Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/HS-ST

Ngày 21-02-2025

———————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG

 

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Vinh.
Thẩm phán: Ông Nguyễn Thế Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bà Đỗ Thị Hà, ông Vũ Xuân Mai và ông Trần Văn Hải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Ông Phan Duy Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 60/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

  1. Vừ Thị N (tên gọi khác: Vừ Y, Vừ Y) sinh ngày 15-8-1988 tại tỉnh Nghệ An; Nơi thường trú: Bản N, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nơi ở: Bản N, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Lào; con ông Vừ Giống D, sinh năm 1958 và bà Giàng Thị S, sinh năm 1957; có chồng là Lỳ Tồng C, sinh năm 1987 và có 05 con, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không; bị bắt, tạm giam ngày 01-9-2023; có mặt.
  2. Sùng Thị S1, sinh ngày 01-01-1970 tại tỉnh Điện Biên; Nơi thường trú: Bản Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông; Nơi ở: Tiểu khu A, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con Sùng A S2 và bà Giàng Thị P (đều đã chết); có chồng là Giàng A K (đã chết) và có 07 con, nhỏ nhất sinh năm 1996; tiền án, tiền sự: không; bị bắt, tạm giam ngày 01-9-2023; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Vừ Thị N và Sùng Thị S1: Ông Phạm Quang L ( có mặt) và ông Y ( vắng mặt) là Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm T - Sở Tư pháp tỉnh Đăk Nông; địa chỉ: Số A, đường C, Thành phố G, tỉnh Đắk Nông.

Người phiên dịch: Ông Sùng Văn V; nơi công tác: Ban Tuyên giáo và Dân vận tỉnh Đ; địa chỉ: Tổ dân phố B, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng đầu tháng 08/2023, Sùng Thị S1 được một người tên “Dua” hỏi mua 03 bánh ma túy loại Heroin. Sài biết Vừ Thị N nghiện ma tuý nên gặp hỏi mua ma tuý thì được N đồng ý và hẹn khi mua được thì báo lại. Sau đó, N liên hệ với người tên “Lỳ Bá S3” mua 03 bánh ma túy loại Heroine. Lỳ Bá Sở” báo giá 135.000.000 đồng /01 bánh. Đến khoảng giữa tháng 8/2023, “Lý Bá C1” và “Lỳ Bá X” giao 03 bánh ma túy loại Heroine cho N, sau đó N cất giấu và gọi cho S1 báo đã có 03 bánh ma túy Heroine bán giá 170.000.000đ/01 bánh. Biết có ma túy nên S1 gọi điện thoại báo cho "Dua" thỏa thuận bán với giá 200.000.000đ/01 bánh ma túy. Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 01-9-2023, S1 đem theo 01 gùi có 10 kg Ngô đến nhà gặp N, lúc này N lấy một nửa hạt ngô đổ vào 01 bao tải và giấu 03 bánh ma túy vào trong. Sau đó, cả hai đem ma túy đến vườn Điều thuộc bon Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông để bán ma túy cho “Dua”. Tuy nhiên, sau khi kiểm tra và cho rằng ma túy kém chất lượng “Dua” không mua nên S1 bỏ lại ma túy vào bao tải đựng rồi cùng N đi về thì bị lực lượng Công an tỉnh Đ phát hiện và bắt quả tang.

Tại bản kết luận giám định số 326/KL-KTHS ngày 05-9-2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ, kết luận: 03 (ba) khối chất rắn màu trắng dạng hình hộp chữ nhật gửi giám định đều là ma túy, loại Heroine, có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25-8-2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; có khối lượng mẫu lần lượt là 334,17 gam, 339,38 gam và 337,10 gam. Tổng khối lượng là 1.010,65 gam.

Cáo trạng số 52/CT-VKSĐN-P1 ngày 21-10-2024 của Viện kiểm sát nhân tỉnh Đắk Nông truy tố Vừ Thị N và Sùng Thị S1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng và thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là đúng, không oan.

Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Vừ Thị N và Sùng Thị S1 tù chung thân. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự; căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 03 khối chất rắn là ma tuý loại Heroine; Heroine có khối lượng lần lượt 333,32gam, 338,77gam, 336,18gam hoàn lại sau giám định; 01 cái gùi đan bằng nứa, màu nâu đen, có quai đeo màu xanh bên trong gùi đựng: 01 bao tài màu trắng, mặt phía trước bao có in dòng chữ màu xanh "ĐƯỜNG TINH LUYỆN CAO CẤP", bên trong đựng nhiều hạt ngô; 01 cái gùi đan bằng nứa, màu nâu đen, có quai đeo màu đen bên trong có bao tải màu vàng, mặt phía trước bao có in dòng chữ màu xanh “THỨC ĂN HỖN HỢP CHO GÀ SIÊU THỊT”, bên trong đựng nhiều hạt ngô; 02 con dao phát. Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh, số IMEI 1: 866996061069391, số IMEI 2: 866996061069383, gắn sim số 0348410625 và 0388238205; 01 điện thoại di động hiệu FPT màu nâu, số IMEI 1: 980011002357896, số IMEI 2: 980011002388198, gắn sim số 0382699610

- Người bào chữa cho Vừ Thị N và Sùng Thị S1 trình bày: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông truy tố các bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là đúng, không oan. Tuy nhiên, hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là quá cao. Bởi lẽ: Các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội; là người dân tộc thiểu số, thuộc diện hộ nghèo; sinh sống tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên đề nghị xử phạt mức án tù có thời hạn.

Các bị cáo không tranh luận, xin Hội đồng xét xử xem xét để có cơ hội trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Lời khai của các bị cáo tại phiên toà, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập lưu trong hồ sơ được tranh tụng công khai, phù hợp với các tình tiết diễn biến khách quan của vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 12 giờ ngày 01-9-2023, tại bon Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đ phát hiện, bắt quả tang Vừ Thị N, Sùng Thị S1 mang 1.010,65 gam ma túy loại Heroine, nhằm mục đích đi bán cho người khác thì bị lực lượng Công an tỉnh Đ bắt quả tang, cùng tang vật.

Do đó, hành vi của các bị cáo Vừ Thị N và Sùng Thị S1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

...

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

b) Hêrôin, ... có khối lượng 100 gam trở lên;

...

[3]. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ quản lý của nhà nước về các chất ma tuý. Mặt khác, hành vi phạm tội của các bị cáo còn ảnh hưởng tiêu cực đến trật tự an toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân, tiền đề của các tệ nạn xã hội; tác hại xấu đến sức khỏe con người, làm mất khả năng lao động, học tập và tự chủ cuộc sống; gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Mặc dù, pháp luật buộc các bị cáo phải biết nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi buôn bán, cất giữ trái phép các chất ma túy, song vì tư lợi nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Bên cạnh đó, các bị cáo phạm tội có tính đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, Sùng Thị S1 là người giới thiệu người mua ma túy, N là người trực tiếp liên hệ mua ma túy về cùng S1 bán lại để kiếm lời, do đó cần xem xét khi quyết định hình phạt.

[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; là người dân tộc thiểu số, thuộc diện hộ nghèo; sinh sống tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức hạn chế nên có căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6]. Mặc khác, tuy số lượng ma túy mua bán lớn (1.010,65 gam) nhưng việc mua bán ma túy chưa hoàn thành, số lượng ma túy đã được thu giữ chưa bị phát tán sử dụng. Hơn nữa, các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, áp dụng hình phạt tù không thời hạn đối với bị cáo nhằm đảm bảo mục đích giáo dục, phòng ngừa chung. Ngoài ra, các bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phù hợp.

[7]. Xét quan điểm của Luật bào chữa cho bị cáo một phần có cơ sở nên cần xem xét.

[8]. Xử lý vật chứng: Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về xử lý vật chứng có căn cứ nên xử lý theo quan điểm của Viện kiểm sát.

[9]. Đối với các đối tượng Lý Bá S4, Lỳ Bá C2, Lý Bá X1, D1 và người đàn ông cùng đi với D1 để mua ma tuý do chưa xác định được nhân thân lai lịch của các đối tượng trên và hết thời hạn điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã tách ra để tiếp tục điều tra, xác minh nên không đề cập.

[10]. Về án phí: Vừ Thị N và Sùng Thị S1 là người đồng bào dân tộc thiểu số, sinh sống tại nơi có kinh tế khó khăn nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, cần miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Vừ Thị N và Sùng Thị S1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

    Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt Vừ Thị N hình phạt tù chung thân, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 01-9-2023).

    Xử phạt Sùng Thị S1 hình phạt tù chung thân, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 01-9-2023).

  2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự; căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    2.1. Tịch thu tiêu hủy 03 khối chất rắn là ma tuý loại Heroine có khối lượng lần lượt 333,32gam, 338,77gam, 336,18gam hoàn lại sau giám định; 01 gùi đan bằng nửa, màu nâu đen, có quai đeo màu xanh bên trong gùi đựng: 01 bao tài màu trắng, mặt phía trước bao có in dòng chữ màu xanh "ĐƯỜNG TINH LUYỆN CAO CẤP", bên trong đựng nhiều hạt ngô; 01 gùi đan bằng nứa, màu nâu đen, có quai đeo màu đen bên trong có bao tải màu vàng, mặt phía trước bao có in dòng chữ màu xanh “THỨC ĂN HỖN HỢP CHO GÀ SIÊU THỊT”, bên trong đựng nhiều hạt ngô; 02 con dao phát.

    2.2. Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh, số IMEI 1: 866996061069391, số IMEI 2: 866996061069383, gắn sim số 0348410625 và 0388238205; 01 điện thoại di động hiệu FPT màu nâu, số IMEI 1: 980011002357896, số IMEI 2: 980011002388198, gắn sim số 0382699610.

    (Đặc điểm vật chứng như Biên bản giao nhận ngày 25-10-2024, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Nông).

  3. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, Vừ Thị N và Sùng Thị S1 không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại Tp. Hồ Chí Minh;
  • - VKSNDCC tại Tp. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh Đắk Nông;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông;
  • - Phòng Hồ sơ Công an tỉnh Đắk Nông;
  • - CQCSĐT Công an tỉnh Đắk Nông;
  • - CQTHAHS Công an tỉnh Đắk Nông;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Đắk Nông;
  • - Cục THADS tỉnh Đắk Nông;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: Tổ HCTP, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Văn Vinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 09/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vừa Thị N và đồng phạm phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo điểm b khoản 4 Điều 251 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger