TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 899/2024/HNGĐ-ST Ngày: 07 - 8 - 2024 V/v ly hôn và tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Điệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thu Hương;
- Bà Nguyễn Thị Ngọc Vân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thiện Quang là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 119/2022/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 02 năm 2022 về việc: “Ly hôn và tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 759/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 964/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Văn L; Địa chỉ cư trú: H Khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh - Vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Đặng Thị Thúy H - Luật sư, Công ty L4 và Cộng sự, Đoàn luật sư Thành phố H - Có mặt.
Bị đơn: Bà Lê Thị N; Địa chỉ đăng ký thường trú: H Khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ cư trú: D Tổ F, Ấp B, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ly hôn và quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Văn L là nguyên đơn trình bày: Ông và bà Lê Thị N tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1981, có đăng ký kết hôn theo Giấy công nhận kết hôn số 71, quyền số I, đăng ký ngày 04/12/1981 tại UBND xã T, huyện H (nay là phường T, Quận A), Thành phố Hồ Chí Minh. Trong Giấy chứng nhận kết hôn, bà Lê Thị N có ngày sinh là: 21/02/1960. Tuy nhiên trong Giấy chứng minh nhân dân và căn cước công dân thì bà Lê Thị N có ngày sinh là 15/3/1960 do lúc đăng ký kết hôn có sự sai sót. Nay ông xác định bà Lê Thị N có ngày sinh là: 21/02/1960 và bà Lê Thị N có ngày sinh là: 15/3/1960 là một người.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình ngày càng không hòa hợp, thường xảy ra cãi vã nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Từ năm 2015 vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc nhau, từ tháng 9/2017 ông bà đã sống ly thân đến nay. Nay, ông L xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Lê Thị N.
Quá trình giải quyết vụ án, bà Lê Thị N là bị đơn trình bày: Trong Giấy chứng nhận kết hôn, bà N có ngày sinh là: 21/02/1960. Tuy nhiên trong Giấy chứng minh nhân dân và căn cước công dân thì bà N có ngày sinh là 15/3/1960 là do lúc đi làm đăng ký kết hôn bà lấy ngày sinh là ngày âm lịch nên mới ghi ngày 21/02. Bà xác định bà Lê Thị N có ngày sinh là: 21/02/1960 và bà Lê Thị N có ngày sinh là: 15/3/1960 đều là bà.
Về mâu thuẫn là do vợ chồng ngày càng không hòa hợp về tính cách và lối sống nên phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn. Từ năm 2015 vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc nhau, nhiều lần đánh nhau, nên từ tháng 9/2017 bà đã ra ngoài ở riêng và vợ chồng ly thân đến nay. Bà N cũng nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nhưng do ông L hiện nay đang thu ½ tiền thuê nhà trọ nên bà không đồng ý ly hôn. Nếu ông L trả lại số phòng trọ để bà trực tiếp thu và mỗi tháng bà sẽ giao lại cho ông L 3.000.000 đồng, cho con lớn mỗi tháng 8.000.000 đồng thì bà sẽ đồng ý ly hôn.
Về con chung: Ông Trần Văn L và bà Lê Thị N đều khai có 02 (hai) con tên là Trần Tuấn L1, sinh ngày 16/11/1982 và Trần Thanh H1, sinh ngày 09/01/1986. Cả hai con đã thành niên.
Về tài sản chung: Quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Văn L xin rút toàn bộ yêu cầu chia tài sản chung và xác định tài sản riêng, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà Lê Thị N trong quá trình giải quyết vụ án cũng đồng ý để hai bên cùng xem xét lại có hướng giải quyết về tài sản chung.
Về nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Văn L xác định không có nợ chung. Bà Lê Thị N xác định hiện nay còn khoản nợ của bà Lê Thị Minh H2 khoảng 10 lượng vàng, nợ bà Nguyễn Thị L2 khoảng hơn 100 triệu đồng, nợ bà Ba L3 (bà không nhớ chính xác họ tên) khoảng hơn 100 triệu đồng. Các khoản nợ này bà vay khoảng năm 2003 để chơi hụi, mua đất và đều không có giấy vay mượn. Bà N không nhớ chính xác số nợ còn lại là bao nhiêu, bà cũng không biết địa chỉ chính xác của những người này. Các khoản nợ này đều là nợ chung của bà và ông L.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là luật sư Đặng Thị Thúy H trình bày: Ông Trần Văn L và bà Lê Thị N đăng ký kết hôn tự nguyện và hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, đã nhiều lần tìm cách giải quyết nhưng không thể hàn gắn nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Về con chung: Có 02 con đã thành niên. Về tài sản chung: Ông Trần Văn L đã có đơn rút yêu cầu chia tài sản. Về nợ chung: Không có.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp; gửi Thông báo thụ lý vụ án, tống đạt và mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đúng quy định; chưa đảm bảo về thời hạn chuẩn bị xét xử. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định về xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn và bị đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Nhận thấy yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ông Trần Văn L được ly hôn với bà Lê Thị N. Về con chung: Có 02 con đã thành niên. Về tài sản chung: Ông Trần Văn L có đơn rút yêu cầu nên đình chỉ đối với yêu cầu của ông Trần Văn L về việc chia tài sản chung. Về nợ chung: Bà Lê Thị N khai có nợ của bà Lê Thị Minh H2 khoảng 10 lượng vàng, nợ bà Nguyễn Thị L2 khoảng hơn 100 triệu đồng, nợ bà Ba L3 (không nhớ chính xác họ tên) khoảng hơn 100 triệu đồng nhưng không cung cấp được thông tin về các chủ nợ cũng như các tài liệu chứng cứ nên không có cơ sở xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ hồ sơ vụ án thể hiện ông Trần Văn L và và bà Lê Thị N tự nguyện kết hôn năm 1981 theo Giấy công nhận kết hôn số 71, quyền số I, đăng ký ngày 04/12/1981 tại UBND xã T, huyện H (nay là phường T, Quận A), Thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Nay, ông Trần Văn L có yêu cầu ly hôn với bà Lê Thị N, xác định đây là vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Theo kết quả xác minh của Công an phường T, Quận A thì tại thời điểm Tòa án thụ lý vụ án, bị đơn đang cư trú tại Quận A, quá trình giải quyết vụ án, bị đơn thay đổi nơi cư trú đến huyện H. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 và khoản 3 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Ông Trần Văn L là nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nhưng có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tham gia phiên tòa, bà Lê Thị N được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt lần thứ hai. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[3] Về ngày tháng sinh của bà Lê Thị N trong Giấy chứng nhận kết hôn và căn cước công dân không trùng khớp: Theo Giấy công nhận kết hôn số 71 ngày 04/12/1981 thì bà Lê Thị N sinh ngày 21/02/1960, còn trong Giấy chứng minh nhân dân và Căn cước công dân thì bà N có ngày sinh là 15/3/1960. Nguyên đơn và bị đơn cùng thừa nhận do sai sót trong lúc làm đăng ký kết hôn. Tòa án đã tiến hành xác minh tại nơi bà N đăng ký thường trú là Ủy ban nhân dân phường T, Quận A; Phòng Tư pháp Quận 12; tàng thư Công an Q có cơ sở xác định bà Lê Thị N, sinh ngày 21/02/1960 theo Giấy công nhận kết hôn số 71 ngày 04/12/1981 và bà Lê Thị N sinh ngày 15/3/1960 theo Căn cước công dân số [...] là một người.
[4] Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: Ông Trần Văn L yêu cầu được ly hôn với bà Lê Thị N vì tính tình không hòa hợp, thường xảy ra cãi vã. Vợ chồng đã không còn tình cảm, không quan tâm, chăm sóc nhau. Từ tháng 9 năm 2017 thì bà N đã ra ngoài sống riêng và vợ chồng sống ly thân đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Lê Thị N cũng thừa nhận mâu thuẫn, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc nhau, nhiều lần đánh nhau và hiện tại không còn sống chung. Bà N xác định không còn tình cảm vợ chồng nhưng không đồng ý ly hôn. Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. 2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau...”, nhưng theo trình bày của các đương sự thì ông Trần Văn L và bà Lê Thị N không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc nhau; nhiều lần đánh nhau và không còn sống chung từ tháng 9 năm 2017 đến nay. Điều này cho thấy hôn nhân của ông Trần Văn L và bà Lê Thị N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, cần căn cứ vào khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Trần Văn L.
[5] Về con chung: Ông Trần Văn L và bà Lê Thị N đều khai có 02 (hai) con tên là Trần Tuấn L1, sinh ngày 16/11/1982 và Trần Thanh H1, sinh ngày 09/01/1986. Cả hai con đã thành niên.
[6] Về tài sản chung: Trong đơn khởi kiện, ông Trần Văn L yêu cầu chia tài sản chung và xác định tài sản riêng, nhưng quá trình giải quyết vụ án, ông L xin rút toàn bộ yêu cầu chia tài sản chung và xác định tài sản riêng, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà Lê Thị N trong quá trình giải quyết vụ án cũng đồng ý để hai bên cùng xem xét lại có hướng giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ đối với yêu cầu chia tài sản chung và xác định tài sản riêng của ông L. Trường hợp các bên không tự giải quyết được thì có quyền khởi kiện chia tài sản chung trong vụ án khác.
[7] Về nợ chung: Nguyên đơn xác định không có nợ chung. Quá trình giải quyết vụ án, bà Lê Thị N xác định hiện nay còn nợ của bà Lê Thị Minh H2 khoảng 10 lượng vàng, nợ bà Nguyễn Thị L2 khoảng hơn 100 triệu đồng, nợ bà Ba L3 (bà không nhớ chính xác họ tên) khoảng hơn 100 triệu đồng, các khoản nợ này đều là nợ chung của bà và ông L. Tòa án đã yêu cầu bà N giao nộp cho Tòa án tải liệu chứng cứ thể hiện các khoản nợ và họ tên, địa chỉ của các chủ nợ nhưng bà N không giao nộp. Bà N cam kết chậm nhất là ngày 31/5/2024 sẽ đưa những chủ nợ này lên Tòa án làm việc nhưng cũng không đưa nên Tòa án không có cơ sở xem xét. Trường hợp các bên có tranh chấp sẽ khởi kiện trong vụ án khác.
[8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 về việc giải quyết vụ án và ý kiến của Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là có cơ sở và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[9] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật nhưng do nguyên đơn là người cao tuổi (sinh năm 1959) và có đơn xin miễn tạm ứng án phí, án phí nên được miễn tạm ứng án phí và toàn bộ án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[10] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 và khoản 3 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 200, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 19, khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của ông Trần Văn L:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Văn L được ly hôn với bà Lê Thị N.
(Giấy công nhận kết hôn số 71, quyền số I, đăng ký ngày 04/12/1981 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H - nay là phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh hết hiệu lực kể từ ngày bản án này có hiệu lực thi hành).
- Về con chung: Có 02 (hai) con tên là Trần Tuấn L1, sinh ngày 16/11/1982 và Trần Thanh H1, sinh ngày 09/01/1986. Cả hai con đã thành niên.
- Về tài sản chung: Đình chỉ yêu cầu chia tài sản chung và xác định tài sản riêng do nguyên đơn rút yêu cầu. Trường hợp có tranh chấp sẽ giải quyết trong vụ án khác.
Về nợ chung: Trường hợp phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết trong vụ án khác.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Văn L được ly hôn với bà Lê Thị N.
- Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) do ông Trần Văn L chịu, nhưng do ông Trần Văn L là người cao tuổi (sinh năm 1959) và có đơn xin miễn tạm ứng án phí, án phí nên được miễn tạm ứng án phí và toàn bộ án phí nêu trên.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Điệp |
Bản án số 899/2024/HNGĐ-ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn và tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn.
- Số bản án: 899/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn.
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn và tranh chấp tài sản khi ly hôn
