Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/DS-ST

Ngày: 27 - 02 - 2025

V/v: “Tranh chấp về thừa

kế tài sản và Tranh chấp

liên quan đến yêu cầu tuyên

bố văn bản công chứng vô

hiệu”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Lợi.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Phúcbà Lê Thị Tuyết Minh.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Liên – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 46/2022/TLST-DS ngày 31 tháng 3 năm 2022 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản và Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 6 năm 2024, Thông báo về việc thay đổi lịch xét xử số 48/2024/TB-TA ngày 22 tháng 7 năm 2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 08/2024/QÐST-DS ngày 06 tháng 8 năm 2024, Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 30/2025/TB-TA ngày 10 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trần Văn H – 1968.

Địa chỉ: Tổ C, ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn D – 1987.

Địa chỉ: Tổ E, ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Bị đơn: Anh Trần Văn L – 1991.

Địa chỉ: Tổ C, ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Đoàn Văn Đ – 1955.

Địa chỉ: Tổ B, ấp G, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Cụ Phạm Thị Y – 1941.
  • Địa chỉ: Tổ C, ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
  • - Văn phòng C.
  • Địa chỉ: Số B, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
  • Đại diện theo pháp luật: Bà Vũ Thị Lan H1 – Trưởng Văn phòng.
  • Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Mai S – Công chứng viên.
  • - Chị Tăng Thị Q – 1991.
  • - Cháu Nguyễn Thị Mỹ Q1 – sinh ngày: 10/9/2016. Đại diện hợp pháp là chị Tăng Thị Quy .
  • Nơi đăng ký thường trú: Thôn La Chữ, xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước, tỉnh Bình Thuận.
  • Chỗ ở: Tổ 3, ấp 2, xã Phú Lộc, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
  • - Cháu Trần Thanh T – sinh ngày: 12/4/2023. Đại diện hợp pháp là anh Trần Văn L và chị Tăng Thị Quy .
  • Địa chỉ: Tổ C, ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Thị Y: Anh Trần Văn L – 1991.

Địa chỉ: Tổ C, ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(anh D, ông Đ, anh L, chị Q có mặt; bà S vắng mặt có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn ông Trần Văn H và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Nguyễn Văn D trình bày:

Ông Trần Văn H là con đẻ của cụ Trần Văn B – sinh năm: 1944 (chết năm 1997) và cụ Phạm Thị Y.

Quyền sử dụng đất thuộc thửa 88 tờ bản đồ 37 bản đồ địa chính xã P có nguồn gốc do cụ B được Tập đoàn mía đường Bà L1 – Bình Dương cấp đất. Đến năm 1988, cụ B đã được cấp Giấy chứng nhận đã đăng ký ruộng đất. Sau đó cụ B đã tiến hành kê khai để xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến ngày 24/01/1997, Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ B với diện tích 6.710m².

Đến ngày 17/8/1997, cụ B chết không để lại di chúc. Sau đó, cụ Y đăng ký kê khai và được Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 10/8/2004 với diện tích 7.311m² thuộc thửa 88 tờ bản đồ 37 bản đồ địa chính xã P. Tại thời điểm được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ Y thì ông H đi làm ăn xa nên không biết sự việc.

Đến năm 2021, cụ Y đã làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất cho anh Trần Văn L (là con đẻ của ông H). Hợp đồng được Văn phòng C, có trụ sở tại Khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai công chứng. Tại thời điểm trên, cụ Y và anh L đều không báo sự việc trên cho ông H. Cũng trong năm 2021, anh L được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên.

Đến cuối năm 2021, ông H mới biết được đất đã sang tên quyền sử dụng qua tên anh L và đã tiến hành yêu cầu Ủy ban nhân dân xã P giải quyết sự việc trên. Tại Ủy ban nhân dân xã P, các bên không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ việc.

Nay ông H yêu cầu:

  • - Chia di sản thừa kế đối với di sản của bố đẻ ông H là cụ Trần Văn B là ½ quyền sử dụng đất diện tích 7.311m² thuộc các thửa 293, 294 (số thửa cũ là thửa 88) tờ bản đồ số 37 bản đồ địa chính xã P.
  • - Ông H yêu cầu được nhận diện tích đất 2.009,2m² thuộc một phần thửa 294 tờ bản đồ số 37 bản đồ địa chính xã P và đồng ý thanh toán giá trị chênh lệch theo đúng kết quả thẩm định giá.
  • - Các cây trồng thuộc sở hữu của anh L nên ông H đồng ý thanh toán giá trị cây trồng trên phần đất được nhận.
  • - Yêu cầu tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ Phạm Thị Y và anh Trần Văn L được Văn phòng C, địa chỉ: Số B, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai công chứng ngày 29/6/2021 đối với thửa đất số 88 tờ bản đồ số 37 bản đồ địa chính xã P vô hiệu. Lý do yêu cầu vì cụ Y không có quyền tặng cho toàn bộ tài sản mà chỉ có quyền tặng cho phần tài sản trong khối tài sản chung và phần di sản mà cụ Y được hưởng.
  • - Về yêu cầu giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu: Không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Ông H xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ B gồm: Bố mẹ cụ B đã chết từ lâu, họ và tên, năm sinh thì ông H không biết. Vợ cụ B là cụ Phạm Thị Y. Cụ B có 01 con đẻ là ông H. Ngoài ra, cụ B không có bố mẹ nuôi, không có con nuôi và con đẻ nào khác.

Từ trước đến năm 2021, quyền sử dụng đất nêu trên do cụ Phạm Thị Y quản lý, sử dụng. Đến khi chuyển quyền sử dụng đất sang tên anh L thì anh L là người quản lý, sử dụng.

Trên đất hiện nay có cụ Y, ông H và gia đình anh Lâm sinh S1. Ngoài ra, không có ai khác sinh sống, canh tác trên đất.

Về chi phí tố tụng: Do thay đổi yêu cầu khởi kiện nên ông H tự nguyện chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc lần 02 (ngày 22/8/2024) và đề nghị xử lý đối với các chi phí tố tụng khác theo quy định của pháp luật.

Đối với giá trị tài sản tranh chấp thì phía nguyên đơn thống nhất với kết quả thẩm định giá tại Chứng thư Thẩm định giá của Công ty Cổ phần T2, không yêu cầu định giá lại.

Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, bị đơn anh Trần Văn L và đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Đoàn Văn Đ trình bày:

Quyền sử dụng đất thuộc thửa 88 tờ bản đồ 37 bản đồ địa chính xã P có nguồn gốc của ông bà nội anh L là cụ Phạm Thị Y và cụ Trần Văn B được Tập đoàn mía đường Bà L1 – Bình Dương cấp.

Đến ngày 24/01/1997, Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ B với diện tích 6.710m² (do tại thời điểm trên mặc dù là tài sản chung của vợ chồng nhưng vẫn chỉ đứng tên một người).

Đến ngày 17/8/1997, cụ B chết không để lại di chúc. Sau đó, ông H dẫn cụ Y đến chính quyền địa phương để tiến hành đăng ký kê khai và đồng ý để cụ Y đứng tên nhận thừa kế. Điều này thể hiện tại Đơn khởi kiện ông H trình bày là vào năm 1997 cụ B chết, đến năm 2000 ông H đưa mẹ đẻ là cụ Phạm Thị Y kê khai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, xác định ông H đã đồng ý để cụ Y đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và trong thời gian niêm yết công khai tại Ủy ban nhân dân xã P thì ông H không có khiếu nại, tranh chấp gì đối với việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ Y.

Ngày 10/8/2004, cụ Y được Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 7.311m² thuộc thửa 88 tờ bản đồ 37 bản đồ địa chính xã P.

Đến ngày 29/6/2021, cụ Y đã làm thủ tục tặng cho toàn bộ quyền sử dụng đất thuộc thửa 88 tờ bản đồ 37 bản đồ địa chính xã P cho anh L. Tại thời điểm tặng cho, cụ Y hoàn toàn minh mẫn, sáng suốt và tự nguyện tặng cho. Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đã được Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Mai S công chứng theo đúng quy định của pháp luật. Đến ngày 06/8/2021, anh L được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên.

Đến cuối năm 2021, ông H nói rằng phần đất trên có phần của ông nên yêu cầu anh L chia đất cho ông. Tuy nhiên, do tài sản trên anh L được cụ Y tặng cho hợp pháp nên anh L không đồng ý chia.

Từ trước đến khi tặng cho anh L, cụ Y là người canh tác, sinh sống trên đất. Sau này, nhà nước xây dựng cho cụ Y 01 căn nhà tình thương và cụ Y, anh L là người canh tác, sinh sống trên đất. Ông H không ở nhà cùng canh tác với gia đình và chỉ đến cách đây khoảng 02 năm thì ông H về sinh sống cùng cụ Y và anh L.

Trên đất hiện nay có cụ Y, ông H, anh L, chị Q, cháu Trần Thanh T, cháu Nguyễn Thị Mỹ U sinh sống. Ngoài ra, không có ai khác sinh sống, canh tác trên đất.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn và đại diện theo ủy quyền của bị đơn không đồng ý với việc ông Trần Văn H yêu cầu chia di sản thừa kế đối với di sản của cụ Trần Văn B là ½ quyền sử dụng đất diện tích 7.311m² thuộc thửa 88 tờ bản đồ số 37 bản đồ địa chính xã P và yêu cầu tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ Phạm Thị Y và anh Trần Văn L được Văn phòng C công chứng ngày 29/6/2021 đối với thửa đất số 88 tờ bản đồ số 37 bản đồ địa chính xã P vô hiệu. Vì quyền sử dụng đất trên đã được cụ Y tặng cho anh L hợp pháp và anh L đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên cụ B không còn di sản.

Tại phiên tòa, ông Đoàn Văn Đ đồng ý chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật đối với di sản của cụ B là phần đất được xác định là ½ quyền sử dụng đất diện tích 7.311m² trừ đi phần đất làm nhà tình thương cho cụ Y thuộc thửa 88 tờ bản đồ số 37 bản đồ địa chính xã P. Ông Đ đề nghị chia đều cho 04 đồng thừa kế là cụ Y, ông H, anh L, cháu Trần Thanh T (con đẻ của anh L).

Ông xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ B gồm: Bố mẹ cụ B đã chết từ lâu, họ và tên, năm sinh không rõ. Vợ cụ B là cụ Phạm Thị Y. Cụ B có 01 con đẻ là ông H. Ngoài ra, cụ B không có bố mẹ nuôi, không có con nuôi và con đẻ nào khác.

Về yêu cầu giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu: Không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Đối với giá trị tài sản tranh chấp thì bị đơn thống nhất với kết quả thẩm định giá tại Chứng thư Thẩm định giá của Công ty Cổ phần T2.

Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, anh Trần Văn L là đại diện theo ủy quyền của cụ Phạm Thị Y và đại diện hợp pháp của cháu Trần Thanh T trình bày:

Quyền sử dụng đất diện tích 7.311m² thuộc thửa 88 tờ bản đồ 37 bản đồ địa chính xã P có nguồn gốc của ông bà nội anh là cụ Phạm Thị Y và cụ Trần Văn B được Tập đoàn mía đường Bà L1 – Bình Dương cấp và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ B. Năm 1997, cụ B chết không để lại di chúc. Sau đó, cụ Y đăng ký kê khai và được Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Vào năm 2021, cụ Y đã làm thủ tục tặng cho toàn bộ quyền sử dụng đất thuộc thửa 88 tờ bản đồ 37 bản đồ địa chính xã P cho anh. Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đã được công chứng theo đúng quy định của pháp luật. Cũng trong năm 2021, anh được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên.

Ông H chỉ sống trên đất đến năm ông H 20 tuổi thì ông H bỏ đi nơi khác sinh sống. Sau này, nhà nước xây dựng cho cụ Y 01 căn nhà tình thương, cụ Y và anh là người canh tác, sinh sống trên đất. Ông Trần Văn H không ở nhà cùng canh tác với cụ Y và chỉ đến cách đây khoảng 02 năm thì ông H về sinh sống cùng cụ Y và anh.

Trên đất hiện nay có cụ Y, ông H, vợ anh là Tăng Thị Q, 01 con chung của anh và chị Q là cháu Trần Thanh T và 01 con riêng của chị Q là cháu Nguyễn Thị Mỹ Q1 sinh sống. Ngoài ra, không có ai khác sinh sống, canh tác trên đất.

Nay ông Trần Văn H yêu cầu chia di sản thừa kế đối với di sản của cụ Trần Văn B là ½ quyền sử dụng đất diện tích 7.311m² thuộc thửa 88 tờ bản đồ số 37 bản đồ địa chính xã P và yêu cầu tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ Phạm Thị Y và anh được Văn phòng C công chứng ngày 29/6/2021 đối với thửa đất số 88 tờ bản đồ số 37 bản đồ địa chính xã P vô hiệu thì anh không đồng ý chấp nhận. Vì tài sản trên là tài sản hợp pháp của cụ Y và đã tặng cho hợp pháp cho anh.

Trên đất hiện nay có 01 căn nhà cấp 04 và các cây trồng. Các tài sản trên do cụ Y đã tặng cho anh nên là thuộc sở hữu của anh.

Anh xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ B gồm: Bố mẹ cụ B đã chết từ lâu, họ và tên, năm sinh thì anh không biết. Vợ cụ B là cụ Phạm Thị Y. Cụ B có 01 con đẻ là ông H. Ngoài ra, cụ B không có bố mẹ nuôi, không có con nuôi và con đẻ nào khác.

Về yêu cầu giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu: Không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Đối với kết quả thẩm định giá tại Chứng thư Thẩm định giá của Công ty Cổ phần T2 thì do anh không yêu cầu, không biết nên anh không có ý kiến. Anh không yêu cầu định giá lại tài sản.

Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, chị Tăng Thị Quy trình B1:

Chị chuyển đến chung sống với anh Trần Văn L tại Tổ C, ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai từ năm 2021 cho đến nay, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vợ chồng chị có 01 con chung là cháu Trần Thanh T. Ngoài ra, chị đưa theo 01 con riêng của chị là Nguyễn Thị Mỹ Q1 đến sinh sống cùng anh L.

Gia đình chị đang sống trên căn nhà tại quyền sử dụng đất thuộc thửa 88 tờ bản đồ 37 bản đồ địa chính xã P. Đây là tài sản hợp pháp của anh L được tạo lập trước thời kỳ hôn nhân, là tài sản riêng của anh L.

Nay ông Trần Văn H yêu cầu chia di sản thừa kế đối với di sản của cụ Trần Văn B là ½ quyền sử dụng đất diện tích 7.311m² thuộc thửa 88 tờ bản đồ số 37 bản đồ địa chính xã P và yêu cầu tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ Phạm Thị Y và anh L được Văn phòng C công chứng ngày 29/6/2021 vô hiệu thì chị không đồng ý. Vì quyền sử dụng đất trên đã được bà nội anh Lâm tặng cho anh L hợp pháp và anh L đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Về yêu cầu giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu: Không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Đối với kết quả thẩm định giá tại Chứng thư Thẩm định giá của Công ty Cổ phần T2 thì do chị không yêu cầu, không biết nên chị không có ý kiến. Chị không yêu cầu định giá lại tài sản.

Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, bà Nguyễn Thị Mai S là đại diện theo ủy quyền của Văn phòng C trình bày:

Vào ngày 29/06/2021, Văn phòng C có tiếp nhận hồ sơ yêu cầu công chứng "Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất" của cụ Phạm Thị Y, sinh năm 1941, chứng minh nhân dân số [...], địa chỉ thường trú tại ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Hồ sơ yêu cầu công chứng gồm có:

  • + Phiếu yêu cầu công chứng;
  • + Bản sao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AA 138863 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 10/08/2004;
  • + Bản sao Giấy chứng minh nhân dân, Sổ hộ khẩu, của cụ Phạm Thị Y và anh Trần Văn L.
  • + Bản sao Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của cụ Phạm Thị Y.
  • + Bản sao Giấy chứng tử của ông Trần Văn B (chồng cụ Phạm Thị Y).

Sau khi tiếp nhận và kiểm tra thấy hồ sơ yêu cầu công chứng là đầy đủ và hợp lệ, Công chứng viên tiến hành soạn thảo văn bản "Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất".

Dự thảo hợp đồng được in ra cho anh Trần Văn L tự đọc lại. Do cụ Phạm Thị Y không đọc được nên Công chứng viên đã đọc cho cụ Phạm Thị Y nghe toàn bộ nội dung hợp đồng. Cụ Y đã tự mời người làm chứng là ông Giáp Sơn T1 tới để làm chứng cho cụ.

Anh Trần Văn L và cụ Phạm Thị Y đã đồng ý với toàn bộ nội dung Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất do Công chứng viên soạn thảo. Công chứng viên hướng dẫn cho các ông, bà ký vào từng trang của 04 bản Hợp đồng.

Vào thời điểm ký xong, Công chứng viên kiểm tra lại các loại giấy tờ và in trang Lời chứng của Công chứng viên, ký và đóng dấu công chứng, hoàn tất hồ sơ.

Đối với việc ông Trần Văn H cho rằng tại thời điểm công chứng Hợp đồng thì cụ Phạm Thị Y bị bệnh nhồi máu cơ tim, không minh mẫn, sáng suốt thì bà có ý kiến như sau: Khi công chứng thì Công chứng viên đã kiểm tra tình trạng nhận thức của người yêu cầu công chứng và đảm bảo người tham gia ký kết có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. Người làm chứng là ông Giáp S2 T1 cũng đã xác nhận việc cụ Phạm Thị Y hoàn toàn minh mẫn và Công chứng viên đã đọc hợp đồng cho cụ Y nghe, cụ Y đồng ý với nội dung hợp đồng.

Do đó, xác định trình tự thủ tục công chứng nêu trên đều tuân thủ theo quy định tại Điều 40, Điều 41 Luật Công chứng 2014.

Ngoài ra, do cụ Phạm Thị Y được Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 7.311m² thuộc thửa 88 tờ bản đồ 37 bản đồ địa chính xã P vào ngày 10/8/2004. Tại thời điểm được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cụ Y độc thân. Do đây là tài sản riêng của cụ Y nên cụ Y được toàn quyền định đoạt đối với tài sản nêu trên.

Do đó, nay ông Trần Văn H yêu cầu tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ Phạm Thị Y và anh Trần Văn L được Văn phòng C, địa chỉ: Số B, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai công chứng ngày 29/6/2021 đối với thửa đất số 88 tờ bản đồ số 37 bản đồ địa chính xã P vô hiệu một phần thì bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Các tài liệu, chứng cứ các đương sự giao nộp và Tòa án thu thập thì Tòa án đã ra thông báo cho các bên đương sự biết đồng thời tiến hành mở phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và ra thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho những người vắng mặt theo đúng quy định của pháp luật.

Ý kiến của Kiểm sát viên:

  • - Về việc tuân theo pháp luật: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung vụ án:
  • + Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn H đối với bị đơn anh Trần Văn L về việc tranh chấp thừa kế tài sản.
  • - Đề nghị tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ Phạm Thị Y và anh Trần Văn L được Văn phòng C, địa chỉ: Số B, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai công chứng ngày 29/6/2021 đối với thửa đất số 88 tờ bản đồ số 37 bản đồ địa chính xã P vô hiệu một phần.
  • - Về yêu cầu giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu: Các đương sự không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Đề nghị xác định di sản thừa kế của cụ Trần Văn B là ½ diện tích đất 7.311m² thuộc các thửa 293, 294 (số thửa cũ là thửa 88), tờ bản đồ số 37 bản đồ địa chính xã P. Đề nghị chia di sản thừa kế của cụ B theo quy định của pháp luật cho 02 hàng thừa kế thứ nhất của cụ B là cụ Phạm Thị Y và ông Trần Văn H.
  • Chia cho ông Trần Văn H diện tích 2.009,2m² thuộc một phần thửa 294 tờ bản đồ số 37 bản đồ địa chính xã P theo Trích lục và đo chỉnh lý thửa đất bản đồ địa chính số 731/2024 do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh T3 lập ngày 24/12/2024.
  • Ông H phải có trách nhiệm thanh toán giá trị chênh lệch giữa phần được chia và kỷ phần thừa kế theo quy định của pháp luật, giá trị các cây trồng trên đất cho anh L.
  • Không xem xét kỷ phần thừa kế của cụ Y do cụ Y đã tặng cho anh L toàn bộ phần tài sản trong khối tài sản chung và kỷ phần thừa kế trong di sản của cụ B.
  • + Về chi phí tố tụng, án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về áp dụng pháp luật tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn ông Trần Văn H khởi kiện yêu cầu bị đơn anh Trần Văn L về việc yêu cầu chia di sản thừa kế và yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu. Anh L đang cư trú tại huyện T, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là “Tranh chấp về thừa kế tài sản và Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

[1.2]. Về tư cách tham gia tố tụng:

Theo đơn khởi kiện, ông Trần Văn H khởi kiện yêu cầu anh Trần Văn L về tranh chấp về thừa kế tài sản và yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu. Xét thấy việc giải quyết vụ án theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của cụ Phạm Thị Y, Văn phòng C, chị Tăng Thị Q, cháu Nguyễn Thị Mỹ D1, cháu Trần Thanh T. Căn cứ Điều 68 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì xác định ông H là nguyên đơn; anh L là bị đơn; cụ Y, Văn phòng C, chị Q, cháu D1, cháu T là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Ông H ủy quyền cho anh Nguyễn Văn D đại diện tham gia tố tụng. Anh L ủy quyền cho ông Đoàn Văn Đ đại diện tham gia tố tụng. Cụ Y ủy quyền cho anh Trần Văn L đại diện tham gia tố tụng. Bà Nguyễn Thị Mai S được đại diện theo pháp luật của Văn phòng C ủy quyền tham gia tố tụng. Anh L và chị Y là bố mẹ đẻ của cháu Trần Thanh T, chị Q là mẹ đẻ của cháu Nguyễn Thị Mỹ D1. Căn cứ Điều 85 Bộ luật Tố tụng Dân sự, xác định anh D, ông Đ, bà S, anh L, chị Q là người đại diện của đương sự.

[1.3]. Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Nguyễn Thị Mai S là đại diện theo ủy quyền của Văn phòng C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt bà S.

[2]. Về thời hiệu khởi kiện: Cụ Trần Văn B chết năm 1997. Căn cứ Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì thời hiệu chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản của cụ B để lại vẫn còn. Mặt khác, trong vụ án này các đương sự không có ai đề nghị áp dụng thời hiệu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về nội dung:

[3.1]. Về yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu:

[3.1.1]. Để xác định khối di sản của cụ Trần Văn B để lại, trước hết cần xem xét hiệu lực của Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ Phạm Thị Y và anh Trần Văn L đối với thửa đất số 88 tờ bản đồ số 37 bản đồ địa chính xã P theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Nguyên đơn yêu cầu tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ Phạm Thị Y và anh Trần Văn L được Văn phòng C, địa chỉ: Số B, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai công chứng ngày 29/6/2021 đối với quyền sử dụng đất thuộc thửa số 88 tờ bản đồ số 37 bản đồ địa chính xã P vô hiệu.

Xét về chủ thể: Tại thời điểm giao kết, các bên tham gia giao kết hợp đồng có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Tại thời điểm ký kết hợp đồng, các bên đều đủ năng lực hành vi dân sự, việc giao kết hợp đồng xuất phát từ ý chí tự nguyện của các bên, không bị ép buộc. Do đó điều kiện về chủ thể đảm bảo theo quy tại Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trong quá trình giải quyết vụ án, phía nguyên đơn trình bày tại thời điểm trên cụ Y không minh mẫn nhưng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh. Do đó, nội dung trình bày trên không có cơ sở xem xét.

Về hình thức: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất nói trên là đúng hình thức theo quy định theo Điều 502 của Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 167 Luật Đất đai năm 2013.

Về mục đích và nội dung: Căn cứ vào hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cụ Phạm Thị Y thể hiện. Sau khi cụ Trần Văn B chết, ngày 10/5/2001 cụ Y tiến hành đăng ký quyền sử dụng đất với nội dung “Đất đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy CNQSDĐ số C 704985, cấp năm 1997. Do chồng tôi là Trần Văn B đứng tên. Cùng năm chồng tôi mất để lại cho tôi. Sử dụng từ đó đến nay, ổn định không ai tranh chấp (có giấy chứng tử)”.

Trên cơ sở Đơn đăng ký quyền sử dụng đất của cụ Y, Ủy ban nhân dân xã P họp xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ Phạm Thị Y vào ngày 10/8/2004 là không đúng quy định của pháp luật. Vì cụ B chết thì việc xử lý tài sản của cụ B (di sản) phải thực hiện theo pháp luật về thừa kế. Trong khi tại hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cụ Y không có tài liệu nào thể hiện về thủ tục thừa kế đối với tài sản nêu trên. Trong khi tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ngoài cụ Y thì hàng thừa kế thứ nhất của cụ B còn có ông H. Tuy nhiên, hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có ý kiến của ông H.

Trên cơ sở Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp, cụ Y lập Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho toàn bộ thửa đất số 88 tờ bản đồ số 37 bản đồ địa chính xã P cho anh Trần Văn L được Văn phòng C công chứng ngày 29/6/2021.

Mặc dù trong khối tài sản cụ Y tặng cho anh L có phần tài sản của cụ Y trong khối tài sản chung của vợ chồng cụ và một phần từ di sản của cụ B. Tuy nhiên, khối tài sản trên chưa được xử lý theo đúng thủ tục thừa kế nên cũng chưa xác định được phần tài sản nào là tài sản của cụ Y trong khối tài sản chung, phần nào là di sản thừa kế.

Từ những nhận định nêu trên, xác định việc Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ Phạm Thị Y vào ngày 10/8/2004 là không đúng quy định của pháp luật nên cụ Y không có quyền tặng cho toàn bộ tài sản tại thửa đất số 88 tờ bản đồ số 37 bản đồ địa chính xã P.

Căn cứ vào Điều 117, Điều 118, Điều 123, Điều 407 Bộ luật Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ Phạm Thị Y và anh Trần Văn L được Văn phòng C công chứng ngày 29/6/2021 là vô hiệu do vi phạm về nội dung. Nên yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu của ông Trần Văn H là có cơ sở, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3.1.2]. Về yêu cầu giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu: Các đương sự không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với thiệt hại xảy ra do giao dịch dân sự vô hiệu thì các đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.

[3.2]. Về yêu cầu chia di sản thừa kế:

[3.2.1]. Xác định người thừa kế theo pháp luật: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời thừa nhận của các đương sự và quy định tại Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ Trần Văn B gồm:

  • - Bố mẹ đẻ của cụ B đã chết từ lâu (do thời gian lâu và không còn lưu giữ giấy chứng tử nên không xác định được họ và tên, năm sinh, năm chết).
  • - Vợ: Phạm Thị Y.
  • - Con đẻ: Trần Văn H.
  • Ngoài ra, cụ B không có bố mẹ nuôi, con nuôi và con đẻ nào khác.

Như vậy, xác định cụ B có 02 người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất là cụ Y và ông H.

Đối với ý kiến của ông Đoàn Văn Đ đề nghị xác định anh L và cháu T là người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất là không phù hợp với tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án, lời thừa nhận của đương sự và quy định của pháp luật nên không được chấp nhận.

[3.2.2]. Xác định di sản:

Theo hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cụ Trần Văn B đối với diện tích đất 6.710m² thuộc thửa số 125 tờ bản đồ số 04 thể hiện nguồn gốc đất cụ B kê khai là “tự khai phá năm 1975 và sử dụng ổn định cho đến nay”. Do đó, xác định tài sản nêu được hình thành từ năm 1975. Căn cứ Điều 15 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 thì “Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới”. Cụ B và cụ Y chung sống với nhau thực tế và có con là ông H – sinh năm: 1986.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, các đương sự và đại diện hợp pháp của đương sự đều xác nhận nguồn gốc tài sản trên là tài sản chung của cụ B và cụ Y.

Trên cơ sở thửa đất 125 tờ bản đồ số 04 bản đồ địa chính xã P (cũ), cụ Y kê khai và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 7.311m² thuộc thửa 88 tờ bản đồ số 37 bản đồ địa chính xã P. Ngoài ra, cụ Y không nhận chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế...đối với phần diện tích đất tăng thêm.

Sau khi cụ B chết, cụ Y đăng ký kê khai chuyển mục đích sử dụng đối với 50m² đất ở nông thôn. Do đó, phần giá trị tăng thêm từ loại đất trồng cây lâu năm sang đất ở nông thôn không thuộc phần di sản của cụ B.

Theo Trích lục và đo tách thửa đất bản đồ địa chính số 731/2024 lập ngày 24/12/2024 Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh T3 thể hiện thửa số 88 tờ tương ứng với các thửa 293 và 294, cùng tờ bản đồ số 37 bản đồ địa chính xã P.

Do đó, xác định tài sản tại diện tích 7.311m² thuộc các thửa 293, 294 (số thửa cũ là thửa 88) tờ bản đồ số 37 bản đồ địa chính xã P nêu trên là tài sản chung của cụ B và cụ Y.

Từ những nhận định nêu trên, xác định ½ quyền sử dụng đất diện tích 7.311m² (loại đất trồng cây lâu năm) thuộc các thửa 293, 294 (số thửa cũ là thửa 88) tờ bản đồ số 37 bản đồ địa chính xã P là di sản của cụ Trần Văn B. Cụ B chết, không để lại di chúc. Do đó, xác định di sản nêu trên chưa được chia nên ông H yêu cầu chia di sản theo pháp luật là phù hợp.

Đối với ý kiến của ông Đoàn Văn Đ đề nghị xác định phần di sản của cụ B là ½ quyền sử dụng đất diện tích 7.311m² thuộc các thửa 293, 294 (số thửa cũ là thửa 88) tờ bản đồ số 37 bản đồ địa chính xã P được trừ đi phần diện tích làm nhà tình thương trên đất là không phù hợp nên Hội đồng xét xử không chấp nhận ý kiến trên.

[3.2.3]. Về kết quả đo đạc: Tại kết quả đo đạc đối với diện tích đất 7.311m² thuộc các thửa 293, 294, tờ bản đồ số 37, bản đồ địa chính xã P thể hiện tại Trích lục và đo chỉnh lý thửa đất bản đồ địa chính số 731/2024 lập ngày 24/12/2024 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh T3 được giới hạn bởi các mốc 5,6,7,8,9,10,11,12,13,14,15,16,17,18,19,22,21,5.

[3.2.4]. Về giá trị di sản:

Căn cứ Chứng thư thẩm định giá số 23/TGĐG-CT ngày 15/02/2023 của Công ty Cổ phần T2 và Văn bản về việc điều chỉnh nội dung trong Chứng thư thẩm định giá số 217/TĐG-VB ngày 17/02/2023, xác định giá trị diện tích đất 7.311m² (loại đất trồng cây lâu năm) thuộc thửa đất số 88, tờ bản đồ số 37, bản đồ địa chính xã P là 4.386.600.000₫.

Mặc dù kết quả định giá đã quá 06 tháng nhưng các đương sự thống nhất về giá và không yêu cầu định giá lại. Tại Văn bản số 64/TĐG-VB ngày 24/01/2025, Công ty Cổ phần T2 xác định giá thị trường tại thời điểm hiện tại biến động không đáng kể, không cần thiết định giá lại.

Giá trị di sản được tính là 4.386.600.000đ : 2 = 2.193.300.000đ.

[3.2.5] Về công sức đóng góp vào việc quản lý, tôn tạo di sản: Toàn bộ di sản sau khi cụ B chết, do cụ Y và anh L quản lý. Mặc cụ Y và anh L không phản tố yêu cầu tính công sức đóng góp nhưng căn cứ vào quy định tại Án lệ số 05/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 và được công bố theo Quyết định 220/QĐ-CA06 tháng 4 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao thì: “Trong vụ án tranh chấp di sản thừa kế, có đương sự thuộc diện được hưởng một phần di sản thừa kế và có công sức đóng góp vào việc quản lý, tôn tạo di sản thừa kế nhưng không đồng ý việc chia thừa kế (vì cho rằng đã hết thời hiệu khởi kiện về thừa kế), không có yêu cầu cụ thể về việc xem xét công sức đóng góp của họ vào việc quản lý, tôn tạo di sản thừa kế; nếu Tòa án quyết định việc chia thừa kế cho các thừa kế thì phải xem xét về công sức đóng góp của họ vì yêu cầu không chia thừa kế đối với di sản thừa kế lớn hơn yêu cầu xem xét về công sức”.

Hội đồng xét xử xét thấy, cụ Y có công sức quản lý, giữ gìn di sản từ khi cụ B chết (năm 1997) đến năm 2021; anh L có công sức quản lý, giữ gìn di sản từ năm 2021 đến nay. Do đó, trích từ di sản để thanh toán công sức đóng góp cho cụ Y 10% tổng giá trị di sản với số tiền 219.330.000đ và anh L 3% tổng giá trị di sản với số tiền là: 65.799.000đ.

Như vậy, ông H phải có trách nhiệm thanh toán cho cụ Y công sức đóng góp trong việc quản lý di sản là 219.330.000đ : 2 = 109.665.000đ.

Cụ Y và ông H, mỗi người phải có trách nhiệm thanh toán cho anh L công sức đóng góp trong việc quản lý di sản là 65.799.000đ : 2 = 32.899.500đ.

[3.2.6] Về chia bằng hiện vật: Theo thông tin có tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì thửa số 88 tờ bản đồ số 37 bản đồ địa chính xã P có tổng diện tích 7.311m² (loại đất: Đất ở nông thôn 50m², đất trồng cây lâu năm 7.261m²).

Ông H yêu cầu được nhận diện tích đất 2.009,2m² (loại đất trồng cây lâu năm) thuộc một phần thửa 294 tờ bản đồ số 37 bản đồ địa chính xã P theo kết quả đo đạc tại Trích lục và đo tách thửa đất bản đồ địa chính số 731/2024 lập ngày 24/12/2024 Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh T3.

Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ thể hiện trên các thửa 293, 294 tờ bản đồ số 37 bản đồ địa chính xã P có 01 căn nhà cấp 04 do cụ Y, gia đình anh L đang sinh sống nhưng không thuộc phần đất nguyên đơn yêu cầu được nhận. Ngoài ra, ông H không có quyền sử dụng đất nào khác để sinh sống, canh tác và phần đất yêu cầu được chia đảm bảo điều kiện tách thửa theo Quyết định 63/2024/QĐ-UBND ngày 25/10/2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ.

Do đó, yêu cầu nhận hiện vật của nguyên đơn là có cơ sở, được chấp nhận.

Chia thừa kế cho ông Trần Văn H quyền sử dụng đất diện tích 2009,2m² (loại đất trồng cây lâu năm) thuộc một phần thửa số 294 tờ bản đồ số 37 bản đồ địa chính xã P theo các mốc 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10,11,12,1 theo Trích lục và đo tách thửa đất bản đồ địa chính số 731/2024 lập ngày 24/12/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh T3.

Về giá trị mỗi suất thừa kế được nhận là 2.193.300.000₫ : 2 = 1.096.650.000₫.

Căn cứ Văn bản số 64/TĐG-VB ngày 24/01/2025 của Công ty Cổ phần T2 xác định giá trị quyền sử dụng đất ông H yêu cầu được nhận là 1.205.520.000₫.

Do đó, ông H phải có trách nhiệm thanh toán cho cụ Y số tiền chênh lệch so với giá trị mỗi suất thừa kế là 1.205.520.000₫ - 1.096.650.000₫ = 108.870.000₫.

[4]. Về tài sản trên đất: Căn cứ Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ và chứng kiến việc đo đạc của Tòa án thể hiện trên quyền sử dụng đất thuộc các thửa 293, 294 (số thửa cũ là thửa 88), tờ bản đồ số 37 bản đồ địa chính xã P có 01 căn nhà cấp 04, các cây trồng gồm 46 cây điều, 02 cây đu đủ.

Các đương sự và đại diện hợp pháp của đương sự thừa nhận các tài sản trên đất được tạo lập sau khi cụ B chết, cụ Y đã tặng cho toàn bộ các tài sản trên cho anh L. Do đó, xác định các tài sản trên thuộc quyền sở hữu của anh L.

Phần tài sản ông H được nhận có 15 cây điều. Căn cứ Chứng thư thẩm định giá số 23/TGĐG-CT ngày 15/02/2023 và Văn bản số 64/TĐG-VB ngày 24/01/2025 của Công ty Cổ phần T2 xác định giá 15 cây điều là 15 cây x 570.000đ = 8.550.000đ. Do đó ông H phải thanh toán cho anh L số tiền là 8.550.000₫.

Phần tài sản cụ Y được nhận có 01 căn nhà cấp 04, 31 cây điều, 02 cây đu đủ. Căn cứ Chứng thư thẩm định giá số 23/TGĐG-CT ngày 15/02/2023 và Văn bản số 64/TĐG-VB ngày 24/01/2025 của Công ty Cổ phần T2 xác định giá các tài sản trên là 43.428.000đ (căn nhà) + 17.670.000₫ (31 cây điều = 32 x 570.000đ/cây) + 170.000₫ (02 cây đu đủ = 2 x 85.000đ/cây) = 61.268.000đ. Do đó, cụ Y phải thanh toán cho anh L số tiền là 61.268.000đ.

[5]. Về chi phí tố tụng:

  • - Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc lần 01 (ngày 15/7/2022): 2.638.000₫.
  • - Chi phí thẩm định giá là 33.000.000₫.
  • - Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc lần 02 (ngày 22/8/2024): 2.415.000₫.

Số tiền tạm ứng chi phí nêu trên nguyên đơn đã nộp.

Nguyên đơn xác định do thay đổi yêu cầu khởi kiện nên tự nguyện chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc lần 02 (ngày 22/8/2024) và đề nghị xử lý đối với chi phí tố tụng khác theo quy định của pháp luật. Xét sự tự nguyện của nguyên đơn về việc chịu một phần chi phí tố tụng là không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội do đó được ghi nhận.

Căn cứ vào các Điều 157, 158, 165, 166 Bộ luật Tố tụng Dân sự, các đương sự phải chịu chi phí tố tụng tương ứng với kỷ phần thừa kế được hưởng.

Tổng cộng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc lần 01 và thẩm định giá là 35.638.000đ. Ông H được hưởng tương ứng ¼ giá trị tài sản tiến hành các thủ tục tố tụng nêu trên nên ông H chịu chi phí tố tụng tương ứng.

Do đó, buộc cụ Y phải có trách nhiệm trả lại cho ông H chi phí tố tụng với số tiền là 26.728.500đ.

[6]. Về các vấn đề khác:

Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AA 138863 do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp cho cụ Phạm Thị Y ngày 10/8/2004 đối với thửa đất số 88 tờ bản đồ số 37 bản đồ địa chính xã P là trái quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên đã được thu hồi để cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh L, không còn hiệu lực nên không được xem là quyết định cá biệt theo quy định tại Điều 34 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 309357 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp cho anh Trần Văn L ngày 06/8/2021 đối với 88 tờ bản đồ số 37 bản đồ địa chính xã P. Xét Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên được cấp trên cơ sở hợp đồng, giao dịch. Do đó, Tòa án không tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà đề nghị Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ căn cứ vào bản án của Tòa án để điều chỉnh biến động hoặc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.

[7]. Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Trần Văn H và anh Trần Văn L do thuộc diện Hộ cận nghèo theo quy định của Chính phủ.

Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho cụ Phạm Thị Y do cụ Y là người cao tuổi và thuộc diện Hộ cận nghèo theo quy định của Chính phủ.

[8]. Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử, do đó được chấp nhận một phần.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 68, Điều 92, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, Điều 184, Điều 227, Điều 228, Điều 235 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
  • - Các Điều 119, 123, 129, 131, 500, 501, 502, 612, 613, 623, 649, 650, 651, 652, 660 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Điều 127 Luật Đất đai năm 2003;
  • - Án lệ số 05/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 và được công bố theo Quyết định 220/QĐ-CA06 tháng 4 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao.
  • - Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn H yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu.
    1. Tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ Phạm Thị Y và anh Trần Văn L đối với thửa đất số 88 tờ bản đồ số 37 bản đồ địa chính xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai được Văn phòng C, địa chỉ: Số B, khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai công chứng ngày 29/6/2021, số công chứng 6045 quyển số 07/2021TP/CC-SCC/HĐGD vô hiệu.
    2. Về giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu: Các đương sự không yêu cầu xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  2. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn H yêu cầu chia di sản thừa kế.
    1. Xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ Trần Văn B – sinh năm: 1944 (đã chết năm 1997) gồm 02 thừa kế, cụ thể: Cụ Phạm Thị Y và ông Trần Văn H.
    2. Xác định di sản: Xác định ½ quyền sử dụng đất diện tích 7.311m² (loại đất trồng cây lâu năm) thuộc các thửa 293, 294 (số thửa cũ là thửa 88) tờ bản đồ số 37 bản đồ địa chính xã P thể hiện tại Trích lục và đo chỉnh lý thửa đất bản đồ địa chính số 731/2024 lập ngày 24/12/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh T3 là di sản của cụ Trần Văn B để lại. Tổng giá trị di sản là 2.193.300.000đ (Hai tỷ một trăm chín mươi ba triệu ba trăm nghìn đồng).
    3. Về thanh toán công sức đóng góp, gìn giữ khối di sản:
      • - Trích số tiền 219.330.000₫ (Hai trăm mười chín triệu ba trăm ba mươi nghìn đồng) tương đương 10% tổng giá trị di sản để thanh toán công sức đóng góp, gìn giữ khối di sản cho cụ Phạm Thị Y.

      Buộc ông Trần Văn H có trách nhiệm thanh toán cho cụ Phạm Thị Y số tiền 109.665.000đ (Một trăm lẻ chín triệu sáu trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).

      • - Trích số tiền 65.799.000đ (Sáu mươi lăm triệu bảy trăm chín mươi chín nghìn đồng) tương đương 3% tổng giá trị di sản để thanh toán công sức đóng góp, gìn giữ khối di sản cho anh Trần Văn L.

      Buộc cụ Phạm Thị Y và ông Trần Văn H, mỗi người phải có trách nhiệm thanh toán cho anh Trần Văn L số tiền 32.899.500₫ (Ba mươi hai triệu tám trăm chín mươi chín nghìn năm trăm đồng).

    4. Về phân chia di sản:
      • - Giao cụ Phạm Thị Y được quyền quản lý, sử dụng phần tài sản trong khối tài sản chung và phần di sản là diện tích đất 5.301,8m² (trong đó: loại đất ở nông thôn: 50m², đất trồng cây lâu năm: 5.251,8m²) thuộc các thửa 293, 294 (số thửa cũ là thửa 88) tờ bản đồ số 37 bản đồ địa chính xã P theo các mốc 1,2,3,4,5,21,22,19,18,17,16,15,14,13,12,1 theo Trích lục và đo tách thửa đất bản đồ địa chính số 731/2024 ngày 24/12/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh T3. Cụ Phạm Thị Y được quyền sở hữu 01 căn nhà cấp 04, 31 cây điều, 02 cây đu đủ trên phần đất được chia.
      • - Giao cho ông Trần Văn H được quyền sử dụng diện tích đất 2009,2m² (loại đất trồng cây lâu năm) thuộc một phần thửa 294 (số thửa cũ là thửa 88) tờ bản đồ số 37 bản đồ địa chính xã P theo các mốc 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10,11,12,1 theo Trích lục và đo tách thửa đất bản đồ địa chính số 731/2024 ngày 24/12/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh T3. Ông Trần Văn H được quyền sở hữu 15 cây điều trên phần đất được chia.

      Buộc ông Trần Văn H có trách nhiệm thanh toán cho cụ Phạm Thị Y số tiền 108.870.000đ (Một trăm lẻ tám triệu tám trăm bảy mươi nghìn đồng).

    5. Về thanh toán giá trị tài sản trên đất:

      Cụ Phạm Thị Y phải có nghĩa vụ thanh toán giá trị tài sản trên đất cho anh Trần Văn L với số tiền là 61.268.000đ (Sáu mươi mốt triệu hai trăm sáu mươi tám nghìn đồng).

      Ông Trần Văn H phải có nghĩa vụ thanh toán giá trị cây trồng trên đất cho anh Trần Văn L với số tiền là 8.550.000đ (Tám triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng).

  3. Hiện trạng tài sản được mô tả theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ và chứng kiến việc đo đạc ngày 15/7/2022 và ngày 22/8/2024, Chứng thư Thẩm định giá số 23/TĐG-CT ngày 15/02/2023 của Công ty Cổ phần T2.
  4. Kiến nghị Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ xem xét thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 309357 cấp cho anh Trần Văn L ngày 06/8/2021 đối với quyền sử dụng đất thuộc thửa số 88 tờ bản đồ số 37 bản đồ địa chính xã P để cấp lại theo quyết định của Tòa án.
  5. Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, các đương sự có trách nhiệm liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện việc đăng ký, kê khai để chỉnh lý biến động đất đai đối với quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đã được chia theo quy định của pháp luật.
  6. Về chi phí tố tụng:
    • - Ghi nhận việc ông Trần Văn H tự nguyện chịu số tiền chi phí tố tụng là 2.415.000đ (Hai triệu bốn trăm mười lăm nghìn đồng).
    • - Buộc cụ Phạm Thị Y phải có trách nhiệm trả cho ông Trần Văn H số tiền chi phí tố tụng là 26.728.500đ (Hai mươi sáu triệu bảy trăm hai mươi tám nghìn năm trăm đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  7. Về án phí:

    Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Trần Văn H và anh Trần Văn L do thuộc diện Hộ cận nghèo theo quy định của Chính phủ.

    Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho cụ Phạm Thị Y do cụ Y là người cao tuổi và thuộc diện Hộ cận nghèo theo quy định của Chính phủ.

    Trả lại cho ông Trần Văn H số tiền 21.000.000₫ (Hai mươi mốt triệu đồng) tại biên lai thu số 0002419 ngày 31 tháng 3 năm 2022 và số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu số 0002464 ngày 22 tháng 4 năm 2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

  8. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Thị Y, Tăng Thị Q, Nguyễn Thị Mỹ Q1, Trần Thanh T có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Văn phòng C có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  9. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Kèm theo Bản án là Trích lục và đo tách thửa đất bản đồ địa chính số 731/2024 ngày 24/12/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh T3; Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ và chứng kiến việc đo đạc ngày 15/7/2022 và ngày 22/8/2024.

Nơi nhận:

- Các đương sự;

- VKSND huyện Tân Phú;

- Chi cục THADS huyện Tân Phú;

- Lưu HS - LT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Văn Lợi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/DS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp về thừa kế tài sản và tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu

  • Số bản án: 09/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản và Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger