|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 899/2024/HNGĐ-ST
Ngày 23 - 7 - 2024
V/v tranh chấp Ly hôn
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Châu Trinh
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Huỳnh Văn Bé
Ông Nguyễn Ngọc Cảnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Bế Thị An – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Trúc Phượng – Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 124/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2024 về tranh chấp Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 288/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 333/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc  năm 1993. Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang (Có mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng Trung H, sinh năm 1989; Địa chỉ: A T, Phường A, Quận D, Thành phố H chỉ liên lạc: Số B đường D, tổ A, ấp C, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày như sau:
Bà Nguyễn Thị Ngọc Â1 và ông Nguyễn Hoàng Trung H1 một thời gian tìm hiểu nhau đã đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 71/2016, cấp ngày 14/10/2016 do Ủy ban nhân dân Phường A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp. Thời gian đầu đời sống vợ chồng hạnh phúc. Trong quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên gây gổ. Đến thời điểm hiện tại, ông H và bà Â2 ly thân được 05 năm. Nhận thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc như mong muốn, tình cảm vợ chồng không còn như trước, không thể tiếp tục duy trì hôn nhân được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên tại phiên tòa, nguyên đơn bà Â giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông H2
Hai ông bà có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng Gia T ngày 18/10/2016. Bà Nguyễn Thị Ngọc Âl yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Bị đơn: ông Nguyễn Hoàng T1 H vắng mặt không rõ lý do, không gửi ý kiến cho Tòa án.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi phát biểu quan điểm:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không.
- Về nội dung: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
-
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn. Đây là tranh chấp Ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Căn cứ kết quả xác minh của Công an xã P, Thành phố H bị đơn hiện đang cư trú tại Ấp C, xã P, huyện C, Thành phố H cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
-
[2] Về tố tụng:
Tòa án triệu tập hợp lệ bị đơn ông Nguyễn Hoàng Trung H3 thứ hai để tham gia tố tụng tại phiên tòa xét xử nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do, không có đơn xin vắng mặt và không có yêu cầu phản tố, bị đơn không cung cấp cho Tòa án ý kiến về yêu cầu của nguyên đơn cũng như cung cấp chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ án. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, đồng thời Hội đồng xét xử chỉ xem xét tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp.
-
[3] Về quan hệ hôn nhân:
Bà Nguyễn Thị Ngọc Â1 và ông Nguyễn Hoàng Trung H tự nguyện đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 71/2016, cấp ngày 14/10/2016 do Ủy ban nhân dân Phường A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp, đây là hôn nhân hợp pháp.
-
[4] Về nội dung:
Xét yêu cầu về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị Ngọc Â1 trình bày do không hợp nhau về quan điểm sống, thường xuyên tranh cãi làm cuộc sống gia đình rơi vào nhiều bế tắc không hạnh phúc, nhận thấy không thể tiếp tục duy trì hôn nhân được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Â kiên quyết yêu cầu ly hôn ông H2 Ông Nguyễn Hoàng Trung H không đến Toà án theo giấy triệu tập của Tòa án đã thể hiện không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Ngọc Â1 và ông Nguyễn Hoàng Trung H có mâu thuẫn kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Ngọc Âl ly hôn với ông Nguyễn Hoàng T1 H là có cơ sở. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Xét yêu cầu về việc nuôi con chung: Hai ông bà có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng Gia T2, sinh ngày 18/10/2016. Bà Â yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, đồng thời nguyện vọng của trẻ Gia T3 mong muốn sống chung với bà Â, vì vậy để ổn định tâm sinh lý cho trẻ và phù hợp với nguyện vọng của trẻ Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Â3 giao trẻ Gia T2 cho bà Â trực tiếp nuôi dưỡng. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Â1 không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi 01 con chung tên Nguyễn Hoàng G T.
Xét yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn: bà Nguyễn Thị Ngọc Â1 xác định không có tài sản chung, ông H không đến Tòa, không gửi ý kiến về vụ án cho Tòa án, do vậy Hội đồng không xem xét về tài sản chung, nếu có tranh chấp thì giải quyết bằng vụ kiện khác.
Xét về nghĩa vụ dân sự chung: bà Nguyễn Thị Ngọc Â1 xác định không có nghĩa vụ dân sự chung, ông H không đến Tòa, không gửi ý kiến về vụ án cho Tòa án, do vậy Hội đồng không xem xét, nếu có tranh chấp thì giải quyết bằng vụ kiện khác.
Về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm: Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, Hội đồng xét xử xét cần buộc nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 51, 56, 57, 58, 82, 83, 84, 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 6, 7, 26, 30, 31, 32 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014); Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:
- Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Ngọc Â3 được ly hôn ông Nguyễn Hoàng T1 H.
- Giấy chứng nhận kết hôn số số 71/2016, cấp ngày 14/10/2016 do Ủy ban nhân dân Phường A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Nguyễn Thị Ngọc Â1 và ông Nguyễn Hoàng Trung H không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Hoàng Gia T ngày 18/10/2016 cho bà Nguyễn Thị Ngọc Â1 trực tiếp nuôi dưỡng.
- Người không trực tiếp nuôi con chung không cấp dưỡng nuôi con chung. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung: Không xem xét trong vụ án này.
- Về nghĩa vụ dân sự chung: Không xem xét trong vụ án này.
- Về án phí sơ thẩm: bà Nguyễn Thị Ngọc Â1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tiền số 0017663 ngày 08/03/2023 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 4. Bà Â2 nộp đủ tiền.
Thời hạn kháng cáo đối với bản án này là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Châu Trinh |
Bản án số 899/2024/HNGĐ-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 899/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
