Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 896/2023/HS-PT

Ngày: 28 - 11 - 2023

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thúy Cầu

Các Thẩm phán: Ông Vũ Đức Toàn

Ông Cao Văn Tám

- Thư ký phiên tòa: Bà Ức Minh Thanh Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 640/2023/TLPT- HS ngày 25-8-2023 đối với bị cáo Lê Trần Phước T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2023/HSST ngày 17-7-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

Bị cáo có kháng cáo:

Lê Trần Phước T, sinh năm 1995 tại tỉnh Đồng Tháp; Giới tính: Nam; nơi thường trú: Ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; số CCCD: [...], cấp ngày 16-11-2022. Nơi cấp: Cục C2 về TTXH - Bộ C3; trình độ học vấn: 11/12; nghề nghiệp: Không; con ông Lê Phước T1, sinh năm 1964 và bà Trần Kim T2, sinh năm 1963; chưa có vợ; gia đình có 06 người con, bị cáo là con thứ 6 trong gia đình.

Nhân thân: Từ nhỏ đi học, sống chung gia đình. Tháng 9/2013, nhập ngũ thi hành nghĩa vụ quân sự đến tháng 01/2015 xuất ngũ cho đến ngày phạm tội và ra đầu thú; tiền án: Không; tiền sự: 01 lần về hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác, bị xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng. Chấp hành xong ngày 24/02/2023; tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2023 đến nay (có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa theo chỉ định cho Lê Trần Phước T: Luật sư Đinh Yến N thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).

- Bị hại: Nguyễn Phú C, sinh năm 1988 (đã chết)

Người đại diện hợp pháp cho người bị hại: Anh Trần Phước N1, sinh năm 1993. Trú tại: Ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Trần Kim T2, sinh năm 1963. Nơi cư trú: Số A, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, (có mặt);
  2. Lê Trần Phước T3, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Số A, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
  3. Đàm Duy K, sinh năm 1989. Nơi cư trú: Ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
  4. Nguyễn Thanh C1, sinh năm 1977. Nơi cư trú: Ấp T, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 05/01/2023, sau khi uống rượu Lê Trần Phước T nhớ lại chuyện ông Trần Hoàng H đánh T bị gãy tay trước đó nên nảy sinh ý định tìm ông H để đâm trả thù.

Lê Trần Phước T về nhà lấy 01 con dao Thái Lan cán màu vàng, lưỡi màu trắng, phần lưỡi có mũi nhọn dài 20cm kẹp ở baga giữa xe mô tô nhãn hiệu Havico, biển số 66P1-16461 rồi điều khiển từ nhà của mình đến nhà trọ Ú thuộc số 214 ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp để tìm ông H. Do T nhiều lần chạy ngang nhà trọ Út S thấy ông H thường ngồi ở ghế dài bằng gỗ phía trước khu nhà trọ, T đậu xe mô tô ngoài đường rồi cầm dao đi bộ vào trong khu nhà trọ nhìn thấy một người thanh niên là bị hại Nguyễn Phú C đang ngồi trên ghế gỗ trước lối vào khu nhà trọ cúi xuống xem điện thoại, do trời tối và trong người đang có rượu nên T nghĩ đó là ông H nên T tiến đến không nói gì mà cầm dao trên tay phải đâm thẳng vào trước ngực trái ông C, ông C giật mình phản ứng lại bằng cách dùng tay đẩy T ra, T dùng dao đâm thêm nhiều cái vào tay, người của ông C, ông C đẩy T ra làm Thịnh té xuống đất, ông C la lên “nó chém tôi, nó chém tôi” rồi chạy vào phòng nhà trọ lấy cây búa chạy ra được khoảng 03 mét thì ngã gục xuống đường phía trước dãy phòng trọ tử vong tại chỗ.

Sau khi đâm ông C, T đi ra ngoài đường lấy xe mô tô chạy đi trên đường ném bỏ con dao xuống cặp lề đường rồi về nhà ngủ. Đến sáng ngày 06/01/2023 T biết người bị đâm tối hôm qua không phải ông H mà là người bị hại Nguyễn Phú C nên đến Công an xã L, huyện L tự thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 65/KL-KTHS ngày 16/01/2023 của phòng K2 Công an tỉnh Đ kết luận: Nguyễn Phú C bị đa thương tích do vật sắc nhọn tác động, trong đó vết thương vùng ngực gây thủng tim, thủng gan mất máu cấp dẫn đến tử vong.

Tại bản kết luận giám định số: 932/KL-KTHS ngày 07 tháng 03 năm 2023 của Phân viện khoa học hình sự Bộ C3 kết luận: Trên con dao gửi giám định có dính máu người. Phân tích thấy lẫn nguồn ADN, trong đó xác định được một kiểu gen nam giới trùng với kiểu gen của bị hại Nguyễn Phú C.

Kết quả khám nghiệm hiện trường vụ án tại khu vực nhà trọ của ông Lê Văn S1, địa chỉ số B, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Nhà trọ gồm 4 phòng liền kề nhau, mỗi phòng có kích thước bằng nhau, dài 04m, rộng 3,5m, có kết cấu vách tường, mái tôl, nền lót gạch tàu. Qua khám nghiệm hiện trường thu giữ: 01 cây búa, 02 chiếc dép, 03 hộp quẹt, dấu vết máu.

Xem xét dấu vết trên thân thể Lê Trần Phước T:

  • Vùng cánh tay phải có 02 vết sẹo mở kết hợp xương cũ đã lành tốt:
    • + Vết thứ nhất dọc theo cánh tay dài 09cm, rộng nhất 01cm.
    • + Vết thứ hai mặt sau dọc theo cánh tay phải dài 14cm, rộng nhất 06cm.
  • Hai bàn tay không phát hiện thương tích.
  • Vùng mặt trước trong 1/3 trên cẳng chân trái, có mảng tróc thượng bì mới không liên tục hướng từ dưới lên trên, có màu đỏ hồng xen lẫn thượng bì tróc màu trắng, KT: dài nhất 13cm, rộng nhất 03cm.

Thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu gồm.

  • 01 cây búa; 02 chiếc dép; 03 hộp quẹt tại hiện trường.
  • 01 (Một) xe mô tô màu xanh, biển số 66P1-16461 xe không có yên sau, không có gương chiếu hậu, số khung: 02KV200427, số máy: FMG- 200427 (đã qua sử dụng).
  • 01 (Một) áo sơ mi tay dài sọc đỏ đen; 01 quần sọt jean màu xám đen; 01 (Một) nón bảo hiểm vàng đen;
  • 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh đen (đã qua sử dụng).
  • 01 con dao Thái Lan, cán màu vàng, lưỡi bằng kim loại màu trắng, phần lưỡi bị cong, lưỡi dao có dính dấu vết màu nâu đỏ, dài 20cm, đây là dao gây án thu được qua công tác truy tìm theo lời khai của T (Bút lục số 107).

Kết quả điều tra xác định chiếc xe mô tô biển số 66P1-1646 do ông Lê Trần Phước T3 là anh ruột của Thịnh mua lại từ người khác nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Làm việc Đàm Duy K1 là người đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe xác định đã bán cho người khác hiện nay không còn sở hữu. Ông T3 cho T mượn xe mô tô nói trên chạy hàng ngày kéo dàn loa âm thanh cho thuê. Ngày 05/01/2023 T sử dụng xe này để gây án ông T3 hoàn toàn không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành trao trả chiếc xe mô tô màu xanh, biển số 66P1-1646 cho ông Lê Trần Phước T3 nhận lại xong.

Trách nhiệm dân sự:

Sau khi sự việc xảy ra đại diện hợp pháp của người bị hại là Trần Phước N1 vợ của Nguyễn Phú C yêu cầu Lê Trần Phước T bồi thường số tiền mai táng phí 20.000.000 đồng. Tiền tổn thất tinh thần 100 tháng lương cơ sở tương đương số tiền 149.000.000 đồng và cấp dưỡng cho 02 người con của bị hại là Nguyễn Hoàng T4, sinh năm 2013 và Nguyễn Thị Cẩm T5, sinh năm 2015 đến năm đủ 18 tuổi theo quy định pháp luật.

Lê Trần Phước T tác động gia đình bà Trần Kim T2 (mẹ T) đã tự nguyện bồi thường số tiền mai táng phí 20.000.000 đồng. T đồng ý bồi thường khoản tiền tổn thất tinh thần cho bị hại với số tiền 149.000.000 đồng và cấp dưỡng cho 02 người con của bị hại Cần đến năm đủ 18 tuổi theo quy định pháp luật.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 16/2023/HS-ST ngày 17-7-2023, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Trần Phước T phạm tội “Giết người” .

Căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, r và s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Trần Phước T 18 (mười tám) năm tù. Thời hạn tù của bị cáo được tính từ ngày 06-01-2023.

Ngoài ra, bản án còn tuyên trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo, bị hại.

Ngày 23-7-2023, bị cáo Lê Trần Phước T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà phúc thẩm:

Bị cáo Lê Trần Phước T và Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, vì bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến, như sau: Hành vi của bị cáo giết ông C là người già rất dã man nên Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt Lê Trần Phước T 18 năm tù về tội “Giết người” là phù hợp. Bị cáo không xuất trình được chứng cứ mới tại cấp phúc thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

[1] Đơn kháng cáo của Lê Trần Phước T được làm trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ trước đó khi ông Trần Hoàng H đánh Lê Trần Phước T bị gãy tay nên bị cáo nảy sinh ý định tìm ông H để trả thù. Sau khi uống rượu, bị cáo Lê Trần Phước T nhầm ông H là ông C nên đã dùng 01 dao Thái Lan đâm ông Nguyễn Phú C. Tại bản kết luận giám định pháp y số 65/KL-KTHS ngày 16/01/2023 của phòng K2 Công an tỉnh Đ kết luận: Nguyễn Phú C bị đa thương tích do vật sắc nhọn tác động, trong đó vết thương vùng ngực gây thủng tim, thủng gan mất máu cấp dẫn đến tử vong.

Bị cáo Lê Trần Phước T nhận thức, điều khiển được hành vi của mình nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Trần Phước T phạm tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng khi vô cớ dùng hung khí nguy hiểm đâm người khác. Điều đó, thể hiện tính côn đồ, coi thường tính mạng người khác. Hành vi của bị cáo đã tước đoạt tính mạng của người bị hại là ông C, người được pháp luật bảo vệ. Đồng thời, ảnh hưởng đến tình hình trật tự, an ninh xã hội tại địa phương, gây tâm lý hoang mang cho người dân sinh sống tại khu vực. Cần thiết xét xử thật nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và nhằm răn đe, phòng ngừa chung. Về nhân thân, bị cáo T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình hoàn cảnh khó khăn, đã bồi thường một phần cho người đại diện hợp pháp của người bị hại quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là đúng. Ngoài ra, sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại áp dụng tình tiết giảm nhẹ tự thú là không chính xác, cần rút kinh nghiệm. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo tác động gia đình khắc phục thêm số tiền 10.000.000 đồng, số tiền này sẽ được xem xét tại giai đoạn Thi hành án. Nhiều người dân địa phương xác nhận bị cáo trước khi phạm tội đã cứu giúp người bị té ngã xuống kênh, rạch là tình tiết giảm nhẹ. Tuy nhiên, việc bị cáo cố ý đâm nhiều nhát vào đầu, ngực của ông C là hành vi dã man nên mức án 18 năm tù đối với bị cáo T là phù hợp. Do đó, Hội đồng xét thấy không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Trần Phước T. Chấp nhận quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Án phí hình sự phúc thẩm:

Bị cáo Lê Trần Phước T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, khoản 2 Điều 21, khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Trần Phước T. Giữ nguyên Bản án

hình sự sơ thẩm số 16/2023/HS-ST ngày 17-7-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp. Tuyên xử:

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Lê Trần Phước T 18 (mười tám) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù của bị cáo được tính từ ngày 06-01-2023. Tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Trần Phước T để đảm bảo Thi hành án.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày thời hạn hết kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.

  1. Về án phí hình sự phúc thẩm:

Bị cáo Lê Trần Phước T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. (28 - 11 - 2023)/.

CÁC THẨM PHÁN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Vũ Đức Toàn Lê Thúy Cầu
Cao Văn Tám  

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thúy Cầu

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - Trại tạm giam CA Đồng Tháp;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Tháp;
  • - Cục THADS tỉnh Đồng Tháp;
  • - Lưu: VP, HS (UMTT)
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 896/2023/HS-PT ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự - giết người

  • Số bản án: 896/2023/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự - Giết người
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger