|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 09/2024/DS-ST Ngày: 26/4/2024 V/v “Tranh chấp dân sự về đòi lại tài sản". |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Phát Triển;
2. Ông Đặng Văn Hai.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Anh Vũ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
Vào ngày 26/4/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lai Vung xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 248/2022/TLST-DS, ngày 16 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp dân sự về đòi lại tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-DS ngày 03/4/2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Đặng Văn B, sinh năm 1950;
- Địa chỉ: số nhà D, ấp T, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. (có mặt)
- - Bị đơn: Đặng Vinh S, sinh năm 1979;
- Địa chỉ: số nhà A, ấp T, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.(có mặt)
- - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Đặng Thị Kim Q, sinh năm 1982;
- Địa chỉ: số nhà D, ấp T, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.(có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Đặng Văn B trình bày: Đặng Vinh S là con trai út của ông B. Vào ngày 01/02/2019, do vợ, chồng ông B lớn tuổi, sức khoẻ yếu nên ông Ba cùng các thành viên trong gia đình có họp bàn việc lựa chọn ra Đặng Vinh S sẽ thay các anh, chị chăm lo cho vợ, chồng ông B lúc tuổi già. Đồng thời vợ, chồng ông B sẽ giao 02 thửa đất số 53, 55 cùng tờ bản đồ 46 cho S quản lý, sử dụng. Nội dung này được cả gia đình thống nhất và thực hiện ngay sau đó.
Lợi dụng sự tin tưởng của vợ, chồng ông B, ngay sau khi được vợ, chồng ông B chuyển quyền sử dụng hai thửa đất này thì S đã mang thế chấp tại Ngân hàng TMCP H- Chi nhánh tỉnh Đ cho số tiền vay là 400.000.000 đồng.
Sau đó, ông B có yêu cầu S chuyển nhượng lại 02 thửa đất thì S không đồng ý vì cho rằng đã thế chấp Ngân hàng rồi.
Ngày 04/3/2021, vợ, chồng ông Ba cùng S1 được UBND xã H mời để hoà giải, tuy nhiên không thành.
Đến ngày 18/3/2021, ông Ba cùng S1 có tự thoả thuận với nhau, nên có đến UBND xã H để bổ sung nội dung hoà giải như sau: 1) Anh S1 trả lại cho ông B 27.000.000 đồng để nhận lại một phần diện tích 145,72m² trong đó ngang 4,8m, dài 30,36m, thuộc thửa đất số 53, tờ bản đồ số 46; 2) Anh Đặng Vinh S làm hợp đồng tặng cho lại ông B thửa đất số 53, tờ bản đồ 46, diện tích 217m². (hoà giải thành). Có biên bản hoà giải xã H.
Sau khi hoà giải thành xong thì các nội dung trên được thực hiện. Tuy nhiên chỉ phần nghĩa vụ Đặng Vinh S trả lại ông B 27.000.000 đồng là S không thực hiện.
Tháng 5/2021, thì Đặng Vinh S đến gặp yêu cầu ông B thoả thuận bán thửa đất số 53, tờ bản đồ 46 cho Huỳnh Thị Pha L với giá 1.000.000.000 đồng thì ông B đồng ý bán và ông B nhận 600.000.000 đồng; S nhận 400.000.000 đồng.
Khi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng thì người mua đất (P) giao trước 900.000.000 đồng (ông B nhận 500.000.000 đồng; S nhận đủ 400.000.000 đồng.
Đến ngày 24/5/2021 Pha L giao đủ tiền 100.00.000 đồng cho ông B thì S giật lại và nói Đặng Thị Kim Q sẽ trả thay 80.000.000 đồng vì nói Q nợ tiền của S nên Q trả thay. Đến ngày 01/6/2021 Kim Q có đến đưa ông B số tiền 80.000.000 đồng. Vì vậy S còn nợ 20.000.000 đồng.
Nay yêu cầu Đặng Vinh S trả số tiền tổng 47.000.000 đồng.
Trong đó: 27.000.000 đồng như thoả thuận ngày 18/3/2021; 20.000.000 đồng còn nợ.
* Bị đơn Đặng Vinh S trình bày:
Đối với yêu cầu của ông B thì S không đồng ý toàn bộ.
Vì Đặng Thị Kim Q nợ anh S số tiền 127.000.000 đồng. Sau đó có trả anh S được 80.000.000 đồng và còn nợ lại 47.000.000 đồng.
Tháng 5/2021, Đặng Vinh S và ông B thoả thuận bán thửa đất số 53, tờ bản đồ 46 cho Huỳnh Thị Pha L với giá 1.000.000.000 đồng. Đồng thời thoả thuận ông B nhận 600.000.000 đồng; S nhận 400.000.000 đồng.
Sau khi nhận tiền chuyển nhượng thì anh S mang số tiền 600.000.000 đồng giao cho ông B. Tuy nhiên có yêu cầu ông B đứng ra trả tiền thay cho Đặng Thị Kim Q (em ruột) nợ anh S 47.000.000 đồng thì ông Đặng Văn B đồng ý và đã trừ cấn nên đưa lại anh S số tiền 47.000.000 đồng.
Do đó yêu cầu của ông B là không có căn cứ nên anh S không đồng ý.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Đặng Thị Kim Q:
Chị Đặng Thị Kim Q cho rằng chỉ nợ ông S số tiền 80.000.000 đồng và đã trả anh S xong rồi. Ngoài ra chị Q không nợ bất cứ số tiền nào như anh S trình bày.
* nguyên đơn ông Đặng Văn B trình bày:
lời trình bày của anh S là không đúng vì ông B không có thoả thuận nhận nợ gì cho Q và trừ cấn nợ gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng: xét thấy: Tranh chấp về dân sự đòi lại tài sản giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn có nơi cư trú tại xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đặng Văn B yêu cầu Đặng Vinh S trả số tiền tổng 47.000.000 đồng.
Trong đó: 27.000.000 đồng như thoả thuận ngày 18/3/2021; 20.000.000 đồng còn nợ.
Đối với yêu cầu của ông B thì anh Đặng Vinh S không đồng ý và khai nại: Tháng 5/2021, Đặng Vinh S và ông B thoả thuận bán thửa đất số 53, tờ bản đồ 46 cho Huỳnh Thị Pha L với giá 1.000.000.000 đồng. Đồng thời thoả thuận ông B nhận 600.000.000 đồng; S nhận 400.000.000 đồng.
Sau khi nhận tiền chuyển nhượng thì anh S mang số tiền 600.000.000 đồng giao cho ông B. Tuy nhiên có yêu cầu ông B đứng ra trả tiền thay cho Đặng Thị Kim Q (em ruột) nợ anh S 47.000.000 đồng thì ông Đặng Văn B đồng ý và đã trừ cấn nên đưa lại anh S số tiền 47.000.000 đồng.
Do đó, số tiền 47.000.000 đồng mà ông Đặng Văn B yêu cầu thì đã được sự thống nhất của ông Ba t cấn vào số tiền nợ cho em ruột là Đặng Thị Kim Q (ông B đứng ra bảo lãnh).
Tuy nhiên, lời trình bày của anh S không được ông Đặng Văn B đồng ý vì cho rằng ông không có đồng ý bảo lãnh trả nợ, trừ cấn tiền gì cả.
Đối với Chị Đặng Thị Kim Q cho rằng chỉ nợ ông S số tiền 80.000.000 đồng và đã trả anh S xong rồi. Ngoài ra chị Q không nợ bất cứ số tiền nào như anh S trình bày.
Xét thấy, nguyên đơn và bị đơn thống nhất tình tiết là anh S chưa đưa đủ tiền chuyền nhượng đất cho ông B số tiền 47.000.000 đồng nên đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn Đặng Vinh S khai nại lý do không đưa đủ số tiền 47.000.000 đồng mà ông Đặng Văn B yêu cầu vì đã được sự thống nhất của ông Ba t cấn vào số tiền nợ cho em ruột là Đặng Thị Kim Q (ông B đứng ra bảo lãnh).
Tuy nhiên lời khai nại của anh S không được ông B, chị Q thừa nhận. Đồng thời anh S cũng không có chứng cứ gì chứng minh cho lời khai nại này.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy lời trình bày của nguyên đơn là có cơ sở nên chấp nhận nên buộc ông Đặng Vinh S trả số tiền là 47.000.000 đồng cho ông Đặng Văn B.
- Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu Đặng Vinh S trả số tiền 47.000.000 đồng nên anh S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ông B được miễn nộp tiền án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 5, khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 220; Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 244; Điều 271, Điều 273, Điều 278; Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Văn B.
Buộc ông Đặng Vinh S có nghĩa vụ trả cho ông Đặng Văn B số tiền 47.000.000 đồng (bốn mươi bảy triệu đồng).
Kể từ ngày Quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
- Về án phí: ông S phải chịu 2.350.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ông Đặng Văn B được miễn nộp tiền án phí theo quy định.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (26/4/2024). Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- - Các đương sự;
- - VKS huyện Lai Vung;
- - Toà án Tỉnh;
- - Chi cục THA huyện Lai Vung;
- - Lưu.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ toạ phiên tòa
|
Bản án số 09/2024/DS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp dân sự về đòi lại tài sản
- Số bản án: 09/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp dân sự về đòi lại tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất và đòi tài sản
