|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 90/2023/HS-ST Ngày 29 - 11 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thái
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Chấn
Ông Chu Hồng Văn
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Ngọc Bích - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lệ Thủy - Kiểm sát viên;
Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 87/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2023/QĐXXST-HS ngày 10/11/2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H, sinh năm 1974 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nơi cư trú: Tổ dân phố P, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Nguyễn Thị T1 (đã ly hôn) và có 2 con; tiền án, tiền sự: Không có; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/7/2023 đến nay; hiện tại bị cáo đang bị tạm giam, có mặt.
2. Người chứng kiến:
- - Nguyễn Minh Đ, sinh năm 1967; nơi cư trú: Tổ dân phố P, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang; vắng mặt.
- - Trần Xuân B, sinh năm 1985; nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 08 giờ 00 phút ngày 25/7/2023, tại đoạn đường bê tông thuộc tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang; lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện L bắt quả tang Nguyễn Văn H đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ tại nền đất cạnh đường bê tông ở vị trí bắt giữ H 01 túi ni lon màu xanh có rãnh khóa bằng nhựa, bên ngoài có chữ “Đệ nhất thuốc lào X hạt Đ”, bên trong túi ni lon đựng 15 đoạn ống hút nhựa màu tím được hàn kín hai đầu, bên trong các đoạn ống hút nhựa đều đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma túy do H cầm trên tay vứt xuống; vật chứng trên được niêm phong vào trong phong bì thư ký hiệu “QT”. Ngoài ra còn thu giữ của Nguyễn Văn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu trắng số Imei 353332079600276 được niêm phong vào trong phong bì thư ký hiệu “ĐT”, số tiền 1.190.000 đồng, 01 xe mô tô biển kiểm soát 98N4-1129. Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn H nhưng không thu giữ được gì.
Tại bản Kết luận giám định số 1387/KL-KTHS ngày 31/7/2023, Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Trong 01 phong bì thư có ký hiệu “QT” được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 15 đoạn ống nhựa màu tím được hàn kín hai đầu, được đựng trong 01 túi ni lon màu xanh một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, bên ngoài có chữ “Đệ nhất thuốc lào Xuân H1 hạt Đ” là ma túy, có tổng 0,639 gam, loại Heroine; khối lượng còn lại sau giám định là 0,541 gam.
Quá trình điều tra vụ án, Nguyễn Văn H khai: Khoảng 07 giờ ngày 25/7/2023, H gọi điện thoại cho Phạm Thế A nhà ở tổ dân phố V, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang hỏi mua ma túy, Thế A đồng ý và hẹn H đến trước cửa nhà Thế A để giao dịch; sau đó H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98N4- 1129 đi đến khu vực ngã ba trước cửa nhà T thì thấy Thế A ngồi trên ca bin xe ô tô tải, Thế A kéo kính xe ô tô xuống đưa qua cửa kính cho H 01 túi ni lon màu xanh có rãnh khóa bằng nhựa, bên ngoài có chữ “Đệ nhất thuốc lào X hạt Đ”, bên trong túi ni lon đựng 15 đoạn ống hút nhựa màu tím được hàn kín hai đầu, bên trong các đoạn ống hút nhựa đều đựng chất cục bột màu trắng và nói “bên trong có 15 cái đấy”. Do Thế A vội đi chở hàng nên H chưa kịp đưa tiền cho Thế A. H cầm túi ni lon đựng ma túy ở tay phải rồi điều khiển xe mô tô đi ra khu vực bờ sông L tìm chỗ sử dụng ma túy, khi đi đến đoạn đường bê tông thuộc tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện L thì gặp lực lượng Cảnh sát, H sợ vứt gói ma túy xuống dưới đất định bỏ chạy nhưng bị phát hiện bắt quả tang.
Căn cứ lời khai của Nguyễn Văn H, cùng ngày 25/7/2023, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Thế A, sinh năm 1978 tại tổ dân phố V, thị trấn Đ, huyện L. Kết quả khám xét không phát hiện thu giữ được gì.
Ngày 26/7/2023, Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra máy điện thoại di động thu giữ của H có số thuê bao 0968.318.703. Tại mục tin nhắn lúc 20 giờ 00 phút ngày 24/7/2023, H nhắn tin đến số thuê bao 0964.386.578 lưu tên là “T Anh” với nội dung “Còn mã không chú lên lấy mã” nhưng không có tin nhắn trả lời. Nhật ký cuộc gọi ngày 25/7/2023: Lúc 07 giờ 40 phút, H gọi đến số thuê bao 0964.386.578 tên “T Anh”, thời lượng 16 giây; lúc 07 giờ 43 phút, số thuê bao 0964.386.578 tên “T Anh” gọi đến cho H, thời lượng 15 giây; lúc 07 giờ 49 phút, H gọi đến số thuê bao 0964.386.578 tên “T Anh”, thời lượng 18 giây; lúc 07 giờ 56 phút có 03 cuộc gọi nhỡ từ số thuê bao 0964.386.578 tên “T Anh”.
Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc, Phạm Thế A xác nhận số thuê bao 0964.386.578 là của Thế A đang sử dụng. Đấu tranh với Thế A và tiến hành đối chất giữa H với Thế A nhưng không chứng minh được Phạm Thế A đã bán ma túy cho Nguyễn Văn H. Cơ quan điều tra đã kết luận không có căn cứ xử lý đối với Phạm Thế A.
Xe mô tô biển kiểm soát 98N4- 1129 thu giữ của Nguyễn Văn H là tài sản của anh Nguyễn Tuấn K (con trai H), do anh K không có lỗi trong việc H sử dụng xe mô tô đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý, trả lại xe mô tô trên cho anh K.
Ngay sau khi bắt quả tang, Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra việc sử dụng ma túy đối với Nguyễn Văn H bằng hình thức test nhanh mẫu nước tiểu, kết quả dương tính với ma túy Methamphetamine, Ketamine và H2. Ngày 13/10/2023, Công an huyện L đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Tại bản Cáo trạng số 87/CT-VKS ngày 01 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- - Kiểm sát viên phát biểu luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, miễn phạt bổ sung; áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu toàn bộ chất ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “QT” để tiêu hủy; tịch thu của Nguyễn Văn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu trắng và số tiền 1.190.000 đồng để sung vào công quỹ Nhà nước. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- - Bị cáo Nguyễn Văn H trình bày: Bị cáo nhất trí với nội dung bản Cáo trạng và ý kiến của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa; bị cáo bị khởi tố, truy tố, xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội; nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, xử phạt bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo được sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình tiến hành tố tụng Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ai tố cáo, khiếu nại gì. Hội đồng xét xử kết luận hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều đúng quy định và hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H luôn thành khẩn khai báo, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 25/7/2023, bị cáo Nguyễn Văn H đem theo ma túy đi đến khu vực tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang tìm nơi sử dụng nhưng bị cáo chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang; tổng khối lượng ma túy thu giữ được là 0,639 gam, loại Heroine.
[3] Hành vi trên của bị cáo Nguyễn Văn H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các loại chất gây nghiện, làm mất an ninh trật tự tại địa phương; bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi trên của bị cáo Nguyễn Văn H đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; căn cứ vào khối lượng chất ma túy thu giữ được, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội danh trên theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét thấy ma túy là chất gây nghiện rất nguy hiểm, người nghiện ma túy sẽ bị tổn hại nghiêm trọng về sức khỏe; khi lên cơn nghiện, người nghiện ma túy không làm chủ được hành vi, có thể gây nguy hiểm cho người khác và xã hội; người sử dụng ma túy còn nguy hiểm đến tính mạng của bản thân, có nguy cơ lây lan căn bệnh thế kỷ HIV-AIDS; tệ nạn ma túy còn là mầm mống phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác. Nhà nước ta và cả cộng đồng thế giới đều tuyên truyền rộng rãi về tác hại của chất ma túy, thế nhưng bị cáo không tiếp thu mà dấn thân vào con đường nghiện ngập và dẫn đến phạm tội. Chứng tỏ bị cáo rất coi thường kỷ cương pháp luật, coi thường tính mạng, sức khỏe của chính bản thân bị cáo; căn cứ vào tính chất của tội phạm, cần thiết phải xử phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo, giáo dục bị cáo là đúng với chính sách xử lý của pháp luật hình sự Nhà nước ta.
[5] Xem xét các tình tiết để quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy:
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Nguyễn Văn H luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trên quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tình tiết tăng nặng: Không có
Căn cứ vào khối lượng chất ma túy và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng, hình phạt giành cho bị cáo ở mức thấp của khung hình phạt là phù hợp với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.
[6] Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 500 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, phạm tội không có mục đích thu lợi bất chính nên Hội đồng xét xử miễn phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về vật chứng:
Chất ma túy là loại chất gây nghiện bị pháp luật cấm tàng trữ, sử dụng, lưu hành nên cần phải tịch thu toàn bộ khối lượng chất ma túy thu giữ được còn lại sau giám định để tiêu hủy.
Nguyễn Văn H khai đã sử dụng điện thoại di động để liên lạc mua ma túy, số tiền đem theo mục đích để mua ma túy nhưng chưa kịp trả thì bị phát hiện thu giữ. Vì vậy cần phải tịch thu của Nguyễn Văn H 01 điện thoại di động và số tiền 1.190.000 đồng để sung vào công quỹ Nhà nước.
[8] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 25/7/2023).
2- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu 01 túi ni lon đựng 15 đoạn ống nhựa, bên trong các đoạn ống nhựa đựng chất ma túy, khối lượng còn lại sau giám định là 0,541 gam, loại Heroine, được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “QT” để tiêu hủy.
- - Tịch thu của Nguyễn Văn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu trắng số Imei 353332079600276 được niêm phong vào trong phong bì thư ký hiệu “ĐT”, số tiền 1.190.000 đồng (Một triệu, một trăm chín mươi nghìn đồng) để sung vào công quỹ Nhà nước.
Những vật chứng nêu trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam.
3- Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có mặt có 15 ngày kháng cáo kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hoàng Văn Thái |
Bản án số 90/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 90/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: H cầm gói ma túy trên tay đang tìm nơi để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.
