Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 897/2024/HS-PT

Ngày: 24 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh

Các Thẩm phán:

Ông Cao Văn Tám

Bà Bùi Thị Thu

Thư ký phiên tòa: Ông Đàm Lê Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại phòng xử trực tuyến - trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và Toà án nhân dân tỉnh Bạc Liêu, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 648/2024/TLPT-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn B do có kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo với Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2024/HS-ST ngày 05 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Văn B, sinh ngày 03 tháng 01 năm 2001 tại Bạc Liêu. Nơi cư trú: ấp H, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị H; tiền án, không; tiền sự: 01 lần, tại Quyết định số 11/2023/QĐ-TA ngày 11 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng. (tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai đã chấp hành xong từ ngày 29/3/2023 đến ngày 29/3/2024)

(Ngoài ra trong vụ án còn có các bị cáo Đặng Hửu P, Lê Văn L, Lê Trung H1, Trần Quốc K, bị hại và người liên quan không liên quan đến kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ tháng 12 năm 2022 đến tháng 4 năm 2023 các bị cáo Đặng Hửu P cùng Lê Trung H1, Lê Văn L thống nhất đã thực hiện 07 vụ trộm cắp tài sản, với tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt tài sản trị giá 63.895.000đ. Sau khi trộm được thì các bị cáo Nguyễn Văn B, Trần Quốc K, Lê Văn L đã tiêu thụ tài sản trộm được của các bị cáo, cụ thể:

  • - Vụ thứ nhất: Vào tối ngày 16 đến rạng sáng ngày 17 tháng 8 năm 2022, bị cáo P cùng bị cáo H1 lấy trộm 01 máy bơm nước của ông Thái Văn T1. Sau khi trộm được bị cáo P đã bán cho ông Nguyễn Văn S (ông S không biết do phạm tội mà có) được 1.500.000đ, bị cáo P chia cho bị cáo H1 500.000đ.

    Bị cáo P còn lấy trộm của ông T1 01 giấy cầm vàng tên Nguyễn Huỳnh M (vợ ông T1), đến sáng ngày 17 tháng 8 năm 2022 bị cáo P đến tiệm V (do bà Nguyễn Thị P1 làm chủ), bị cáo P đưa giấy cầm đồ và nói với bà Đ (là người đang trông coi tiệm) là người thân của bà M đến để lấy thêm tiền. Do thấy P có mang theo giấy cầm vàng nên bà Đ đã đưa cho P số tiền 3.500.000đ.

    Tại Bản kết luận định giá tài sản số 31/HĐ, ngày 21 tháng 9 năm 2022, kết luận: 01 máy bơm nước giá trị là 3.420.000đ.

  • - Vụ thứ hai: Vào rạng sáng ngày 28 tháng 12 năm 2022, bị cáo P lấy trộm 01 chiếc xe mô tô Yamaha Luvias màu xanh bạc, biển số 94B1-108.11 tại nhà bà Huỳnh Thị M1. Sau đó bị cáo P nhờ người bạn (không rõ nhân thân lai lịch) cầm được số tiền 1.000.000đ.

    Sau khi mất xe, khoảng tháng 01 năm 2023 bà M1 phát hiện một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) đang điều khiển xe Yamaha Luvias biển số 94B1-108.11 của bà nên bà M1 chuộc lại với số tiền 3.900.000đ.

    Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 47/HĐ, ngày 08 tháng 8 năm 2023, kết luận: giá trị tài sản 7.200.000đ.

  • - Vụ thứ ba: Trong đêm ngày 26 rạng sáng ngày 27 tháng 3 năm 2023, bị cáo P lấy trộm chiếc xe Yamaha Exciter biển số 94B1-310.80 màu trắng đỏ của anh Tăng Thanh L1.

    Đến sáng ngày 28 tháng 3 năm 2023 bị cáo P nhờ T2 (không rõ nhân thân, địa chỉ cụ thể) tìm chỗ bán xe thì T2 liên lạc với bị cáo B để bán xe. Khi mua xe bị cáo B biết rõ xe bị cáo P và T2 bán là xe trộm nhưng vẫn đồng ý mua với giá 2.500.000đ, bị cáo P chia cho Tuyền 1.000.000đ.

    Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 12/HĐ, ngày 01 tháng 4 năm 2023, kết luận: giá trị chiếc xe là 21.000.000đ.

    Tại Bản kết luận định giá tài sản số 50/HĐ ngày 02 tháng 11 năm 2023, kết luận: 01 dây xích bằng kim loại inox có giá trị 80.000đ, 01 ổ khóa bằng kim loại không rõ nhãn hiệu có giá trị 0 đồng.

  • - Vụ thứ tư: Tối ngày 28 tháng 3 năm 2023 bị cáo P và bị cáo L lấy trộm chiếc xe Yamaha Sirius màu đỏ đen, biển số 93P1-378.19 của ông Lê Văn T3.

    Sau đó cả hai bán xe cho bị cáo K số tiền 3.000.000đ và chia nhau xài.

    Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 34/HĐ, ngày 09 tháng 6 năm 2023, kết luận: chiếc xe có giá trị 3.375.000đ.

  • - Vụ thứ năm: Tối ngày 10 tháng 4 năm 2023 bị cáo P và bị cáo L lấy trộm chiếc xe Honda Wave 110 biển số 69M1-230.99 của ông Võ Văn H2.

    Đến sáng ngày 11 tháng 4 năm 2023, bị cáo L mang xe và các giấy tờ đi cầm ở cửa hàng của ông Lâm Hữu N (ông N không biết tài sản do phạm tội mà có) bán được số tiền 6.000.000đ, cả hai chia nhau tiêu xài.

    Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 33/HĐ, ngày 08 tháng 6 năm 2023 kết luận: chiếc xe có giá trị 11.700.000đ.

  • - Vụ thứ sáu: Vào tối ngày 11 tháng 4 năm 2023 bị cáo P và bị cáo L lấy trộm chiếc xe Wave 110 màu xanh, biển số 60L3-7516 của anh Phạm Khắc T4.

    Đến sáng ngày 12 tháng 4 năm 2023 hai bị cáo điều khiển xe trộm được chạy về hướng Cà Mau, đến gần cầu H và bán xe cho hai người đàn ông không rõ nhân thân được số tiền 2.500.000đ

    Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 16/HĐ, ngày 19 tháng 4 năm 2023 kết luận: chiếc xe có giá trị 9.800.000đ.

  • - Vụ thứ bảy: Vào tối ngày 14 tháng 4 năm 2023 bị cáo P lấy trộm chiếc xe Nouvo 4 màu đen, biển số 94N1-2408 của ông Trần Thanh Tuấn A

    Sau đó bị cáo P rủ bị cáo L liên hệ với 02 người thanh niên ở Cà Mau trước đó đã mua xe trộm để bán với giá 1.000.000đ.

    Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 35/HĐ, ngày 10 tháng 6 năm 2023 kết luận: chiếc xe có giá trị 7.320.000đ.

- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2024/HS-ST ngày 05 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu, quyết định:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 323, điểm i và s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 589 của Bộ luật Dân sự; Khoản 2 Điều 136, khoản 2 Điều 290 và khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
  2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị bắt đi chấp hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định tội danh và hình phạt đối với các bị cáo Đặng Hửu P, Lê Văn L, Lê Trung H1, Trần Quốc K, bồi thường thiệt hại, án phí, việc thi hành án và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

- Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 19 tháng 6 năm 2024, bị cáo Nguyễn Văn B có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Bị cáo giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho hưởng án treo.
  • - Đại diện viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên hình phạt của án sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Văn B.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về tố tụng: Bị cáo Nguyễn Văn B nộp đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
  2. [2] Về nội dụng:

    Bị cáo Nguyễn Văn B mặc dù không có hứa hẹn trước nhưng biết rõ tài sản do bị cáo P trộm cắp mà có (vụ thứ 3, tài sản giá trị 21.000.000 đồng); Bị cáo đã mua xe với giá 2.500.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo B đã phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” được quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự, như án sơ thẩm đã xét xử là đúng người, đúng tội.

    Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng tình hình trị an tại địa phương; bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, đã bị xử lý hành chính bằng biện pháp cai nghiện bắt buộc, nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

    Khi xét xử cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo B phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và áp dụng mức hình phạt 09 tháng tù là phù hợp.

    Tại cấp phúc thẩm bị cáo kháng cáo nhưng không có tình tiết giảm nhẹ nào khác, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ hình phạt, cho hưởng án treo; cần giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm.

  3. [3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  4. [4] Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn B. Giữ nguyên tội danh và hình phạt của bản án hình sự sơ thẩm số 13/2024/HSST ngày 05 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu
  2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn B 09 (chín) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án.

  3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án là ngày 24/9/2024.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • - VKSND tỉnh Bạc Liêu;
  • - Cục THADS tỉnh Bạc Liêu;
  • - Công an tỉnh Bạc Liêu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bạc Liêu;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS, VP, 18bTTLH.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 897/2024/HS-PT ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 897/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger