TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 895/2024/HS-PT Ngày: 23-9-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khương
Các Thẩm phán: Ông Dương Tuấn Vinh
Bà Nguyễn Thị Cúc
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thanh Bình - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 656/2024/TLPT- HS ngày 22 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo Võ Chí T, Đặng Thành S, Trần Quốc T1, Hồ Thế H và Nguyễn Thị Thu T2.
Do có kháng cáo của các bị cáo Võ Chí T, Đặng Thành S, Trần Quốc T1, Hồ Thế H và Nguyễn Thị Thu T2 đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số: 37/HS-ST ngày 18-6-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
Các bị cáo có kháng cáo:
1. Võ Chí T, sinh năm 1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ĐKNKTT: 143/5, đường G, khu phố F, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện tại: phòng số 105, chung cư Đ, số D, đường T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Thành Q và bà Nguyễn Thanh H1; sống chung như vợ chồng với Lê Ngọc Thảo M, sinh năm 1996 và có 01 con chung; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 30/12/2012 bị công an phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” đã nộp phạt năm 2012; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/01/2023, chuyển tạm giam từ ngày 12/01/2023 cho đến nay (có mặt).
2. Đặng Thành S, sinh năm 1985 tại tỉnh Tây Ninh; nơi ĐKNKTT: ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; chỗ ở hiện nay: ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn T3 và bà Phan Thị N; có vợ Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm 1986 và 01 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 06/01/2004 bị Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh xử phạt 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” đã chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 11/6/2005; ngày 15/6/2012 bị Toà án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm tính từ ngày tuyên án về tội “Đánh bạc”, ngày 15/6/2012 đã chấp hành xong toàn bộ bản án đã được xoá án tích; ngày 08/4/2019 bị Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh xử phạt 30.000.000 đồng về hành vi “Vận chuyển hàng hóa nhập lậu”, đã nộp phạt ngày 09/4/2019; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/01/2023, chuyển tạm giam từ ngày 13/01/2023 cho đến nay (có mặt).
3. Hồ Thế H (Mỹ), sinh năm 1981 tại tỉnh Tây Ninh; nơi ĐKNKTT: ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; chỗ ở hiện tại: ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn T4 và bà Dương Thị D; có vợ Dương Thị H3, sinh năm 1980 và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/01/2023, chuyển tạm giam từ ngày 13/01/2023 cho đến nay (có mặt).
4. Trần Quốc T1, sinh năm 1997 tại tỉnh An Giang; nơi ĐKNKTT: ấp B, xã B, huyện P, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện tại: số C, đường H, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Hoà Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Ứ và bà Nguyễn Thị T5; vợ, con: không có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/01/2023, chuyển tạm giam từ ngày 12/01/2023 cho đến nay (có mặt).
5. Nguyễn Thị Thu T2, sinh năm 1997 tại tỉnh Bến Tre; nơi ĐKNKTT: ấp L, xã V, huyện U, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở hiện tại: phòng số 105, chung cư Đ, số D, đường T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trung T6 và bà Phan Thị Bích T7; có chồng Đỗ Văn C, sinh năm 1988 và 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/01/2023, chuyển tạm giam từ ngày 12/01/2023 cho đến nay (có mặt).
- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Võ Chí T và bị cáo Đặng Thành S: Luật sư Nguyễn Năng Q1, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt);
- Người bào chữa cho bị cáo Hồ Thế H và bị cáo Trần Quốc T1: Luật sư Nguyễn Văn Đ thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt);
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Thu T2: Luật sư Kim Cẩm T8 và Luật sư Vương Việt T9 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt);
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Nguyễn Thanh S1, sinh năm 1982; Nơi cư trú tại: khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 11 giờ 10 phút ngày 03/01/2023, trên đường Q thuộc khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh T phối hợp cùng các đơn vị nghiệp vụ tiến hành kiểm tra xe ôtô biển số 51G-373.12 do Nguyễn Thanh S1, sinh năm 1982, ngụ khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh điều khiển, phát hiện Võ Chí T ngồi tại ghế sau xe ô tô đang cất giấu 18 khối hình chữ nhật, bên trong mỗi khối hình chữ nhật có bịch nylon chứa chất bột màu trắng (nghi là chất ma túy) và 01 bịch nylon có chứa 100 viên pháo bị nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng có liên quan.
Lúc 15 giờ 30 phút cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Võ Chí T và Nguyễn Thị Thu T2 (sống như vợ chồng với T) tại phòng số 105 chung cư Đ, số D, đường T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (sau đây viết tắt là phòng số 105); thu giữ: 02 khối hình chữ nhật, bên trong mỗi khối hình chữ nhật có bịch nylon chứa chất bột màu trắng; 01 khẩu súng màu đen, trên thân súng có chữ ZORAKI M906-TD và 06 viên đạn; 01 hộp pháo dạng pháo hoa nổ, phía ngoài có dây ngòi châm màu xanh cùng một số vật chứng khác.
Lúc 16 giờ 50 phút cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi Võ Chí T thuê tại phòng số 10 thuộc nhà số B, tổ B, khu phố F, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (sau đây viết tắt là phòng số 10); thu giữ: 30 khối hình chữ nhật, bên trong mỗi khối hình chữ nhật có bịch nylon chứa chất bột màu trắng; 01 hộp giấy màu đen, bên trong có 01 bịch nylon màu trắng hàn kín chứa tinh thể rắn màu trắng; 01 bịch nylon màu xanh phía trên có chữ “Comfort 1 lần xả”, bên trong có 01 bịch nylon màu trắng hàn kín chứa tinh thể rắn màu trắng; 01 bịch nylon màu vàng nâu phía trên có chữ “Comfort H4 Nước Hoa Thiên Nhiên”, bên trong có 01 bịch nylon màu trắng hàn kín chứa tinh thể rắn màu trắng; 01 bịch nylon màu trắng phía trên có chữ “Comfort Cho da Nhạy Cảm”, bên trong có 01 bịch nylon màu trắng hàn kín chứa tinh thể rắn màu trắng cùng một số vật chứng khác.
Tiến hành mở rộng điều tra, Cơ quan điều tra bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Đặng Thành S, Hồ Thế H, Nguyễn Thị Thu T2. Đồng thời, bắt giữ và khám xét khẩn cấp đối với Trần Quốc T1, thu giữ: 02 viên nén màu tím được đựng trong 01 bịch nylon màu trắng hàn kín ba đầu, một đầu bóp miệng; 01 bịch nylon màu trắng hàn kín một đầu, một đầu bóp miệng có viền màu đỏ, bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng và một số vật chứng khác.
Vào lúc 13 giờ ngày 02/02/2023, anh Nguyễn Vũ L là quản lý chung cư Đ, số D, đường T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, tiến hành dọn vệ sinh phòng số 105 (do Thu T2 thuê để ở cùng với T) phát hiện trong vách tủ phía trên nhà vệ sinh có 10 khối hình chữ nhật, bên trong mỗi khối hình chữ nhật có bịch nylon chứa chất bột màu trắng (nghi là chất ma túy) nên thông báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đến thu giữ.
* Kết luận giám định số 32/KL-KTHS ngày 13/01/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận:
- Mẫu chất bột màu trắng (kí hiệu M) bên trong bịch nylon màu trắng của 18 khối hình chữ nhật là chất ma túy; Loại Heroin; Khối lượng 6328,1598 gam.
- Mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu M2) bên trong bịch nylon màu trắng của 02 khối hình chữ nhật là chất ma túy; Loại Heroin; Khối lượng 701,6157 gam.
- Mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu M3) bên trong bịch nylon màu trắng của 30 khối hình chữ nhật là chất ma túy; Loại Heroin; Khối lượng 10509,8655 gam.
- Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M4.1) bên trong 01 bịch nylon màu trắng hàn kín là chất ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng 657,8865 gam.
- Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M4.2) bên trong 01 bịch nylon màu trắng hàn kín là chất ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng 940,2560 gam.
- Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M4.3) bên trong 01 bịch nylon màu trắng hàn kín là chất ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng 987,4966 gam.
- Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M4.4) bên trong 01 bịch nylon màu trắng hàn kín là chất ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng 898,3686 gam.
- Mẫu 02 viên nén màu tím (kí hiệu M5) bên trong 01 bịch nylon màu trắng được hàn kín ba đầu, một đầu bóp miệng là chất ma túy; Loại MDMA; Khối lượng 0,4095 gam.
- Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M6) bên trong 01 bịch nylon màu trắng hàn kín, có một đầu bóp miệng có viền màu đỏ là chất ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng 0,3940 gam.
* Kết luận giám định số 216/KL-KTHS ngày 17/02/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu chất bột màu trắng (kí hiệu M) bên trong 10 khối hình chữ nhật là chất ma túy; Loại Heroin; Khối lượng 3499,1250 gam.
* Kết luận giám định số 2025/KL-KTHS ngày 21/3/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:
- Khẩu súng gửi giám định là súng công cụ hỗ trợ bắn loại đạn cỡ (9x22)mm do Thổ Nhĩ K sản xuất, không phải vũ khí quân dụng;
- 06 viên đạn gửi giám định là loại đạn công cụ hỗ trợ (đạn cao su) cỡ (9x22)mm, không phải đạn quân dụng. Bắn thực nghiệm với 03/06 viên đạn gửi giám định, kết quả đạn nổ.
* Kết luận giám định số 2027/KL-KTHS ngày 21/3/2023 và Công văn số 11/CV-C09B ngày 12/12/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Mẫu vật ký hiệu P gửi giám định là pháo nổ, khi đốt phát ra tiếng nổ, khối lượng là 1,6 kg; Mẫu vật ký hiệu P1 gửi giám định là pháo hoa nổ, khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu, khối lượng là 0,4 kg.
Kết quả điều tra thể hiện: Vào năm 2022, Võ Chí T đi làm thuê cho các công ty chơi game đánh bạc trực tuyến tại Vương quốc Campuchia nên quen với người phụ nữ tên T2 (thường gọi là Thảo C1, không rõ địa chỉ) đang sinh sống bên Campuchia. Khoảng đầu tháng 12/2022, Thảo C1 thuê T vận chuyển ma túy từ khu vực biên giới huyện B, tỉnh Tây Ninh đến Thành phố Hồ Chí Minh để giao lại cho người khác với số tiền công là 300 USD (Đô la Mỹ)/kg ma túy thì T đồng ý. Thảo C1 giới thiệu cho T quen biết với Lê Văn D1 (tên thường gọi là X) để nhận ma túy do D1 vận chuyển từ Campuchia vào khu vực biên giới thuộc huyện B, tỉnh Tây Ninh, giao lại cho T.
Cùng thời gian trên, D1 đến gặp Đặng Thành S và thuê S vận chuyển hàng cấm nhập lậu từ Campuchia vào Việt Nam, đến khu vực biên giới thuộc huyện B, tỉnh Tây Ninh, sẽ có người nhận, tiền công trả theo số lượng hàng nhập lậu thì S đồng ý. Sau đó, D1 rủ S đi đến quán K2 thuộc xã L, huyện Đ, tỉnh Long An, gặp T; tại quán D1 nói cho T biết S là người giao ma túy cho T ở khu vực biên giới thuộc huyện B, tỉnh Tây Ninh.
Do D1 và S không trực tiếp vận chuyển hàng cấm từ Campuchia vào Việt Nam được nên S nói cho D1 biết là Hồ Thế H đang làm ruộng lúa giáp với đường biên giới Việt Nam - Campuchia, H có thể vận chuyển hàng cấm từ Campuchia vào Việt Nam thuận lợi hơn; D1 và S có quen biết với H nên cả hai đến gặp H tại chòi ruộng của H tại ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh, để thuê H vận chuyển hàng cấm nhập lậu từ Campuchia vào Việt Nam, tiền công do S trực tiếp trả thì H đồng ý. Sau đó, D1 và S, H thống nhất cách thức vận chuyển hàng cấm như sau: H có quen với người phụ nữ khoảng 60 tuổi đang sinh sống và làm ruộng lúa bên đất Campuchia giáp đường biên giới Việt Nam - Campuchia (gần ruộng lúa của H), H gọi người này là Dì 2 (sau đây gọi tắt là Dì 2); H nói Dì 2 nhận hàng cấm từ D1 giao rồi vận chuyển qua đường biên giới Việt Nam - Campuchia cất giấu ở khu vực ruộng của H, H sẽ đến lấy hàng cấm đem đi giao lại cho S. D1 trực tiếp trả tiền công vận chuyển hàng cấm cho D2 2 và S, sau khi nhận được tiền công thì S sẽ chia tiền lại cho H theo số lượng hàng cấm nhập lậu.
Sau khi bàn bạc và thống nhất về cách thức vận chuyển hàng cấm, D1 cùng T, S, H thực hiện 02 lần vận chuyển pháo nhập lậu và 03 lần vận chuyển trái phép chất ma túy từ Campuchia vào Việt Nam; cụ thể:
- Đối với 02 lần mà S, H vận chuyển pháo nhập lậu và giao lại cho D1:
+ Lần thứ nhất: Khoảng đầu tháng 12/2022, D2 2 đem 01 bịch nylon màu đen bên trong có hộp dạng hình chữ nhật để ở ruộng của H và điện thoại báo cho H biết, sau đó H đến lấy hàng và điện thoại kêu S đến bờ kênh (cách chốt Long An khoảng 01 km) để nhận hàng. Sau khi nhận hàng do H đưa, S đem về nhà tại chợ L1 thuộc ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh và điện thoại kêu D1 đến lấy hàng, D1 trả tiền công cho S 8.000.000 đồng; S chia cho H 3.000.000 đồng, S hưởng lợi 5.000.000 đồng.
+ Lần thứ hai: Vào ngày 10/12/2022, tương tự như lần thứ nhất, Dì 2 giao cho H 02 bịch nylon màu đen bên trong có hộp dạng hình chữ nhật, H giao lại cho S đem đi đưa cho D1 và được D1 trả tiền công là 3.000.000 đồng; S chia cho H 1.500.000 đồng, S hưởng lợi 1.500.000 đồng.
- Đối với 03 lần mà D1, S, H vận chuyển trái phép chất ma túy và giao lại cho T:
+ Lần thứ nhất:
Vào ngày 27/12/2022, với cách thức nêu trên, D1 và H, S điện thoại liên lạc với nhau để vận chuyển 02 bịch nylon màu đen chứa chất ma túy từ Campuchia vào Việt Nam giao cho T tiếp tục vận chuyển đến Thành phố Hồ Chí Minh cất giấu tại phòng số A, T kiểm tra bên trong 02 bịch nylon màu đen là 02 thùng carton có chứa chất ma túy bên trong nhưng không rõ khối lượng. Sau khi đã giao cho người khác một phần chất ma túy trong tổng khối lượng đã nhận theo yêu cầu của Thảo C1 thì số ma túy còn lại bị Công an thu giữ, gồm: Chất ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 3484,0077 gam. Lần này, D1 trả tiền công cho S 6.000.000 đồng, S chia cho H 2.000.000 đồng, S hưởng lợi 4.000.000 đồng.
+ Lần thứ hai:
Trong khoảng thời gian từ 22 giờ ngày 29/12/2022 đến sáng ngày 30/12/2022, D1 và H, S điện thoại liên lạc với nhau để vận chuyển 01 bịch nylon màu đen chứa chất ma túy từ Campuchia vào Việt Nam giao cho T tiếp tục vận chuyển đến Thành phố Hồ Chí Minh cất giấu tại phòng số 10 và phòng số 105, T kiểm tra bên trong có 02 túi xách chứa chất ma túy nhưng không rõ khối lượng. Sau khi đã giao cho người khác một phần chất ma túy trong tổng khối lượng đã nhận theo yêu cầu của Thảo C1 thì số ma túy còn lại bị Công an thu giữ, gồm: Chất ma túy loại Heroine, khối lượng 14710,6062 gam.
Lần này, D1 trả tiền công cho S 7.000.000 đồng, S chia cho H 3.000.000 đồng, S hưởng lợi 4.000.000 đồng. Riêng T được Thảo C1 trả trước số tiền công là 50.000.000 đồng do một người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) đến đưa tiền mặt cho T tại khu vực quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
+ Lần thứ ba:
Khoảng 17 giờ ngày 02/01/2023, D1 sử dụng tài khoản Zalo tên “Bất Cần” và số điện thoại 0913.960.xxx liên lạc vào tài khoản Zalo tên “Nhã P” và số điện thoại 0976.765.xxx của S nói sáng ngày 03/01/2023 có ma túy từ Campuchia về, D1 kêu S vận chuyển ma túy giao cho T, S sử dụng số điện thoại 0976.765.xxx điện vào số điện thoại 0982.326.xxx của H thông báo cho H biết để nhận hàng. Khoảng 08 giờ ngày 03/01/2023, sau khi H nhận 01 bịch nylon màu đen đựng 01 thùng carton bên trong chứa chất ma túy do Dì 2 giao, H được S liên lạc hẹn đến khu vực miếu B thuộc xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh, để giao nhận. S điều khiển xe tay ga màu xanh (không biển số), H điều khiển xe môtô biển số 70T1-2104 đến điểm hẹn, H giao cho S 01 bịch nylon màu đen bên trong chứa ma túy, S đem về nhà tại chợ L1 thuộc ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh, để chờ T đến nhận.
Cùng thời gian này, Thảo C1 sử dụng ứng dụng Telegram tên “bà C1” liên lạc với T qua T10 tên “Cục C2” kêu T đến khu vực Cửa khẩu quốc tế M2 thuộc huyện B, tỉnh Tây Ninh, để nhận ma túy đem về Thành phố Hồ Chí Minh, T đồng ý và đặt xe taxi qua ứng dụng G được tài xế Nguyễn Thanh S1 điều khiển xe ôtô biển số 51G-373.12 đến đón T tại chung cư Đ, số D, đường T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh chở đến huyện B, tỉnh Tây Ninh theo hướng dẫn của T. Trên đường đi, T sử dụng tài khoản Zalo tên “Chí Thanh” liên lạc với S qua tài khoản Zalo tên “Nhã Phương” và được S chỉ đường đến nhà S ở khu vực chợ L1 để nhận ma túy. Khi đến nơi, T xuống xe và gặp S đứng trước cửa nhà, S chỉ 01 bịch nylon màu đen có chứa ma túy đang để trên xe tay ga đang dựng trước nhà cho T tự đến lấy và đem ra để ở sàn xe phía sau ghế bên phải tài xế; sau đó T xin S 01 bịch pháo nổ để sử dụng nên S vào trong nhà lấy đưa cho T. Khi nhận được pháo thì T đem ra để vào ngăn chứa đồ phía sau ghế bên phải xe ôtô rồi kêu anh S1 điều khiển xe chạy về Thành phố Hồ Chí Minh. Khi anh S1 điều khiển xe chở T đến khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, thì bị bắt quả tang.
- Về hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy của Trần Quốc T1 và Nguyễn Thị Thu T2:
+ Đối với Trần Quốc T1:
Từ ngày 27/12/2022 đến ngày 03/01/2023, Trần Quốc T1 được T thuê đem chất ma túy đi giao cho người khác trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh với số tiền công 1.000.000 đồng/01 kg ma túy tổng hợp, 2.000.000 đồng/01 bánh ma túy loại Heroine, T1 đã đem đi giao cho T được khoảng 04 kg ma túy tổng hợp và 06 bánh ma túy loại Heroine cho người đàn ông tên V (không rõ địa chỉ) sử dụng số điện thoại 0924.115.xxx, người nam (không rõ họ tên) sử dụng số điện thoại 0792.037.xxx, người tên T11 (không rõ địa chỉ) sử dụng số điện thoại 0896.735.xxx, người nam (không rõ họ tên) sử dụng số điện thoại 0388.618.xxx và người phụ nữ tên M1. T1 được T trả tiền công 12.000.000 đồng vào số tài khoản ngân hàng của bạn T1 là Trương Hùng T12, sinh năm 2002, ngụ ấp L, xã L, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
Ngoài ra, T12 còn cất giấu 02 viên thuốc lắc là chất ma túy loại MDMA, khối lượng là 0,4095 gam do người bạn của T12 (không rõ họ tên, địa chỉ) cho và 01 bịch nylon có chứa chất ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,3940 gam do T cho T12 để sử dụng.
+ Đối với Nguyễn Thị Thu T2:
Khoảng đầu tháng 12/2022 đến khi bị bắt, T2 thuê Phòng số 105 để sống chung với Võ Chí T như vợ chồng, T2 biết rõ T có hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy từ khu vực biên giới thuộc huyện B, tỉnh Tây Ninh đến Thành phố Hồ Chí Minh cất giấu tại nơi ở là phòng số 105 (do T2 thuê) và kho cất giấu ma túy tại phòng số 10 (do T thuê). Khối lượng các chất ma túy mà T vận chuyển từ Tây Ninh đến Thành phố Hồ Chí Minh vào các ngày 27, 30/12/2022 được T2 cùng T cất giấu tại phòng số 105 và phòng số A, T2 mua túi xách để cho T bỏ ma túy vào đem đi giao cho người khác. Trong thời gian này, T2 không có nghề nghiệp, mọi chi phí sinh hoạt hàng ngày và trả tiền thuê phòng đều do T trả; đồng thời, T2 được T cho số tiền 50.000.000 đồng mua xe mô tô loại Honda SH biển số 59P3-184.54.
Trong quá trình điều tra, Võ Chí T và Đặng Thành S, Hồ Thế H, Trần Quốc T1, Nguyễn Thị Thu T2 thành khẩn khai báo.
* Việc thu giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng: Có bản kê kèm theo.
* Cơ quan điều tra đã tiến hành phong tỏa tài khoản của các bị can, gồm:
+ Võ Chí T: Tài khoản số 7383785577 có số dư là 60.156.511 đồng, tài khoản số 8101347777 có số dư là 261.939.339 đồng vào ngày 11/11/2023 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần K3 - Chi nhánh T14;
+ Nguyễn Thị Thu T2: Tài khoản số 0782779186 có số dư là 187.491.789 đồng vào ngày 01/11/2023 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q2 - Chi nhánh T14;
+ Đặng Thành S: Tài khoản số [...] có số dư là 30.041.629 đồng vào ngày 06/11/2023 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần S2 - Chi nhánh T14;
Riêng các bị can Hồ Thế H, Trần Quốc T1 không có tài sản riêng có giá trị nên không kê biên.
* Đối với bị can Lê Văn D1: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã bỏ trốn, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã ra Quyết định tách vụ án và truy nã đối với D1, khi nào bắt được sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
- Đối với 02 lần vận chuyển pháo nhập lậu của Đặng Thành S và Hồ Thế H, hiện chỉ có lời khai của các bị can và không thu giữ được vật chứng nên không đủ cơ sở xử lý hình sự.
- Đối với tài xế Nguyễn Thanh S1 chở Võ Chí T đi đến huyện B, tỉnh Tây Ninh vào ngày 03/01/2023, S1 không biết việc T đi nhận chất ma túy nên không xử lý trách nhiệm liên quan.
- Đối với các ông Lê Văn T13, Nguyễn Vũ L cho Võ Chí T, Nguyễn Thị Thu T2 thuê phòng số 10 và phòng 105 để ở, những người này không biết T, T2 sử dụng chỗ ở để cất giấu chất ma túy nên không đề cập trách nhiệm hình sự.
- Đối với người phụ nữ tên T2 (thường gọi là Thảo C1) mà Võ Chí T khai đã thuê T vận chuyển trái phép chất ma túy, người phụ nữ thường gọi là Dì 2 mà Hồ Thế H khai giao chất ma túy cho H; hiện không xác định được họ tên, địa chỉ và chưa làm việc được. Cơ quan điều tra đang tiếp tục làm rõ để xử lý theo pháp luật.
- Đối với những người mà Võ Chí T và Trần Quốc T1 khai nhận đã giao ma túy theo yêu cầu của Thảo C1, gồm: Người đàn ông tên V sử dụng số điện thoại 0924.115.xxx, người nam sử dụng số điện thoại 0792.037.xxx, người tên T11 sử dụng số điện thoại 0896.735.xxx, người nam sử dụng số điện thoại 0388.618.xxx và người phụ nữ tên M1. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh và tra cứu thông tin chủ các thuê bao di động nêu trên, hiện các chủ các thuê bao này đã bỏ địa phương đi không rõ đang ở đâu nên không tiến hành làm việc được. Cơ quan điều tra đang tiếp tục làm rõ để xử lý sau.
- Đối với Trương Hùng T12 là chủ tài khoản số [...] mà Trần Quốc T1 khai đã cho mượn để nhận số tiền 12.000.000 đồng do Võ Chí T chuyển khoản vào để trả tiền công cho Quốc T1; hiện Hùng T12 đã bỏ địa phương đi nên không tiến hành làm việc được. Cơ quan điều tra đang tiếp tục làm rõ để xử lý sau.
- Đối với những người đứng tên chủ tài khoản ngân hàng mà các bị can có giao dịch chuyển tiền; qua xác minh thể hiện: Một số người làm dịch vụ chuyển tiền, có người vắng mặt tại địa phương nên chưa làm việc được hoặc có làm việc được nhưng không chứng minh được những người này biết hoặc liên quan đến hành vi phạm tội của các bị can nên không đủ cơ sở xử lý.
* Cơ quan điều tra đã chuyển vụ việc vi phạm hành chính cùng vật chứng liên quan đến Công an tỉnh T để xử lý theo thẩm quyền đối với: Võ Chí T về hành vi tàng trữ trái phép 01 khẩu súng và 06 viên đạn là công cụ hỗ trợ; Võ Chí T, Đặng Thành S về hành vi tàng trữ trái phép 1,6 kg pháo nổ và 0,4 kg pháo hoa nổ; Trần Quốc T1 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 37/2024/HS-ST ngày 18-6-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, đã tuyên xử:
Tuyên bố các bị cáo Võ Chí T, Đặng Thành S, Hồ Thế H (tên gọi khác Mỹ), Nguyễn Thị Thu T2 phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”.
Tuyên bố bị cáo Trần Quốc T1 phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 40 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Chí T tử hình. Tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án.
- Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 250; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 40 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Thành S tử hình. Tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án.
- Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 250; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 40 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Thế H (tên gọi khác Mỹ) tử hình. Tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án.
- Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 40 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Quốc T1 - tử hình về tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Quốc T1 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Trần Quốc T1 phải chấp hành chung cả 02 tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”, “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là tử hình; Tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án.
- Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 250; điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 39 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu T2 tù chung thân. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 06/01/2023.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo.
Ngày 27 tháng 6 năm 2024, bị cáo Võ Chí T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 27 tháng 6 năm 2024, bị cáo Đặng Thành S kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 26 tháng 6 năm 2024, bị cáo Hồ Thế H kháng cáo kêu oan.
Ngày 27 tháng 6 năm 2024, bị cáo Trần Quốc T1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 24 tháng 6 năm 2024, bị cáo Nguyễn Thị Thu T2 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các bị cáo Võ Chí T, Đặng Thành S, Trần Quốc T1 và Nguyễn Thị Thu T2 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Riêng bị cáo Hồ Thế H kháng cáo kêu oan.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị: Các bị cáo Võ Chí T, Đặng Thành S, Trần Quốc T1, Hồ Thế H và Nguyễn Thị Thu T2 là đồng phạm với nhau, các bị cáo vận chuyển khối lượng ma túy rất lớn, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét hết các tình tiết giảm nhẹ, xử phạt tử hình đối với các bị cáo Võ Chí T, Đặng Thành S, Trần Quốc T1, Hồ Thế H là phù hợp. Các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ nhưng không có tình tiết giảm nhẹ nào mới. Riêng bị cáo Nguyễn Thị Thu T2 là đồng phạm giúp sức, tuy tại phiên tòa cấp phúc thẩm bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” nhưng mức hình phạt tù chung thân Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt đối với bị cáo T2 là không nặng.
Nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo Võ Chí T: Bị cáo T có hoàn cảnh khó khăn nên chỉ vận chuyển ma túy để lấy tiền công, đa phần ma túy bị cáo vận chuyển đã bị thu giữ, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo từ tử hình xuống chung thân.
Người bào chữa cho bị cáo Đặng Thành S: Bị cáo S cũng là người được thuê vận chuyển ma túy, có hoàn cảnh khó khăn, đa phần ma túy bị cáo tham gia vận chuyển đã bị thu giữ, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo từ tử hình xuống chung thân.
Người bào chữa cho bị cáo Hồ Thế H: Do bị cáo chỉ được thuê vận chuyển hàng cấm, mà không biết những gói hàng bị cáo tham gia vận chuyển là ma túy, nên bị cáo chỉ phạm tội vận chuyển hàng cấm mà không phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy. Do đó luật sư đề nghị Hội đồng xét xử chuyển sang tội vận chuyển hàng cấm để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Quốc T1: Số lượng ma túy bị cáo tham gia vận chuyển thuê chỉ hơn 04 kg là khối lượng ma túy ít hơn nhiều so với các đồng phạm trong vụ án, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo từ tử hình xuống chung thân.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Thu T2: Bị cáo sống phụ thuộc vào sự chu cấp của bị cáo T nên bị cáo đã có hành vi giúp sức cho bị cáo T. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đây là tình tiết giảm nhẹ mới nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo từ chung thân xuống tù có thời hạn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
* Về tố tụng:
[1]. Đơn kháng cáo của các bị cáo Võ Chí T, Đặng Thành S, Trần Quốc T1, Hồ Thế H và Nguyễn Thị Thu T2 là trong hạn luật định nên được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
* Về nội dung:
[2]. Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Võ Chí T, Đặng Thành S, Trần Quốc T1 và Nguyễn Thị Thu T2 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm đã kết luận.
[3]. Riêng bị cáo Hồ Thế H thừa nhận có thực hiện hành vi tham gia vận chuyển ma túy, nhưng bị cáo cho rằng bị cáo chỉ được thuê vận chuyển hàng cấm, mà không biết những gói hàng bị cáo tham gia vận chuyển là ma túy, nên bị cáo không kêu oan nữa mà xin giảm nhẹ hình phạt.
[4]. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo Võ Chí T, Đặng Thành S, Trần Quốc T1 và Nguyễn Thị Thu T2 là phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng là ma túy thu giữ được. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố các bị cáo Võ Chí T, Đặng Thành S và Nguyễn Thị Thu T2 phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”; Tuyên bố bị cáo Trần Quốc T1 phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là có căn cứ, đúng người đúng tội, đúng pháp luật.
[5]. Xét bị cáo Hồ Thế H thừa nhận đã thực hiện 05 lần vận chuyển hàng giao cho bị cáo Đặng Thành S, bị cáo cho rằng bị cáo chỉ được thuê vận chuyển hàng cấm mà không biết những gói hàng bị cáo tham gia vận chuyển là ma túy. Hội đồng xét xử xét thấy: Khi nhận lời vận chuyển “hàng cấm” giao cho bị cáo S, bị cáo H nhận thức rõ đó là hàng quốc cấm. Khi tiếp nhận gói “hàng cấm” đầu tiên bị cáo không kiểm tra bên trong là hàng gì trước khi vận chuyển mà bỏ mặc, nên thực tế trong 05 lần bị cáo tham gia vận chuyển là ma túy thì bị cáo phải chịu trách nhiệm về tội vận chuyển ma túy. Như vậy, bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra, nên bị cáo H phải chịu trách nhiệm chung với đồng phạm Đặng Thành S về tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Đặng Thành S phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý” là có căn cứ, đúng người đúng tội, không xét xử oan sai đối với bị cáo.
[6]. Xét, hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và gia tăng một số tội phạm khác, gây mất trật tự an toàn xã hội. Khối lượng ma túy các bị cáo đã vận chuyển là đặc biệt lớn nên cần áp dụng mức án nghiêm minh đối với các bị cáo mới đảm bảo tính giáo dục, phòng ngừa, răn đe và cảnh tỉnh cho toàn xã hội.
[7]. Đây là vụ án phạm tội có tổ chức, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có sự bàn bạc, phân công công, cấu kết chặt chẽ, thống nhất sử dụng nhiều ký hiệu, mật khẩu riêng biệt để liên lạc với nhau, nên cần phân tích vai trò của từng bị cáo để cá thể hóa hình phạt, như sau:
- Đối với Võ Chí T và Đặng Thành S là người chủ mưu, cầm đầu giữ vai trò chính trong vụ án, các bị cáo đã vận chuyển khối lượng ma túy 24.523.1677 gam. Trong đó bị cáo Võ Chí T đã hưởng lợi 50.000.000 đồng; Đặng Thành S hưởng lợi 13.500.000 đồng;
- Đối với bị cáo Hồ Thế H là đồng phạm thực hành rất tích cực, bị cáo đã tiếp nhận khối lượng ma túy 24.523.1677 gam của một đối tượng “Dì 2” mang từ biên giới Campuchia vào Việt Nam cho bị cáo, sau đó bị cáo nhận và giao lại cho bị cáo S để được hưởng lợi 10.500.000 đồng;
- Đối với bị cáo Trần Quốc T1 cũng là đồng phạm thực hành, là người giữ vai trò điểm cuối trong đường dây vận chuyển ma tuý này. Bị cáo đã vận chuyển giúp cho bị cáo Võ Chí T 04 kg ma túy tổng hợp và 06 bánh Heroine để được hưởng lợi 12.000.000 đồng. Ngoài ra, bị cáo còn có hành vi cất giấu chất ma túy khối lượng là 0,4095 gam và Methamphetamine, khối lượng 0,3940 gam để sử dụng.
- Đối với bị cáo Nguyễn Thị Thu T2 là đồng phạm giúp sức cho bị cáo Võ Chí T cất giấu ma tuý khối lượng ma tuý 18.1946,6139 gam được thu giữ tại phòng số 10 và phòng 105. Xét tính chất của hành vi và vai trò của bị cáo T2 là ít nguy hiểm hơn các đồng phạm khác trong vụ án.
[8]. Riêng đối với bị cáo Nguyễn Thị Thu T2 tham gia giúp sức cho bị cáo T vận chuyển khối lượng lớn ma tuý. Lẽ ra cũng cần áp dụng mức hình phạt tử hình đối với bị cáo, nhưng do bị cáo là phụ nữ, đồng phạm giúp sức có vai trò thấp nhất trong vụ án nên Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt tù chung thân đối với bị cáo về tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý” là đã rất khoan hồng.
[9]. Tại cấp phúc thẩm bị cáo T có thêm tình tiết giảm nhẹ gia đình có công với cách mạng (bà cố của bị cáo là Bà mẹ Việt Nam anh hùng; ông nội được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Pháp; bà nội được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ), đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo T2 cũng có thêm tình tiết giảm nhẹ mới “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, nhưng mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo T tử hình, bị cáo T2 tù chung thân là phù hợp, không nặng.
[10]. Xét tính chất của hành vi và khối lượng ma túy các bị cáo thực hiện hành vi vận chuyển là đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội có tổ chức, phạm tội 02 lần trở lên. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt cao nhất là tử hình đối với các bị cáo: Võ Chí T, Đặng Thành S, và Hồ Thế H về tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý” và xử phạt bị cáo Trần Quốc T1 tử hình về tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý” và 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, loại bỏ vĩnh viễn các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội là có căn cứ.
[11]. Do đó, kháng cáo xin giảm nhẹ của các bị cáo Võ Chí T, Đặng Thành S, Hồ Thế H, Trần Quốc T1 và Nguyễn Thị Thu T2 không được hội đồng xét xử chấp nhận.
[12]. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ chấp nhận.
[13]. Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo Võ Chí T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo từ tử hình xuống tù chung thân là không có căn cứ chấp nhận.
[14]. Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo Đặng Thành S đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo từ tử hình xuống tù chung thân là không có căn cứ chấp nhận.
[15]. Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo Hồ Thế H cho rằng bị cáo chỉ là người được thuê vận chuyển hàng cấm, mà không biết những gói hàng bị cáo tham gia vận chuyển là ma túy, nên bị cáo chỉ phạm tội vận chuyển hàng cấm mà không phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy, là không có căn cứ chấp nhận. Bởi lẽ, như mục [5] nêu trên đã nhận định: Khi nhận lời vận chuyển “hàng cấm” giao cho bị cáo S, bị cáo H nhận thức rõ đó là hàng quốc cấm. Khi tiếp nhận gói “hàng cấm” đầu tiên bị cáo không kiểm tra bên trong là hàng gì trước khi vận chuyển mà bỏ mặc, nên thực tế trong 05 lần bị cáo tham gia vận chuyển là ma túy thì bị cáo phải chịu trách nhiệm về tội vận chuyển ma túy. Nên luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chuyển tội danh nhẹ hơn và giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là không có căn cứ chấp nhận.
[16]. Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo Trần Quốc T1 cho rằng số lượng ma túy bị cáo tham gia vận chuyển thuê chỉ 04 kg ma túy là không có căn cứ. Tài liệu chứng cứ và lời khai nhận của bị cáo thể hiện bị cáo tham gia vận chuyển khối lượng 04kg ma túy tổng hợp và 06 bánh heroine. Nên luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo từ tử hình xuống tù chung thân là không có căn cứ chấp nhận.
[17]. Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Thu T2 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo từ tù chung thân xuống tù có thời hạn là không có căn cứ chấp nhận.
[18]. Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo xin giảm nhẹ không được chấp nhận nên các bị cáo Võ Chí T, Đặng Thành S, Hồ Thế H, Trần Quốc T1 và Nguyễn Thị Thu T2 phải chịu.
[19]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không có kháng nghị, có hiệu lực pháp luật pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Võ Chí T, Đặng Thành S, Hồ Thế H, Trần Quốc T1 và Nguyễn Thị Thu T2.
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 37/HS-ST ngày 18-6-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
Tuyên bố các bị cáo Võ Chí T, Đặng Thành S, Hồ Thế H (tên gọi khác Mỹ), Nguyễn Thị Thu T2 phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”.
Tuyên bố bị cáo Trần Quốc T1 phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
1. Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 40 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Chí T tử hình về tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”. Tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án.
2. Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 250; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 40 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Thành S tử hình về tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”. Tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án.
3. Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 250; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 40 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Thế H (tên gọi khác Mỹ) tử hình về tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”. Tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án.
4. Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 40 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Quốc T1 tử hình về tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”.
5. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 55 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Quốc T1 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Trần Quốc T1 phải chấp hành chung cả 02 tội nêu trên là tử hình. Tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án.
6. Áp dụng điểm h khoản 4 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 39 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu T2 tù chung thân. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 06/01/2023.
7. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Võ Chí T phải chịu 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng); Bị cáo Đặng Thành S phải chịu 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng); Bị cáo Hồ Thế H phải chịu 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng); Bị cáo Trần Quốc T1 phải chịu 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng); Bị cáo Nguyễn Thị Thu T2 phải chịu 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng).
8. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày tuyên án phúc thẩm, các bị cáo Võ Chí T, Đặng Thành S, Hồ Thế H và Trần Quốc T1 được gửi đơn xin ân giảm hình phạt tử hình lên Chủ tịch nước.
9. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không có kháng nghị, có hiệu lực pháp luật pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
10. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận: - TANDTC; - VKSNDCC tại TP.HCM; - TAND tỉnh Tây Ninh; - Cục THADS tỉnh Tây Ninh; - Công an tỉnh Tây Ninh; - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh; - Trại tạm giam – CA tỉnh Tây Ninh; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: HS, VT, ĐTTB (33b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Khương |
Bản án số 895/2024/HS-PT ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vận chuyển trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 895/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Chí T cđp phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma tuý” theo điểm h khoản 4 Điều 250 BLHS 2015.
