy vay 10.000.000đ (mười triệu đồng), lãi suất thỏa thuận 3%/tháng, thời hạn vay từ 28/10/2017 đến 07/11/2017, (khoản nợ này bà L cho rằng đã thanh toán đủ cho ông B). Ngày 30/7/2022 bà L và con trai là Hà Tuấn A tiếp tục vay tiền của ông B là 132.500.000₫ (một trăm ba hai triệu năm trăm nghìn đồng) cũng có viết giấy vay tiền. Thỏa thuận vay 06 tháng, lãi suất 3%/tháng. Bà L và anh Tuấn A chưa trả nợ cho ông B. Hai bên không thống nhất được với nhau về số tiền nợ, ông B đã đòi nhiều lần nhưng bà L và anh Tuấn A không trả nên đã làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó có đủ căn cứ để xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 BLTTDS và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.
[2] Xét tính hợp pháp của kháng cáo: Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 16/4/2024 bà Hà Thị L có đơn kháng cáo và đã được miễn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm (theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH) đúng quy định tại Điều 273; Điều 275 và Điều 276 BLTTDS nên đơn kháng cáo là hợp pháp, được thụ lý, xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm
[3] Xét kháng cáo của bị đơn bà Hà Thị L:
[3.1] Về số tiền nợ gốc: Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Hà Thị L thừa nhận ngày 28/10/2017 có vay của ông Trương Văn B 10.000.000đ (mười triệu đồng) nhưng bà cho rằng đã thanh toán nên không còn nợ ông số tiền trên như ghi trong “Giấy vay tiền mặt”, bà chỉ thừa nhận còn nợ ông B khoản vay 132.500.000₫ (một trăm ba hai triệu năm trăm nghìn đồng) ngày 30/7/2022. Bà L thừa nhận chữ ký trong giấy vay tiền ngày 28/10/2017 là chữ ký của bà và giấy vay tiền ngày 30/7/2022 là chữ ký của bà và con trai bà là anh Tuấn A. Số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) bà vay nhưng đã trả cho ông B. Tuy nhiên đây chỉ là lời khai một phía, quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm cũng như tại phiên toà phúc thẩm, bà L không có tài liệu chứng cứ nào để chứng minh bà đã trả nợ
5
số tiền trên cho ông B. Mặt khác, tại phiên tòa bà L và ông B đều khẳng định ngày 28/10/2017 cả hai bên đều ký nhận vào giấy vay tiền nhưng ông B không thừa nhận bà L đã thanh toán số tiền trên. Do đó việc bà L khai đã trả đủ cho ông B là không có căn cứ chấp nhận.
[3.2] Đối với tiền lãi: Khoản vay ngày 30/7/2022 là 132.500.000₫ (một trăm ba hai triệu năm trăm nghìn đồng), thời hạn vay 06 tháng, lãi suất thỏa thuận 3%/tháng. Người ký giấy vay là bà Hà Thị L và con trai là Hà Tuấn A. Bà L cũng như anh Tuấn A cho rằng số tiền trên là giấy chốt nợ cộng dồn tiền nợ gốc 100.000.000₫ (một trăm triệu đồng) và lãi 32.500.000₫ (ba hai triệu năm trăm nghìn đồng). Tuy nhiên chứng cứ bà L cung cấp có trong hồ sơ vụ án là 02 giấy phô tô trắng đen ghi nhật ký trả nợ (do bà L tự ghi); ngoài ra không có tài liệu, giấy tờ gì khác để chứng minh gồm số tiền gốc 100.000.000₫ (một trăm triệu đồng) và lãi 32.500.000₫ (ba hai triệu năm trăm nghìn đồng). Mặt khác ông B không thừa nhận khoản tiền 132.500.000₫ (một trăm ba hai triệu năm trăm nghìn đồng) này gồm cả gốc và lãi mà vẫn khẳng định tất cả đều là tiền gốc như giấy vay tiền cả hai bên đã ký. Do vậy ông B yêu cầu tính lãi từ ngày vay 30/7/2022 đến 30/3/2024 là 20 tháng được tính là 132.500.000₫ x 1,66% x 20 tháng = 43.990.000₫ (bốn ba triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng). Tổng cả gốc và lãi là 176.490.000₫ (một trăm bảy sáu triệu, bốn trăm chín mươi nghìn đồng) là phù hợp quy định tại Điều 468 của BLDS nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận là có căn cứ pháp luật.
Tuy nhiên tại cấp sơ thẩm, Ông B đã tự nguyện bớt cho bà L 6.490.000₫ (sáu triệu bốn trăm chín mươi nghìn đồng) tiền lãi. Chỉ yêu cầu bà L và anh Tuấn A có trách nhiệm trả cho ông B cả gốc và lãi của hai khoản vay đang còn nợ ngày 30/7/2022 là 170.000.000đ (một trăm bảy mươi triệu đồng). Đây là sự tự nguyện của ông B nên được cấp sơ thẩm chấp nhận và buộc bà L và anh Hà Tuấn A liên đới có trách nhiệm trả cho ông B 170.000.000₫ (một trăm bảy mươi triệu đồng). Việc ông B không yêu cầu tính lãi xuất của số tiền nợ 10.000.000₫ (mười triệu đồng) ngày 28/10/2017 và trừ cho bà L 6.490.000₫ (sáu triệu bốn trăm chín mươi nghìn đồng) tiền lãi khoản vay ngày 30/7/2022 là hoàn toàn tự nguyện, nên cấp sơ thẩm ghi nhận là phù hợp.
[4] Từ những phân tích và nhận định trên, HĐXX nhận thấy kháng cáo của bị đơn bà Hà Thị L là không có cơ sở để chấp nhận, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa. Quan điểm của đại diện VKSND tỉnh Thanh Hoá tại phiên toà phù hợp với nhận định của HĐXX và có căn cứ pháp luật nên cần chấp nhận.
[5] Về án phí: Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm nên bà Hà Thị L phải chịu án phí phúc thẩm dân sự. Tuy nhiên bà Hà Thị L là người cao tuổi nên được miễn án phí phúc thẩm dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQHK14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội.
6
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ. Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Điều 463, Điều 466 và khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự.
Xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Hà Thị L. Giữ nguyên Quyết định của Bản án sơ thẩm số 14/2024/DS-ST ngày 04/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa về số tiền nợ gốc và lãi.
Buộc bà Hà Thị L phải có trách nhiệm trả cho ông Trương Văn B số tiền nợ gốc vay ngày 28/10/2017 là 10.000.000đ (mười triệu đồng).
Buộc bà Hà Thị L và anh Hà Tuấn A phải liên đới có trách nhiệm trả cho ông Trương Văn B số tiền nợ gốc và lãi vay ngày 30/7/2022 là 170.000.000₫ (một trăm bảy mươi triệu đồng).
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, ông B có đơn yêu cầu và được Cơ quan Thi hành án ra quyết định thi hành án, nếu bà L và anh Tuấn A không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì hàng tháng phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Anh Hà Tuấn A phải chịu 4.250.000đ (bốn triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).
Án phí phúc thẩm dân sự. Các đương sự không phải chịu án phí phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - TAND cấp cao, VKSND cấp cao; - TAND; VKSND H.Bá Thước, TH; - Chi cục THADS H.Bá Thước, TH; - Lưu hồ sơ vụ án. |
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Lê Quốc Thành |
Bản án số 90/2024/DS-PT ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 90/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Văn B - Hà Thị L "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
