Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản án số: 09/HNGĐ-ST

Ngày: 10 – 02 - 2025

V/v ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hà Thị Dung

Ông Đinh Thanh Hải

-Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thuỳ Dương – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Lê Ngọc Kim Loan– Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 02 năm 2025, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 55/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2024 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2024/QĐXX-ST ngày 30 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Xóm T, xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Bị đơn: Anh Phạm Quang T1, sinh năm 1985; Nơi thường trú trước khi xuất cảnh: Xóm H (nay là xóm S), xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Hiện đang ở Đài Loan, Trung Quốc (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai nguyên đơn chị Trần Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh T1 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam vào ngày 20/02/2009. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống một thời gian tại xóm H (nay là xóm S), xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Sau đó anh T1 đi lao động tại Đài Loan, chị và các con về sống cùng bố mẹ đẻ của chị tại xóm T, xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Từ khi anh T1 đi làm việc tại nước ngoài, anh chị ít liên lạc, vợ chồng không còn tiếng nói chung. Đến cuối năm 2024, anh T1 trở về Việt Nam, vợ chồng đã nói chuyện nhưng không thể hàn gắn. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh T1, đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T1.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Phạm Ngọc Tú Q, sinh ngày 24/11/2009 và Phạm Thế A, sinh ngày 16/10/2012. Khi ly hôn chị xin được trực tiếp nuôi hai con chung và không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản làm việc ngày 16/12/2024 và ngày 15/01/2025 giữa Tòa án và bà Hoàng Thị L, địa chỉ: Xóm S, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên dưới sự chứng kiến của đại diện xóm S, bà L xác định: Anh Phạm Quang T1 là con trai của bà, bà không biết địa chỉ hiện nay của anh T1 ở Đài Loan nên không thể cung cấp cho Tòa án. Anh T1 thường xuyên liên lạc với bà qua điện thoại và biết việc chị T xin ly hôn, anh T1 nhất trí ly hôn với chị T. Anh T1 xác định anh và chị T có 02 con chung là Phạm Ngọc Tú Q, sinh ngày 24/11/2009 và Phạm Thế A, sinh ngày 16/10/2012, do anh T1 đang ở nước ngoài nên không thể trực tiếp nuôi con nên đồng ý giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, chị T không đề nghị anh T1 cấp dưỡng, anh T1 nhất trí tự thỏa thuận với chị T do hàng tháng anh T1 vẫn gửi tiền để nuôi các con và các chi phí sinh hoạt khác cho chị T kể từ khi anh đi lao động tại Đài Loan. Về tài sản chung, nợ chung không có.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật của Tòa án và những người tham gia tố tụng:

  • - Tòa án đã thực hiện đầy đủ theo quy định của BLTTDS: Tiếp nhận đơn, thông báo nộp tạm ứng án phí, thông báo thụ lý vụ án và tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ đúng quy định của BLTTDS.
  • - Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật

Đề xuất quan điểm giải quyết vụ án:

  • - Đủ điều kiện đưa ra xét xử theo trình tự tố tụng dân sự sơ thẩm.
  • - Căn cứ các Điều 28, 37, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 127 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị T, cho chị T được ly hôn với anh Phạm Quang T1. Về con chung: Giao con chung là Phạm Ngọc Tú Q, sinh ngày 24/11/2009 và Phạm Thế A, sinh ngày 16/10/2012 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh T1 do chị T không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung hai bên đều xác định không có nên không giải quyết. Chị Trần Thị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1.]. Chị Trần Thị T, sinh năm 1987, nơi thường trú: Xóm T, xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Anh Phạm Quang T1 trước khi xuất cảnh có nơi thường trú tại Xóm H (nay là xóm S), xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, hiện đang ở Đài Loan, Trung Quốc. Theo công văn số 4435/PQLNXC(Đ1) ngày 04/11/2024 của Phòng Q1 Công an tỉnh T xác định anh Phạm Quang T1 đã được cấp hộ chiếu và đã xuất, nhập cảnh nhiều lần. Lần gần nhất xuất cảnh ngày 14/9/2024 qua cửa khẩu N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 37 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, đây là vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

[2.]. Nguyên đơn chị Trần Thị T chỉ cung cấp được địa chỉ cư trú cuối cùng của anh Phạm Quang T1 ở Việt Nam mà không cung cấp được địa chỉ của anh T1 ở nước ngoài. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ở nước ngoài, không đến Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên để tham gia tố tụng, căn cứ Điều 207 Bộ luật tố tụng Dân sự, vụ án không tiến hành hòa giải được.

[3.]. Anh T1 không có văn bản thể hiện quan điểm của mình gửi về cho Toà án, nhưng thông qua đại diện thân nhân của anh T1 là bà Hoàng Thị L, có đủ căn cứ xác định anh T1 vẫn liên hệ với bà nhưng bà L không cung cấp được địa chỉ của anh T1 tại Đài Loan cho Tòa án. Căn cứ công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Toà án nhân dân tối cao, về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ. Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn.

[4.]. Tại phiên tòa hôm nay, chị Trần Thị T vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 227 và khoản 5 Điều 477 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Xét yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị T:

[5.]. Hôn nhân giữa chị Trần Thị T và anh Phạm Quang T1 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống hòa thuận. Khoảng năm 2018 anh T1 sang Đài Loan lao động, từ đó vợ chồng ít liên lạc với nhau, không còn quan tâm đến nhau. Chị T xin ly hôn, anh T1 nhất trí. Hội đồng xét xử thấy, giữa chị T và anh T1 đã không còn yêu thương nhau, khi vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không bên nào có ý định hàn gắn, mà mỗi bên tự lo cuộc sống riêng, không còn sự quan tâm chia sẻ trong cuộc sống; chị T có yêu cầu xin ly hôn thì anh T1 cũng nhất trí. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T, cho chị T được ly hôn với anh T1 là phù hợp thực tế và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam.

[6.]. Về con chung: Chị Trần Thị T và anh Phạm Quang T1 có 02 con chung là Phạm Ngọc Tú Q, sinh ngày 24/11/2009 và Phạm Thế A, sinh ngày 16/10/2012. Khi ly hôn chị T có nguyện vọng được nuôi hai con. Bản thân anh T1 thông qua thân nhân cũng nhất trí đồng ý cho chị T được nuôi con. Mặt khác, cháu Phạm Thế A và Phạm Ngọc Tú Q đều có nguyện vọng được ở với chị T. Để đảm bảo điều kiện tốt nhất cho con chung khi cha mẹ ly hôn, Hội đồng xét xử xét giao hai con chung Phạm Ngọc Tú Q, và Phạm Thế A cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế, đảm bảo đúng các quy định tại Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân gia đình Việt Nam.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung do các bên không yêu cầu.

[7.]. Về tài sản chung, nợ chung: Chị T và anh T1 không yêu cầu giải quyết. Hội đồng xét xử không giải quyết.

[8.]. Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, được chuyển từ dự phí đã nộp sang.

[9.]. Về đường lối giải quyết vụ án được đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa là có căn cứ pháp luật.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 28; 37; khoản 2 Điều 38; Điều 147; Điều 207; Khoản 1 Điều 228 và khoản 5 Điều 477 và Điều 479 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 51; 56; 81; 82; 83 Điều 127 Luật hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Trần Thị T đối với anh Phạm Quang T1

1. Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị T được ly hôn anh Phạm Quang T1

2. Về con chung: Giao con chung Phạm Ngọc Tú Q, sinh ngày 24/11/2009 và Phạm Thế A, sinh ngày 16/10/2012 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Anh T1 có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có thể yêu cầu thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung và được giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác khi các bên đương sự có yêu cầu.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh T1 do chị T không yêu cầu.

3. Tài sản chung, nợ chung: Các đương sự tự thỏa thuận và không yêu cầu Toà án giải quyết.

4. Án phí: Chị Trần Thị T phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí ly hôn đã nộp, biên lai số 0000150 ngày 30/10/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.

Chị Trần Thị T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án. Anh Phạm Quang T1 được quyền kháng cáo bản án trong hạn một tháng kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh;
  • - Cục THADS tỉnh;
  • - UBND xã H;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Nguyễn Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/HNGĐ-ST ngày 10/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn

  • Số bản án: 09/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger