|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc --------------------------------- |
Bản án số: 896/2024/DS-ST
Ngày 27-9-2024
Về việc: “Tranh chấp Hợp đồng dịch vụ”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Hòa
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đỗ Quang Lý
- Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hồ Thị Yến Khanh, Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Diệu T – Kiểm sát viên.
Vào ngày 27 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 622/2023/TLST-DS ngày 15 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1130/2024/QĐXX-DS ngày 12 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1446/2024/QĐST-DS ngày 11 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty L Luật
Địa chỉ: F K, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Đại diện theo pháp luật: ông Lê Văn D, chức vụ: Giám đốc
Có mặt.
Bị đơn: Bà Bùi Thị Đoan T1, sinh năm 1964
Địa chỉ: 6 đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NHẬN THẤY:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn do ông Lê Văn D là người đại diện hợp pháp trình bày:
Ngày 02/7/2014, Công ty L (sau đây gọi tắt là Công ty L) có thỏa thuận về việc nguyên đơn sẽ cung cấp hợp đồng dịch vụ pháp lý với bà Bùi Thị Đoan T1, nội dung bà T1 nhờ Công ty Luật cử 01 Luật sư, người đại diện theo ủy quyền để tham gia tố tụng tại Tòa án các cấp trong vụ kiện Đ đòi lại nhà cho ở nhờ, yêu cầu thi hành án và nhận tài sản theo quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Tại điều 2 của hợp đồng nêu: “Công việc bên A được coi là hoàn thành khi bên B nhận được tài sản thi hành án"
Với công việc trên thì bà T1 phải thanh toán tổng cộng là 300.000.000 đồng, cụ thể: Lần 1: 50.000.000 đồng ngay khi ký hợp đồng; lần 2: 100.000.000 đồng ngay sau khi tòa phúc thẩm thụ lý vụ kiện; lần 3: 150.000.000 đồng khi bên B nhận được tài sản thi hành án. Sau khi ký hợp đồng bà T1 đã thanh toán số tiền 50.000.000 đồng. Kết quả vụ kiện bà T1 đã được giao tài sản và bà T1 rút đơn kiện. Sau khi nhận tài sản bà T1 đã tiến hành bán căn nhà để thu hồi nợ thanh toán cho ngân hàng. Công ty L đã liên hệ bà T1 thanh toán toàn bộ số tiền còn lại 250.000.000 đồng nhưng bà T1 khất hẹn, Đến nay bà T1 vẫn chưa thanh toán số tiền còn lại. Nay công ty yêu cầu tòa án tuyên bố chấm dứt hợp đồng dịch vụ ngày 02/7/2014 giữa công ty và bà T1; buộc bà T1 thanh toán số tiền 250.000.000 đồng.
Bị đơn bà Bùi Thị Đoan T1 trình bày tại bản khai ngày 29/3/2023: Ngày 02/7/2014, bà và Công ty L có thỏa thuận về việc công ty sẽ cung cấp hợp đồng dịch vụ pháp lý nội dung như trên. Với công việc trên thì bà phải thanh toán tổng cộng là 300.000.000 đồng, cụ thể: Lần 1: 50.000.000 đồng ngay khi ký hợp đồng; lần 2: 100.000.000 đồng ngay sau khi tòa phúc thẩm thụ lý vụ kiện; lần 3: 150.000.000 đồng khi bên B nhận được tài sản thi hành án. Theo bà được hiểu thì công việc phát sinh tới đâu thì trả tiền tới đó. Vụ án kết thúc năm 2016 bà có gặp luật sư D nhưng không thấy nói gì nên bà nghĩ rằng bà đã hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng. Do đó bà không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn yêu cầu tòa án tuyên bố chấm dứt hợp đồng dịch vụ ngày 02/7/2014 giữa công ty L và bà Bùi Thị Đoan T1; buộc bà T1 thanh toán số tiền 250.000.000 đồng. Tuy nhiên, nguyên đơn tự nguyện rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 100.000.000 đồng, chỉ yêu cầu bị đơn thanh toán 150.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi.
Bị đơn bà Bùi Thị Đoan T1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử như sau:
Về tố tụng, quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân thủ theo pháp luật tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng chấp hành đúng pháp luật tố tụng của dân sự.
Ngày 15/11/2023, Tòa án nhân dân quận Tân Phú ban hành thông báo thụ lý vụ án. Đến ngày 12/8/2024, Tòa án nhân dân quận Tân Phú ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Như vậy Tòa án đã vi phạm quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 203 Bộ luật TTDS 2015.
Về nội dung, tại phiên tòa nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền 100.000.000 đồng. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của nguyên đơn, lời trình bày của bị đơn có cơ sở xác định như sau:
2
Ngày 02/7/2014, Công ty L Luật có ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý với bà Bùi Thị Đoan T1. Theo nội dung hợp đồng, bà Bùi Thị Đoan T1 thuê Việt Luật thực hiện dịch vụ pháp lý với nội dung công việc là bà T1 nhờ V Luật cử 01 luật sư, người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng tại Tòa án các cấp trong vụ kiện: Đòi lại nhà cho ở nhà; yêu cầu thi hành án và nhận tài sản theo quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Tại Điều 2 của Hợp đồng có nêu: “Công việc bên A được coi là hoàn thành khi bên B nhận được tài sản thi hành án”
Với những công việc trên thì bà Bùi Thị Đoan T1 phải thanh toán tổng thù lao trọn gói cho công ty L là 300.000.000 đồng, cụ thể: Lần 1: 50.000.000 đồng ngay sau khi ký hợp đồng; Lần 2: 100.000.000 đồng ngay sau khi tòa phúc thẩm thụ lý vụ kiện; Lần 3: số tiền còn lại 150.000.000 đồng khi bên B nhận được tài sản thi hành án. Sau khi ký hợp đồng bà Bùi Thị Đoan T1 đã thanh toán cho công ty L số tiền 50.000.000 đồng. Công ty L đã cử Luật sư để thực hiện công việc theo hợp đồng đã ký kết với bà T1, làm đại diện theo ủy quyền tham gia hòa giải tại Tòa án; làm việc, đàm phán với phía bị đơn trong vụ kiện. Kết quả vụ kiện là: bị đơn bà Nguyễn Thị X đã đồng ý giao tài sản cho bà Bùi Thị Đoan T1 nên bà T1 đã rút đơn khởi kiện. Phù hợp với lời khai của nguyên đơn và bị đơn.
Phía nguyên đơn cho rằng, bà T1 phải thanh toán số tiền 250.000.000 đồng trọn gói cho hợp đồng dịch vụ là không có căn cứ. Bởi lẽ: Theo thỏa thuận tại Điều 1: Nội dung công việc thể hiện: “Bên B đồng ý nhờ bên A cử 01 Luật sư, người đại diện theo ủy quyền để: “Tham gia tố tụng tại Tòa án các cấp trong vụ kiện “Đòi lại nhà cho ở nhờ”; Yêu cầu thi hành án và nhận tài sản theo quy định của Tòa án có hiệu lực pháp luật”.
Theo lời khai của nguyên đơn và bị đơn, vụ án “Đòi lại nhà cho ở nhờ” đã dừng lại ở phiên hòa giải, và bị đơn bà Bùi Thị Đoan T1 đã rút đơn khởi kiện, Tòa án ra quyết định đình chỉ, do vậy vụ đó theo hợp đồng dịch vụ pháp lý đã dừng lại ở giai đoạn sơ thẩm, cụ thể là giai đoạn trước khi xét xử sơ thẩm, là đúng với lời khai của bị đơn. Việc nguyên đơn cho rằng, bà T1 đã ký hợp đồng trọn gói nên yêu cầu bà T1 phải thanh toán toàn bộ số tiền là không đúng, và không có tài liệu chứng cứ chứng minh cho lời khai của mình là đúng. “Điều 4: Thù lao Bên B ứng cho bên A số tiền là: Lần 1: 50.000.000 đồng ngay sau khi ký hợp đồng; Lần 2: 100.000.000 đồng ngay sau khi tòa phúc thẩm thụ lý vụ kiện; Lần 3: số tiền còn lại 150.000.000 đồng khi bên B nhận được tài sản thi hành án”
Theo đó, Lần 2 sẽ trả 100.000.000 đồng ngay sau khi Tòa phúc thẩm thụ lý vụ kiện, tuy nhiên, vụ kiện của bà T1 đã dừng ở giai đoạn hòa giải cấp sơ thẩm, nên Tòa phúc thẩm không thụ lý cũng không phát sinh thi hành án tài sản, nên bà T1 không phải trả khoản tiền 100.000.000 đồng theo lời khai của bị đơn bà T1 là có căn cứ.
Cũng như những phân tích trên và căn cứ Khoản 1 Điều 422 BLDS 2015, hợp đồng dịch vụ pháp lý giữa công ty L và bà Bùi Thị Đoan T1 đã chấm dứt do công việc đã được hoàn thành. Từ những lý lẽ nêu trên, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Chấp nhận việc tuyên bố chấm dứt hợp đồng dịch vụ ngày 02/7/2014 giữa Công ty L và bà Bùi Thị Đoan T1; Không chấp nhận yêu cầu buộc bà Bùi Thị Đoan T1 phải thanh toán cho Công ty L Luật số tiền 150.000.000 đồng.
3
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Xét yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được tòa án thụ lý và xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”. Bị đơn đang cư trú tại quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu bà Bùi Thị Đoan T1 trả số tiền 150.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi; Hội đồng xét xử nhận thấy, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu và hoàn toàn tự nguyện là đúng quy định tại khoản 1, 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự nên chấp nhận.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà T1 có trình bày ý kiến và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về sự tham gia tố tụng của đương sự:
Quá trình giải quyết vụ án, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn ông Lê Văn D xác nhận, ông là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Bùi Thị Đoan T1 trong vụ án “Đòi tài sản” theo Thông báo thụ lý vụ án số 247/2013/TLST-DS ngày 02/8/2013 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú, ông tham gia theo sự phân công của Công ty L và được trả lương theo quy định của công ty, không nhận thù lao theo từng vụ việc. Ông không có ý kiến tranh chấp và yêu cầu gì nên đề nghị Hội đồng xét xử không đưa ông vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Nhận thấy, bị đơn bà T1 cũng không có ý kiến và không tranh chấp đối với ông Lê Văn D người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà trong vụ án “Đòi tài sản” theo Thông báo thụ lý vụ án số 247/2013/TLST-DS ngày 02/8/2013, nên Hội đồng xét xử thấy không cần thiết đưa ông Lê Văn D vào tham gia tố tụng.
[4] Về yêu cầu của đương sự:
Căn cứ Hợp đồng dịch vụ pháp lý ngày 02/7/2014 được ký kết giữa công ty Luật với bà Bùi Thị Đoan T1, theo đó, hai bên thỏa thuận công việc được coi là hoàn thành khi bà T1 (bên B) nhận được tài sản thi hành án, Điều 4 của hợp đồng quy định về Thù lao: Bên B trả cho bên A thù lao trọn gói công việc là 300.000.000 đồng.
Quá trình thực hiện hợp đồng, công ty Luật đã thực hiện công việc thỏa thuận tại Điều 1, Điều 2 của hợp đồng là: cử 01 Luật sư là người đại diện theo ủy quyền để tham gia tố tụng tại Tòa án các cấp trong vụ kiện bà T1 yêu cầu, yêu cầu thi hành án và nhận tài sản theo quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật; Nghiên cứu hồ sơ vụ án...; Bên B đã thanh toán lần 1 số tiền 50.000.000 đồng. Phía bị đơn cũng xác nhận công việc đã hoàn tất, đã nhận được tài sản, bị đơn đã thanh toán 50.000.000 đồng và không có yêu cầu gì trong vụ án này; Hội đồng xét xử nhận thấy, quá trình
4
giải quyết vụ án các bên đã thừa nhận nguyên đơn đã nhận số tiền 50.000.000 đồng là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Xét Hợp đồng ngày 02/7/2014, Công ty Luật yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền còn lại 250.000.000 đồng; Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu bà Bùi Thị Đoan T1 trả số tiền 150.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy, việc thay đổi, rút một phần yêu cầu khởi kiện trên của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện và có lợi cho bị đơn nên căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Xét, nội dung các bên thỏa thuận trong Hợp đồng dịch vụ pháp lý ngày 02/7/2014 cụ thể công việc được coi là hoàn thành khi bà T1 (bên B) nhận được tài sản thi hành án; Căn cứ Biên bản xác nhận giao nhận nhà ngày 02/12/2016 giữa bà Bùi Thị Đoan T1 và bà Nguyễn Thị X, bà T1 đã nhận tài sản là căn nhà số A V, phường T, quận T, TP Hồ Chí Minh; Tại Công văn số 1256/CNTP-ĐK&CGCN ngày 21/02/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố H - Chi nhánh quận T xác nhận bà T1 đã chuyển nhượng căn nhà số A V, phường T, quận T, TP Hồ Chí Minh cho ông Nguyễn Văn N được cập nhật sang tên ngày 15/12/2016. Do đó, có cơ sở xác định nội dung thỏa thuận thực hiện công việc của hợp đồng dịch vụ pháp lý ngày 02/7/2014 (trách nhiệm của nguyên đơn) đã hoàn tất; Bị đơn cho rằng công việc phát sinh tới đâu thì trả tiền tới đó; do vụ án Đòi nhà cho ở nhờ đã kết thúc năm 2016 theo Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 478/2016/QĐST-DS ngày 12/12/2016 của Tòa án nhân dân quận Tân Phú; Mặt khác, sau khi vụ kiện kết thúc bà có gặp luật sư D nhưng không thấy nói gì, bà nghĩ rằng đã hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng nên không thanh toán số tiền còn lại;
Hội đồng xét xử nhận thấy, tại Điều 4 các bên thỏa thuận về Thù lao: Bên B trả cho bên A thù lao trọn gói công việc là 300.000.000 đồng không thỏa thuận cụ thể công việc cho từng lần thanh toán; Hơn nữa tại Điều 5 của hợp đồng quy định về Hiệu lực của hợp đồng: “bên B không được tự ý đơn phương chấm dứt hợp đồng trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng thì phải bồi thường..”; do đó, ý kiến của bà T1 là không có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét. Như nhận định nêu trên thì công việc thỏa thuận trong hợp đồng đã hoàn thành nên bà T1 phải có trách nhiệm thanh toán số tiền còn lại là 250.000.000 đồng cho nguyên đơn; Tuy nhiên công ty Luật chỉ yêu cầu bà T1 thanh toán số tiền 150.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi là có lợi cho bị đơn nên ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải có trách nhiệm thanh toán số tiền 150.000.000 (Một trăm năm mươi triệu) đồng.
Căn cứ thỏa thuận của các bên từ khi hoàn tất công việc thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ pháp lý cho đến nay bị đơn đã vi phạm thời hạn thanh toán; việc kéo dài làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn nên yêu cầu trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận một phần đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú đối với yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải thanh toán số tiền 150.000.000 đồng.
5
Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 91; khoản 2 Điều 2 Điều 244, các điều 227, 228, 264, 266, 267, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào các Điều 278, 422, 513, 514, 519 của Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ vào Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty L đối với số tiền 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng theo Hợp đồng dịch vụ pháp lý ngày 02/7/2014;
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty L Luật tuyên bố chấm dứt Hợp đồng dịch vụ pháp lý ngày 02/7/2014 được ký kết giữa Công ty L và bà Bùi Thị Đoan T1; buộc bà Bùi Thị Đoan T1 phải có trách nhiệm thanh toán số tiền 150.000.000 (Một trăm năm mươi triệu) đồng, trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Bùi Thị Đoan T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 7.500.000 (Bảy triệu, năm trăm ngàn) đồng.
Hoàn trả tiền tạm ứng án phí 6.250.000 (Sáu triệu, hai trăm năm mươi ngàn) đồng cho Công ty L Luật theo biên lai thu số 0020319 ngày 08/02/2018 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn Công ty L Luật được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn bà Bùi Thị Đoan T1 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
6
|
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bùi Thị Hòa |
7
Bản án số 896/2024/DS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng dịch vụ
- Số bản án: 896/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng dịch vụ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng dịch vụ
