|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 90/2023/DS-PT
Ngày: 27 - 12 - 2023
V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên toà: Ông Trần Trung Thành
Các Thẩm phán: Bà Từ Thị Hải Dương và bà Hoàng Thị Thanh Nhàn
- Thư ký phiên toà: Ông Lưu Hoàng Giang - Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Quảng Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên toà: Bà
Chế Thị Bích Thủy - Kiểm sát viên;
Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 80/2023/TLPT-DS ngày 14 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, do Bản án dân sự sơ thẩm số 20/2023/DS-ST ngày 28/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4889/2023/QĐ-PT ngày 28 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Hoàng Văn L, sinh năm 1960 và bà Lê Thị Thu H, sinh năm 1961; địa chỉ: thôn F, xã X, huyện B, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
- Bị đơn: Ông Hoàng V, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1965; địa chỉ: thôn F, xã X, huyện B, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
-
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân xã X; người đại diện theo ủy quyền: ông Hoàng Hữu T1 - Phó Chủ tịch UBND xã X, ông Hồ Hà T2 - Công chức địa chính; Địa chỉ: Xã X, huyện B, tỉnh Quảng Bình; có đơn xử vắng mặt
-
Người làm chứng:
- - Anh Phan Thanh H1, sinh năm 1972; nơi cư trú: thôn D, xã X, B, Quảng Bình; vắng mặt.
- - Anh Nguyễn Thanh B, sinh năm 1985; nơi cư trú: thôn D, xã X, B, Quảng Bình; có mặt.
- - Ông Nguyễn Đình P, sinh năm 1962; thôn E K, xã X, B, Quảng Bình; có mặt.
- - Ông Hoàng Văn T3, sinh năm 1965; nơi cư trú: thôn E, xã X, B, Quảng Bình; có mặt.
- - Ông Lê Văn H2, sinh năm 1966; nơi cư trú: thôn C, xã X, B, Quảng Bình; vắng mặt.
* Người kháng cáo: Ông Hoàng V, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1965 - Là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 25/5/2020, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn ông Hoàng Văn L và bà Lê Thị Thu H thống nhất trình bày:
Vào năm 2007, Đảng uỷ, Uỷ ban nhân dân (UBND) xã X có chủ trương quy hoạch vùng đất Chà Nòi để chia cho dân trồng cao su phát triển kinh tế hộ gia đình. Sau khi tiến hành bóc xăm, tôi và ông Nguyễn Văn L1 trúng một lô còn ông Hoàng V thì trúng một lô ở C. Để thuận tiện cho quá trình sản xuất, ông V đã đổi đất cho ông L1 về sản xuất tại vùng đất Chà Nòi để làm cùng tôi. Khi chia đất ông V nhận làm phần đất phía trên vì ông nói đất phía trên có đất bằng phẳng không có hố bom nên nhận phần ít hơn còn ở phía dưới tôi làm có hố bom thì nhận phần nhiều hơn. Tôi đã làm ranh giới là đường cỏ, đá giữa hai thửa đất và tôi đã trồng cây cao su. Sau đó ngày 31/12/2010 chúng tôi đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 79, tờ bản đồ số 28 với diện tích 7637 m², gia đình sử dụng ổn định theo ranh giới được thể hiện trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến tháng 11/2021, ông V đã bán phần đất của ông cho ông Nguyễn B và vợ là Hoàng Thị Mỹ N ở thôn D, X. Sau khi ông B mua xong thuê máy múc đào gốc keo để sản xuất thì đã đào lấn xuống phần đất của tôi, tôi đã yêu cầu ông B không được đào ở phần đất của tôi nhưng ông B trả lời là ông V bán cho ông ấy đến điểm này. Sau khi ông V đến kiểm tra trong giấy chứng nhận đã biết được đất bị múc là của ông L, tuy nhiên máy đã múc rồi nên đề nghị tôi trả tiền máy đào 2 triệu đồng nhưng tôi không chịu. Sau đó, ông V làm đơn đề nghị UBND xã giải quyết nên xã đã mời hai bên đến làm việc, UBND xã đã kết luận hai hộ tiếp tục giữ nguyên hiện trạng và sản xuất theo ranh giới đã được thể hiện trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các hộ. Tháng 12/2022, tôi kêu máy lên phay đất để sản xuất vụ đông xuân nhưng ông V lại cắm cọc và không cho phay đất nên tôi đã báo với chính quyền địa phương. Ngày 17 và 18/12/2022 ông V tiếp tục thuê máy lên đào hào giữa phần đất của tôi với chiều dài 65m nên tôi đã làm đơn đề nghị UBND xã giải quyết vì vậy xã đã thành lập hội đồng đã xác định ông V lấn chiếm xuống đất của tôi với diện tích 981,91 m² cụ thể phía Bắc có kích thước là 5,2 m; phía Nam có kích thước 24,6m; phía Tây có kích thước 66,8 m và phía Đông có kích thước là 65 m nhưng ông V không đồng ý nên tôi đề nghị Toà án giải quyết buộc ông V, bà T phải thu hoạch, phá bỏ số cây sắn đã trồng trên diện tích đất để trả lại cho tôi diện tích đất qua thực tế đo vẽ bằng máy ngày 30/6/2023 của hội đồng xem xét thẩm định tại chỗ xác định diện tích là 857m² và lấp hào đào giữa đất cho tôi.
- Bị đơn ông Hoàng V và bà Nguyễn Thị T thống nhất trình bày:
Năm 2007, thực hiện chủ trương của UBND xã X về việc giao, nhận đất của công ty B1 trồng Mía ở khu vực C do nhà máy đường Q giải thể, để trồng cây cao su phát triển kinh tế. Gia đình tôi cũng như nhiều hộ gia đình trên địa bàn xã X được giao đất để trồng cây cao su phát triển kinh tế. Theo chủ trương của UBND xã X, mỗi lô đất tại khu vực C được chia cho 02 hoặc 03 hộ gia đình tùy theo nhu cầu đăng ký của các hộ, trong thôn. Với chủ trương đó, tại thôn F, xã X mỗi lô đất được chia cho 02 hộ; gia đình tôi và gia đình ông L được nhận 01 lô và hai gia đình tự chia 02 phần tương đối bằng nhau có ranh giới bằng đất, đá đắp lên và hai gia đình sản xuất theo ranh giới từ năm 2007 đến hết năm 2021. Sau khi nhận đất để thuận tiện trong việc sản xuất và bảo vệ cây trồng gia đình tôi đã làm 01 cái nhà 03 căn trên đất của tôi, đến tháng 10/2010 sau đợt lũ lịch sử nhà tôi bị ngập và lật đổ, nên gia đình phải đưa về dựng lại cho đứa con đầu tôi ở, hiện tại nền nhà vẫn còn tồn tại. Đến tháng 12/2021, gia đình chúng tôi có đứa cháu con trai đầu đang ở với gia đình tôi và bị tai nạn phải nhập viện Cu Ba Đ, trong lúc đó bố mẹ cháu đang làm ăn ở S, không có việc làm, không có tiền và không về được do dịch covid-19, nên tôi phải cho ông Nguyễn Thanh B thôn D, xã X thuê đất để trồng Sắn thời gian thuê đất 05 năm với số tiền 27 triệu đồng để lo thuốc men, tiền viện cho cháu tôi. Sau khi thỏa thuận xong ông B đã dùng máy múc gốc keo để trồng sắn theo đúng ranh giới hai gia đình đã sử dụng. Sau đó ông Hoàng Văn L đã đưa máy lên múc gốc Keo và múc luôn cả ranh giới bằng đất, đá và chiếm đất tôi, qua ranh giới và nền nhà ở khoảng 20 m so với ranh giới mà tôi và ông L đã thỏa thuận tự chia năm 2007 với lý do là theo diện tích trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp năm 2010. Sau khi nhận đất và sử dụng đất 04 năm, đến tháng 12/2010 gia đình được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không để ý đến diện tích được cấp nên không biết diện tích đất và nhà của tôi nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông L. Nếu theo diện tích của giấy chứng nhận của ông L thì tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L ranh giới đi qua giữa nhà tôi. Khi chia đất, gia đình ông L còn có con trai của ông L là Hoàng Văn H3, sau khi chia xong tôi và con trai của ông L đã làm ranh giới và sử dụng từ năm 2007 đến tháng 12/2021, hơn 14 năm sản xuất không có tranh chấp gì. Do không để ý đến diện tích trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng với thực tế đất của 02 gia đình sử dụng, nay ông L và bà H yêu cầu vợ chồng tôi trả lại diện tích đất mà ông cho rằng vợ chồng tôi đã lấn chiếm là 857 m² và lấp hào, tôi không đồng ý vì đó là đất tôi sử dụng ổn định và có ranh giới giữa hai thửa đất.
- Đại diện Ủy ban nhân dân xã X ông Hoàng Hữu T1 và ông Hồ Hà T2 thống nhất trình bày:
Chúng tôi là người kế nhiệm, trước đây chúng tôi không làm nhưng khi hòa giải chúng tôi có tìm ra nguồn gốc đất trước đây do ủy ban xã quản lý từ khoảng năm 1999-2000 đất đó là đất hoang bằng, bà con lên đó để trồng lúa và ngô. Đến năm 2001, UBND tỉnh thu hồi để giao tỉnh đoàn tỉnh đội để trồng mía nhưng không hiệu quả nên Ủy ban xã đã đề nghị trả lại cho ủy ban quản lý. Năm 2007, thực hiện chương trình cao su tiểu điền, Ủy ban lập kế hoạch đưa về thôn để xét cứ hai người được giao một lô đất. Thời điểm cấp đất có cán bộ địa chính đi thực hiện đo đạc làm giấy cho dân, Ủy ban xã đã làm hồ sơ làm thông báo cho bà con về kết quả đo đạc, thông báo trong vòng 10 ngày nếu có sai sót thì đến ủy ban, sau thời gian niêm yết thì xã làm thủ tục cấp giấy theo đúng quy trình và hộ dân ký vào đơn xin cấp giấy. Do đó, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hai thửa đất trên đã thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Việc hai gia đình sử dụng đất có lấn ra chiếm đường giao thông do xã quản lý thì đề nghị hai hộ sử dụng đất theo đúng ranh giới đã được cấp, còn phần sử dụng lấn chiếm đề nghị hai hộ khi xã có chủ trương làm đường thì hai hộ phải giao lại cho xã.
- Những người làm chứng trình bày:
- + Ông Phạm Thanh H4 trình bày: Ông có thửa đất liền kề với đất của gia đình ông V và ông L. Ông không biết việc tranh chấp giữa gia đình hai ông nhưng ông biết việc chia đất, hai anh em thống nhất chia đôi thửa đất cắm cọc phân định ranh giới bằng một cái rường nhưng đã bị xoá vào năm 2021 nên năm 2022 ông V có đào lại một hào giống với ranh giới trước đây mà hai bên sử dụng. Tại thời điểm các hộ được cấp đất tại khu vực đó thì cứ hai người được giao một thửa và chia đôi, ông V nhận phần đất hướng Tây còn ông Lê nhận phần đất hướng Đông.
- + Ông Nguyễn Thanh B trình bày: Khoảng tháng 11/2021, ông có thuê đất của ông V ở vùng C để trồng sắn, trước lúc ông thuê thửa đất của ông V để làm đã thấy ranh giới của ông V là giáp đất ông L, bên ông V có một ngôi nhà ở gần đường giữa hai thửa đất, phía cạnh nền nhà của thửa đất ông V có đường đá để phân biệt ranh giới giữa hai thửa đất. Sau khi thuê đất ông V xong ông có thuê máy tới xới gốc keo để trồng sắn thì thấy ông L tới nói đất ông L.
- + Ông Nguyễn Đình P trình bày: Ông là người dân trong xã nên có biết vùng Chà Nòi người dân được giao đất vào năm 2007, năm 2008 ông có biết và chứng kiến ông Hoàng V có dựng nhà trên diện tích đất của ông V liền kề với ông L, giữa hai lô đất của ông V và ông L có ranh giới là một đường bằng đá ông biết vì năm 2017 và 2021 ông có mua keo của ông V nên biết ranh giới đất ông V đã múc hào làm ranh giới giống quá trình trước đây ông V sử dụng.
- + Ông Lê Văn H2 trình bày: Ông cũng được Nhà nước cấp đất ở C và canh tác nên biết thửa đất của ông L và ông V đang tranh chấp vì có lên làm nhà cho ông V, ranh giới sử dụng đất giữa hai gia đình ông V và ông L là một rường đá, hiện thì vẫn còn một nền nhà đã được trồng sắn. Hiện tại nhà gỗ không còn nhưng ranh giới đất ông V đã múc hào làm ranh giới giống quá trình trước đây ông V sử dụng.
- + Ông Hoàng Văn T3 trình bày: Ông không biết việc tranh chấp đất giữa ông V và ông L nhưng ông có biết việc giao đất việc chia đất của ông L và ông V vì có lên cày bừa cho gia đình ông V, tại thời điểm đó ông biết ranh giới sử dụng đất của hai gia đình là một cái rường đến năm 2021 khi ông lên trồng sắn cho ông B thì không còn cái rường nữa.
- Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 30/6/2023 có kết quả như sau:
Hiện trạng trên 2 thửa đất đã được trồng cây sắn 4 tháng. Phần diện tích mà 2 bên đang tranh chấp hiện được xác định bằng 1 bờ đê có chiều rộng khoảng 30cm (theo mốc giới ông Hoàng Văn L chỉ dẫn) và 1 đường mương có chiều rộng khoảng 1m (theo mốc giới ông Hoàng Văn c dẫn), sâu 0,8m, dài khoảng 60m. Theo ông Hoàng V, trên diện tích đất tranh chấp có nền nhà tạm có diện tích khoảng 30 m² nhưng hiện tại chỉ còn dấu tích là 1 đám đất đỏ và đã được trồng sắn.
Diện tích các thửa đất, diện tích phần đất tranh chấp được thể hiện trên sơ đồ, cụ thể:
- + Thửa đất theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Hoàng Văn L có diện tích 7637,5 m²; nhưng hiện trạng trên thực tế đang sử dụng là 7131,4 m², chưa sử dụng là 1275,1 m², phần diện tích sử dụng vượt so với Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất: 1529,6 m².
- + Thửa đất theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Hoàng V có diện tích 5845,1 m²; nhưng hiện trạng trên thực tế đang sử dụng là 6914,6 m², chưa sử dụng là 912,5 m², phần diện tích sử dụng vượt so với Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất: 986 m².
- + Diện tích đất tranh chấp của 2 hộ gia đình là 857 m².
Sau khi có kết quả đo đạc, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả lại phần diện tích này cho nguyên đơn, còn những phần đất mà nguyên đơn chưa sử dụng thì không yêu cầu giải quyết, riêng phần đất mà nguyên đơn sử dụng vượt ra ngoài ranh giới được cấp khi nào xã lấy lại thì nguyên đơn sẽ trả; về phía bị đơn không đồng ý trả lại đất theo như yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu xã làm lại để chia lại đất mỗi bên được ½ thửa đất đã giao, riêng phần đất mà bị đơn sử dụng vượt ra ngoài ranh giới được cấp khi nào xã lấy lại thì bị đơn sẽ trả lại cho xã. Do nguyên đơn và bị đơn không yêu cầu cũng như không cung cấp cho Tòa án kết quả thẩm định, đo đạc hiện trạng nào khác nên Tòa án căn cứ vào kết quả đo đạc hiện trạng do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B cung cấp ngày 30/6/2023 để giải quyết vụ án.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 20/2023/DS-ST ngày 28/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình đã quyết định:
Căn cứ khoản 9 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 157, 158 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 163,164, 166, 169, 175, 176 Bộ luật dân sự; các Điều 100, 166, 170, 202, 203 Luật đất đai; điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn L và bà Lê Thị Thu H đối với ông Hoàng V và bà Nguyễn Thị T.
Buộc ông Hoàng V và bà Nguyễn Thị T trả lại cho ông Hoàng Văn L và bà Lê Thị Thu H diện tích 857m² đất tranh chấp nằm trong thửa đất số 79, nay là thửa 38, tờ bản đồ số 28, nay là tờ bản đồ số 45 tại xã X, huyện B, có diện tích 7637m² đã cấp cho ông Hoàng Văn L và bà Lê Thị Thu H theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 722482 ngày 31/12/2010 (Có sơ đồ kèm theo).
Buộc ông Hoàng V và bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ thu hoạch, phá bỏ số cây sắn đã trồng trên diện tích đất lấn chiếm và san lấp lại rãnh hào có chiều dài 55,15m, chiều rộng 1m, chiều sâu 0,8m để trả lại mặt bằng đất cho ông Hoàng Văn L bà Lê Thị Thu H.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên buộc nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của đương sự theo quy định pháp luật.
- Ngày 10/10/2023, bị đơn là ông Hoàng V và bà Nguyễn Thị T có đơn kháng cáo với nội dung: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ nội dung vụ án, thu hồi hoặc điều chỉnh Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất và cấp mới hoặc điều chỉnh lại theo hiện trạng ranh giới sử dụng đất từ năm 2007 cho đến nay và bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Tại phiên tòa phúc thẩm: Các bên đương sự không cung cấp thêm các tài liệu, chứng cứ gì mới và không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết tranh chấp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình phát biểu quan điểm giải quyết vụ án, tóm tắt như sau:
- + Về tố tụng: Trong quá trình tiến hành tố tụng, giải quyết vụ án, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- + Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên toàn bộ nội dung Bản án sơ thẩm và buộc nghĩa vụ chịu án phí phúc thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến về việc giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Do không đồng ý với Quyết định của Bản án sơ thẩm số 20/2023/DS-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, bị đơn là ông Hoàng V và bà Nguyễn Thị T làm đơn kháng cáo bản án. Đơn kháng cáo của bị đơn đúng theo quy định của pháp luật, bị đơn đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên căn cứ Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.
[2] Về nguồn gốc các thửa đất các bên tranh chấp:
Ngày 06/9/2010, ông Hoàng Văn L có đơn đề nghị cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 79, tờ bản đồ số 28, diện tích 7637m² tại vùng C, xã X, huyện B, tỉnh Quảng Bình (BL:49-50). Ngày 31/10/2010, UBND huyện B cấp GCNQSDĐ số BB 722482 đối với thửa đất thửa số 79, tờ bản đồ số 28 (nay là thửa 38, tờ bản đồ số 45), diện tích 7637m² tại vùng C, xã X, huyện B, tỉnh Quảng Bình mang tên Hoàng Văn L - Lê Thị Thu H.
Ngày 06/9/2010, ông Hoàng V có đơn đề nghị cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 181, tờ bản đồ số 28, diện tích 5845m² tại vùng C, xã X, huyện B, tỉnh Quảng Bình (BL:45-46). Ngày 31/12/2023, UBND huyện B cấp GCNQSDĐ số BB 722485 đối với thửa đất thửa số 181, tờ bản đồ số 28 (nay là thửa 31, tờ bản đồ số 45), diện tích 5845m² tại vùng C, xã X, huyện B, tỉnh Quảng Bình mang tên Hoàng V -Nguyễn Thị T.
Theo ý kiến của đại diện UBND xã X đã xác định nguồn gốc các thửa đất trước đây là vùng đất hoang bằng do UBND xã quản lý từ khoảng năm 1999-2000 và bà con lên đó để trồng lúa và ngô. Đến năm 2001, UBND tỉnh thu hồi để giao cho Tỉnh đoàn, Tỉnh đội để trồng mía theo chủ trương chung nhưng không hiệu quả nên UBND xã đã đề nghị trả lại cho ủy ban quản lý. Năm 2007, thực hiện chương trình cao su tiểu điền, Ủy ban lập kế hoạch đưa về thôn để xét cứ hai người được giao một lô đất. Thời điểm cấp đất có cán bộ địa chính đi thực hiện đo đạc làm giấy cho dân, Ủy ban xã đã làm hồ sơ làm thông báo cho bà con về kết quả đo đạc, thông báo trong vòng 10 ngày nếu có sai sót thì đến ủy ban, sau thời gian niêm yết thì xã làm thủ tục cấp giấy theo đúng quy trình và hộ dân ký vào đơn xin cấp giấy. Đồng thời, tại Biên bản hòa giải ngày 15/3/2023, UBND xã X đã tiến hành hòa giải để các bên thỏa thuận được với nhau. Trên cơ sở kết quả kiểm tra thực địa các thửa đất đang tranh chấp, đã xác định phần diện tích đất đang tranh chấp đã được UBND huyện B cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho ông Hoàng Văn L, nhưng thực tế hiện thì ông Hoàng V đang sử dụng. Kể từ thời điểm được Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các bên vào năm 2010 cho đến nay, không ai có ý kiến gì về quy trình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[3] Theo kết quả đo vẽ ngày 30/6/2023 đã xác định được diện tích đất các bên hiện đang tranh chấp là 857,3m² đều nằm trong GCNQSDĐ đã cấp cho nguyên đơn. Trên phần diện tích đất này phía bị đơn đã trồng sắn và đào rãnh hào chạy dọc theo thửa đất có chiều dài 55,15m, chiều rộng 01m, chiều sâu 0,8m.
Đối với diện tích đang tranh chấp thì trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn cho rằng trước khi các bên được cấp GCNQSDĐ thì phía bị đơn cung cấp 01 bản ảnh thể hiện trên phần diện tích đất tranh chấp trước đây bị đơn đã xây dựng 01 ngôi nhà 03 gian, giáp với phần diện tích đất của nguyên đơn để làm ranh giới ngăn cách giữa hai thửa đất, nhưng do bão lũ cuốn trôi vào năm 2010 nên hiện nay chỉ còn nền nhà, để cho rằng phần diện tích đất tranh chấp này thuộc quyền sở hữu của bị đơn. Tuy nhiên, theo kết quả thẩm định không thể hiện sự tồn tại của móng nhà; đồng thời phía bị đơn không có căn cứ chứng minh phần móng nhà được xây dựng trên phần diện tích đất tranh chấp và những người làm chứng cũng không có căn cứ xác định cụ thể phần đất tranh chấp ở vị trí nào của thửa đất. Mặt khác, phía bị đơn cho rằng tại thời điểm cấp đất UBND xã đã có chủ trương hai người được cấp một lô đất và diện tích lô đất đó được chia đôi thành 02 phần bằng nhau, nhưng không cung cấp được các tài liệu chứng cứ gì để chứng minh. Mặt khác, qua kết quả xem xét thẩm định tại chổ ngoài diện tích đất các bên đang tranh chấp đã nêu trên, thì hiện trạng sử dụng đất của các bên đương sự trên thực tế đều tăng thêm so với diện tích đất đã được cấp GCNQSDĐ, nhưng quá trình giải quyết vụ án các bên đều thống nhất sẽ trả lại cho UBND xã quản lý đối với phần diện tích đất thừa này khi có yêu cầu.
[4] Căn cứ hồ sơ xin cấp đất của các bên và diện tích đất đã được cấp theo các GCNQSDĐ và kết quả đo vẽ, kiểm tra trên thực địa đã có đủ có sở xác định phía bị đơn đã lấn chiếm 857,3m² của nguyên đơn. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và buộc bị đơn trả lại diện tích đất lấn chiếm và buộc bị đơn phải thu hoạch các cây trồng trên đất và san lấp rãnh hào để trả lại nguyên trạng thửa đất là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ gì mới, cho nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị đơn và cần giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm theo như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[5] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Tổng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tại cấp sơ thẩm là 5.000.000 đồng do phía nguyên đơn đã tạm nộp và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, cho nên buộc phía bị đơn là ông Hoàng V và bà Nguyễn Thị T phải trả lại toàn bộ số tiền trên cho nguyên đơn theo quy định tại các Điều 157, Điều 158 Bộ luật tố tụng dân sự.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo không được chấp nhận nên ông Hoàng V và bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308; khoản 9 Điều 26; điểm c khoản 1 Điều 39; khoản 1, khoản 2, khoản 4 Điều 91; khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158; Điều 235; Điều 271; Điều 313 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015; Điều 164, Điều 166 Bộ Luật Dân sự 2015; các Điều 100, 166, 167, 170, 202, 203 Luật đất đai năm 2013; khoản 1 Điều 29 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Hoàng V và bà Nguyễn Thị T; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 20/2023/DS-ST ngày 28/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Văn L và bà Lê Thị Thu H đối với ông Hoàng V và bà Nguyễn Thị T.
- - Buộc ông Hoàng V và bà Nguyễn Thị T trả lại cho ông Hoàng Văn L và bà Lê Thị Thu H diện tích 857m² đất tranh chấp nằm trong thửa đất số 79, tờ bản đồ số 28 (nay là thửa số 38, tờ bản đồ số 45) tại xã X, huyện B, tỉnh Quảng Bình, có diện tích 7637m² đã được UBND huyện B, tỉnh Quảng Bình cấp GCNQSDĐ số BB 722482 ngày 31/12/2010 mang tên ông Hoàng Văn L và bà Lê Thị Thu H (Có sơ đồ kèm theo là một phần không thể tách rời của bản án).
- - Buộc ông Hoàng V và bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ thu hoạch, phá bỏ toàn bộ cây sắn đã trồng trên diện tích đất lấn chiếm và san lấp lại rãnh hào có chiều dài 55,15m, chiều rộng 01m, chiều sâu 0,8m để trả lại mặt bằng đất cho ông Hoàng Văn L bà Lê Thị Thu H.
-
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo vẽ: Buộc ông Hoàng V và bà Nguyễn Thị T phải có nghĩa vụ liên đới trả lại cho ông Hoàng Văn L và bà Lê Thị Thu H số tiền 5.000.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
-
Về án phí:
-
Về án phí sơ thẩm:
Yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên ông Hoàng Văn L và bà Lê Thị Thu H không phải chịu án phí sơ thẩm và được trả lại số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002739 ngày 19/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
- Buộc ông Hoàng V và bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.
- Về án phí phúc thẩm: Bị đơn ông Hoàng V và bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0002827 ngày 10/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Xác nhận đương sự đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
-
Về án phí sơ thẩm:
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (27/12/2023).
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Trần Trung Thành |
Bản án số 90/2023/DS-PT ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 90/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/12/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
