Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 896/2024/HS-PT

Ngày: 24 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh

Các Thẩm phán:

Ông Cao Văn Tám

Bà Bùi Thị Thu

- Thư ký phiên tòa: Ông Đàm Lê Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao

tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại phòng xử trực tuyến - trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và Toà án nhân dân tỉnh Bạc Liêu, xét xử trực tuyến phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 596/2024/TLPT-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Lưu Tuyết H do có kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo với Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2024/HS-ST ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 804/2024/QĐXXPT-HS ngày 22 tháng 8 năm 2024.

Bị cáo có kháng cáo: Lưu Tuyết H (tên gọi khác: H1), sinh năm 1987 tại tỉnh Cà Mau;

Nơi cư trú: Số E, đường L, Khóm C, Phường A, thành phố C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Văn H2 (đã chết) và bà Phan Thị Thanh X; chồng: Không, có 03 người con (con nhỏ sinh 08/3/2022); tiền sự, tiền án: Không; Bị tạm giữ từ ngày 11/4/2023 - 19/4/2023; được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/4/2023 đến nay – có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo H: Ông Trần Đức T – Luật sư của Văn phòng L thuộc Đoàn luật sư tỉnh C; có mặt.

(Ngoài ra trong vụ án còn có các bị cáo Quảng Thanh T1, Ngô Đông T2, Lưu Quang T3, và người liên quan không liên quan đến kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

* Hành vi vi phạm của Lưu Quang T3, Lưu Tuyết H:

- Lần thứ nhất: Vào thời gian gần tết Nguyên Đán năm 2023 (không nhớ ngày, tháng cụ thể), Lưu Quang T3 đang ngồi tại quán nước gần chợ B (thuộc quận B, Thành phố Hồ Chí Minh) thì có người đàn ông (không rõ nhân thân) đến thuê T3 vận chuyển ma túy về Cà Mau giao cho người tên H1 sau này mới biết là bị cáo Lưu Tuyết H với tiền công 3.500.000đ, T3 đồng ý. Người này giao cho T3 bọc màu bạc đóng kín và số tiền công 3.500.000đ cùng số điện thoại của H (0946.703.xxx). Buổi chiều cùng ngày, T3 bắt xe khách từ bến xe M đến Cần Thơ và từ Cần Thơ thuê xe của ông Lê Minh H3 đến Cà Mau, T3 nói với ông H3 là đi thăm người yêu (ông H3 là người bị cáo biết trước đây do bị cáo có đến Cần Thơ đi xe ông H3 chở). Khi xe đến đầu hẽm gần chùa M (thuộc Phường A, thành phố C) thì T3 xuống xe, còn ông H3 điều khiển xe về lại Cần Thơ. Tại đây, T3 điện thoại vào số máy 0946.703.xxx thì được người phụ nữ (không nhìn rõ mặt, không rõ nhân thân) đi xe máy đến chở T3 vào hẻm. Đi được một đoạn thì T3 giao ma túy cho người phụ nữ này rồi T3 quay về Thành phố Hồ Chí Minh.

- Lần thứ hai: Trước ngày bị bắt quả tang khoảng một tuần, cũng người đàn ông nêu trên đến thuê T3 vận chuyển ma túy về Cà Mau giao cho H1. Người này giao cho T3 bọc màu bạc đã được đóng kín và số tiền công 3.500.000đ. Cũng như lần trước T3 đến Cần Thơ tiếp tục thuê xe của ông Lê Minh H3 chở xuống Cà Mau cũng nói là thăm người yêu. Khi đến đầu hẻm gần chùa M, T3 điện thoại vào số máy 0946.703.xxx thì có người thanh niên (không rõ nhân thân) đi xe máy đến chở T3 vào hẻm, T3 kêu ông H3 đậu xe ở bên ngoài chờ. T3 cùng người thanh niên này đi vào hẻm được một đoạn thì T3 giao ma túy cho người thanh niên này. Sau đó, T3 ra xe cùng ông H3 về Cần Thơ, rồi về Thành phố Hồ Chí Minh.

- Lần thứ ba (bị bắt quả tang): Vào khoảng 09 giờ 30 ngày 16/02/2023, T3 đang ngồi uống nước tại khu vực chợ B thì người đàn ông nêu trên đến thuê T3 vận chuyển ma túy giao cho H1. Người này giao cho T3 bọc cà phê được đóng kín và số tiền công 3.500.000đ. Cũng như lần trước T3 đến Cần Thơ và thuê xe ông Lê Minh H3 chở xuống Cà Mau cũng nói đi thăm người yêu. Trên đường đi, T3 có lấy ma túy của T3 mua trước đó rủ ông H3 sử dụng (vì T3 thấy trên xe ông H3 có dụng cụ sử dụng ma tuý); bọc ma tuý thì T3 để dưới ghế nơi T3 ngồi (ghế ngang tài xế). T3 nhờ ông H3 khi đến Cà Mau thì điện thoại vào số thuê bao 0946.703.181 kêu ra nhận đồ của của T3, ông H3 đồng ý nên đưa điện thoại cho T3 mượn điện. Ông H3 điều khiển xe đi đến khu vực thuộc Khóm F, phường T, thành phố C thì bị lực lượng Công an yêu cầu dừng phương tiện kiểm tra và bắt quả tang, thu giữ: 02 (hai) bọc nilon màu trắng, bên trong mỗi bọc có chứa 100 viên nén màu tím hình con bướm; 03 (một) bọc nilon màu trắng, bên trong mỗi bọc có chứa tinh thể màu trắng; nhiều đồ vật khác liên quan cho việc sử dụng ma tuý.

Kết luận giám định số 78/KL-KTHS ngày 19/02/2023 của Phòng K Công an tỉnh C, kết luận:

  • + Tinh thể màu trắng bên trong bọc nilon màu trắng thứ nhất, được niêm phong kín trong phong bì hình chữ nhật ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 49,9687 gam, loại Ketamine.
  • + Tinh thể màu trắng bên trong bọc nilon màu trắng thứ hai, được niêm phong kín trong phong bì hình chữ nhật ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 99,7881 gam, loại Methamphetamine.
  • + Tinh thể màu trắng bên trong bọc nilon màu trắng thứ ba, được niêm phong kín trong phong bì hình chữ nhật ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 99,6596 gam, loại Methamphetamine.
  • + 200 viên nén màu tím dạng hình con bướm bên trong bọc nilon màu trắng thứ tư và thứ năm, được niêm phong kín trong phong bì hình chữ nhật ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 63,5342 gam loại MDMA.

Tổng khối lượng các chất ma tuý bị bắt quả tang là 312,9506 gam.

* Hành vi vi phạm của Ngô Đông T2, Quản Thanh T4, Lưu Tuyết H:

- Lần thứ nhất: Thời gian cách ngày T2 bị bắt quả tang khoảng 02 tháng, T2 thuê xe của Nguyễn Lê Nhật T5 đi Thành phố Hồ Chí Minh mua phụ tùng xe. Lúc này H kêu T2 mua ma túy về cho H, T2 đồng ý và đã mua 50gam ma túy đá giá 24.000.000đ của người tên T6; T2 không nhận tiền công.

- Lần thứ hai: Khoảng ngày 15/3/2023, T2 đi Thành phố Hồ Chí Minh mua phụ tùng xe do Nguyễn Lê Nhật T5 chở thì H điện thoại nhờ T2 mua 200gam ma túy đá, T2 đồng ý và điện thoại cho H4. Sau khi thống nhất số lượng và số tiền thì H nhờ T4 chuyển tiền cho T2, T2 hỏi nhờ tài khoản của T5. T4 chuyển vào tài khoản của T5 91.800.000đ và T2 đã nhờ T5 chuyển vào tài khoản của người bán ma tuý nhưng T2 nói là chuyển trả tiền mua phụ tùng xe. Sau đó, H4 mang ma túy giao cho T2 tại đầu đường Quảng lộ P - thuộc tỉnh Sóc Trăng. T2 đem ma túy về Cà Mau giao lại cho H, H trả tiền công cho T2 7.000.000đ.

- Lần thứ 3: Vào ngày 07/4/2023, T2 đến nhà H chơi và cho biết là đi Thành phố Hồ Chí Minh nên H nhờ mua ma túy về cho H. Ngày 08/4, T2 điện thoại cho người tên H4 ở Thành phố Hồ Chí Minh hỏi giá bán ma túy và báo lại cho H. H đồng ý và mua 300gam ma túy đá, 50gam ma túy khây, 200 viên thuốc lắc.

Đến khoảng 13 giờ ngày 09/4/2023, T2 điện thoại cho Nguyễn Lê Nhật T5 đặt xe đi Thành phố Hồ Chí Minh nói là đi mua phụ tùng xe. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, T5 điều khiển xe đến rước, khi đi Triều có mang theo một số phụ tùng xe. Trên đường đi, T2 hỏi H mượn 5.000.000đ và kêu gửi tiền vào số tài khoản của T5 (do T2 đã hỏi nhờ T5), H đồng ý. H đưa tiền và kêu T4 chuyển vào tài khoản của T5. Đến sáng ngày 10/4/2023, T2 và T5 đến Thành phố Hồ Chí Minh, trên đường đi T5 có ghé vào cây ATM bên đường rút 4.500.000đ cho T2. Triều điện thoại cho H4, do không cho nợ nên T2 điện thoại cho H nhưng H không bắt máy. T2 điện thoại cho T4 kêu đến gặp H nói là người bán ma tuý không cho nợ. Triều kêu T5 chở T2 đến đầu hẻm gần ngã tư G và kêu T5 đậu xe chờ còn T2 đi vào hẽm. Triều đến nhà của Ngô Văn T6 (do H4 dẫn đến), sau khi trao đổi số lượng và số tiền phải trả, số tiền còn nợ thì T2 liên lạc được với H. H đồng ý và nhờ T4 nhắn tin cho T2 nội dung: H trả trước 148.000.000đ, còn lại 30.000.000đ nhận được ma tuý thì trả số tiền còn lại. H đưa tiền cho T4 và T4 chuyển số tiền trên vào tài khoản của T5. Nhận được tin của T5 là tài khoản nhận được tiền thì T2 nhắn tin kêu T5 chuyển số tiền trên vào tài khoản do T6 cung cấp. T5 đã chuyển 03 lần: 02 lần mỗi lần 50.000.000đ và 01 lần 48.000.000đ. Nhận được tiền, T6 giao ma tuý cho T2. Triều cầm túi giấy chứa ma túy lên xe và kêu T5 chở về Cà Mau. Thấy có mang theo túi đồ nên T5 hỏi thì T2 trả lời là mua mỹ phẩm cho vợ. Triều ngồi ghế ngang tài xế và để túi ma túy phía dưới ghế ngồi. Đi một đoạn thấy T5 mệt nên T2 kêu Tân nghỉ để T5 láy xe. T5 qua ghế ngang tài nằm nghỉ, khi xe về khỏi trung tâm thị xã N một đoạn thì T5 thấy trong bọc có bọc sửa tắm. T5 lấy bọc sửa tắm ra xem thì phát hiện bọc ni lon màu trắng có viên nén màu hồng, màu xanh. T5 nghi ngờ là ma túy nên nói: “Sao anh lấy mấy đồ này, làm vậy là chết em rồi”. T2 nói: “Ráng giúp anh lần này, lần sau không kêu xe em đi nữa”. T5 yêu cầu T2 mang túi giấy và xuống xe nhưng T2 không đồng ý và tăng ga chạy về Cà Mau. Khi xe về đến đoạn đường Quảng lộ P thì bị bắt quả tang vào lúc 18 giờ 30 phút ngày 10/4/2023, tang vật thu giữ: 03 (ba) bọc nilon màu trắng, bên trong mỗi bọc đều có chứa tinh thể màu trắng; 01 (một) bọc nilon màu trắng có chứa 50 viên nén màu hồng và 01 (một) bọc nilon màu trắng thứ ba có chứa 150 viên nén màu xanh.

Kết luận giám định số 154/KL-KTHS ngày 13/4/2023 của Phòng KTHS - Công an tỉnh C, kết luận:

  • + Tinh thể màu trắng bên trong 02 bọc nilon màu trắng được niêm phong kín trong phong bì hình chữ nhật ký hiệu M2 gửi giám định, có tổng khối lượng là 295,52gam, loại Methamphetamine.
  • + Tinh thể màu trắng bên trong bọc nilon màu trắng thứ nhất được niêm phong kín trong phong bì hình chữ nhật ký hiệu M2 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng là 49,9233gam, loại Ketamine.
  • + 150 (một trăm năm mươi) viên nén màu xanh bên trong bọc nilon màu trắng thứ hai được niêm phong kín trong phong bì hình chữ nhật ký hiệu M2 gửi giám định ma túy, có tổng khối lượng là 78,5286gam, loại Methamphetamine.
  • + 50 (năm mươi) viên nén màu hồng bên trong bọc nilon màu trắng thứ ba được niêm phong kín trong phong bì hình chữ nhật ký hiệu M2 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng là 23,7855gam, loại MDMA và Ketamine.

Tổng khối lượng các chất ma tuý bị bắt quả tang là 447,7574 gam.

Kết quả khám xét nơi ở của Lưu Tuyết H (Khóm C, Phường A, thành phố C) vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 12/4/2023, thu giữ: 03 (ba) bọc nilon màu trắng nhỏ; 03 (ba) đoạn nhựa màu trắng được cắt ngắn, một đầu cắt nhọn; 07 (bảy) bọc nilon màu trắng; 01 (một) ống thủy tinh (nỏ dùng để sử dụng ma túy); 01 (một) ống thủy tinh (nỏ), đầu ống thủy tinh có gắn ống nhựa màu trắng; 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng; 01 (một) hột quẹt gar màu trắng, trên quẹt gas có dãy số 555.

Kết quả kiểm tra thử nước tiểu phát hiện nhanh chất ma túy lúc 18 giờ 30 phút ngày 10/4/2023 đối với Ngô Đông T2, kết quả T2 có sử dụng ma túy loại Methamphetamine.

Kết quả kiểm tra thử nước tiểu phát hiện nhanh chất ma túy lúc 19 giờ 05 phút ngày 10/4/2023 đối với Quảng Thanh T1, kết quả T1 có sử dụng ma túy loại Methamphetamine.

Kết quả kiểm tra thử nước tiểu phát hiện nhanh chất ma túy lúc 19 giờ 30 phút ngày 10/4/2023 đối với Lưu Tuyết H, kết quả H có sử dụng ma túy loại MDMA.

* Đối với Quảng Thanh T1, ngoài việc giúp H 03 lần chuyển tiền cho T2 mua ma tuý thì T1 còn giúp H giao ma tuý bán cho các đối tượng: Bùi Định, Châu Nhật T7, C.

Cáo trạng số 31/CT – VKS – P1 ngày 04 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau truy tố các bị cáo Lưu Tuyết H, Quảng Thanh T1, Ngô Đông T2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Lưu Quang T3 về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” tại điểm h khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự.

- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2024/HS-ST ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau, quyết định:

Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 251, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 39 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lưu Tuyết H;

Tuyên bố: Bị cáo Lưu Tuyết H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

Tuyên phạt: Bị cáo Lưu Tuyết H tù chung thân, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định tội danh và hình phạt đối với các bị cáo Quảng Thanh T1, Ngô Đông T2, Lưu Quang T3, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí, việc thi hành án và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

* Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 13 tháng 6 năm 2024, bị cáo Lưu Tuyết H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

-Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như án sơ thẩm xử là đúng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, nhận tội, hoàn cảnh gia đình khó khăn, đang nuôi con nhỏ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, nhận tội, tuy nhiên số lượng ma túy bị cáo mua bán lớn, phạm tội nhiều lần nên cần giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm. Do bị cáo đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi nên bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung:

Tại cấp sơ thẩm bị cáo Lưu Tuyết H sau khi được bảo lãnh tại ngoại và tại phiên toà bị cáo H không thừa nhận đã thực hiện hành vi mua bán ma tuý như lời khai của các bị cáo T2, T1, T3 và lời khai của bị cáo đã khai nhận tại Cơ quan điều tra.

Tại cấp phúc thẩm bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi 06 lần mua bán chất ma túy như bản cáo số 31/CT – VKS – P1 ngày 04 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau truy tố bị Lưu Tuyết H và Toà sơ thẩm đã xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội;

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy; bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, phạm tội nhiều lần, thực hành tích cực giữ vai trò chính trong vụ án với số lượng ma túy lớn (537,0305 gam MDMA, Methamphetamine và 123,677 gam MDMA và Ketamine). Do đó, cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo với mức hình phạt tù chung thân là phù hợp. Cấp phúc thẩm giữ nguyên hình phạt đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm.

Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và tiếp tục cho bị cáo tại ngoại do đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi.

[3] Đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

[5] Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lưu Tuyết H; Giữ nguyên tội danh và mức hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2024/HSST ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

Xử phạt: Bị cáo Lưu Tuyết H tù chung thân về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án.

2. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án là ngày 24/9/2024./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND tỉnh Cà Mau;
  • - Cục THADS tỉnh Cà Mau;
  • - Công an tỉnh Cà Mau;
  • - Sở tư pháp tỉnh Cà Mau;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS, VP, 186TTLH.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 896/2024/HS-PT ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 896/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger