|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 894/2024/HNGĐ-ST Ngày: 25/6/2024 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Hồng Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Kim Liên.
- Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phùng Thị Ngọc D - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 1514/2023/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 234/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phạm Lê Hoàng Thảo M, sinh năm 1997. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Thường trú: 43/5 ấp Đ, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Nguyễn Phồn Đ, sinh năm 1987. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Thường trú: 1/15E ấp H, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Hiện đang chấp hành án phạt tù tại phân trại số 1, Trại giam X, Cục C, Bộ C1)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản hòa giải, nguyên đơn bà Phạm Lê Hoàng Thảo M trình bày:
Sau một thời gian tìm hiểu, bà Phạm Lê Hoàng Thảo M và ông Nguyễn Phồn Đ đã tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới và tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 242, quyển số 02/2015 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 22/10/2015.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với gia đình chồng tại xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian chung sống với nhau không hạnh phúc, từ năm 2015 thì bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không cùng chung suy nghĩ, bất đồng quan điểm, thường xuyên gây gỗ, cãi vã, đôi khi có bạo lực gia đình. Hiện ông Đ đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam X về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” từ năm 2019 đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng đã trở nên lạnh nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn yêu thương, tôn trọng nhau, không thể hàn gắn trở về chung sống với nhau được. Do đó, bà M yêu cầu được ly hôn với ông Đ.
Về con chung: Trong thời gian chung sống, bà M và ông Đ có 02 con chung tên Nguyễn Nhã Lý Â, sinh ngày 22/8/2015 và Nguyễn Vũ Tuệ L, sinh ngày 28/02/2017. Sau ly hôn bà M yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ L, trẻ Tuệ L và không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Theo biên bản lấy lời khai ngày 17/5/2024 bị đơn ông Nguyễn Phồn Đ trình bày:
Ông Đ và bà M có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Đ đồng ý ly hôn với bà M nếu bà M vẫn tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung.
Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Nhã Lý Â, sinh ngày 22/8/2015 và Nguyễn Vũ Tuệ L, sinh ngày 28/02/2017. Nếu bà M cương quyết ly hôn thì ông Đ đề nghị bà M tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung cho đến khi ông Đ chấp hành án xong do ông Đ hiện vẫn còn trong trại giam không nuôi dưỡng con chung được, về cấp dưỡng thì ông Đ không có khả năng do đang chấp hành án.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã xác định đúng tư cách của người tham gia tố tụng, thu thập đầy đủ chứng cứ đúng quy định. Tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử áp dụng, tuân thủ đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Căn cứ các Điều 19, 55, 56 và 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Quan hệ tranh chấp giữa nguyên đơn bà Phạm Lê Hoàng Thảo M với bị đơn ông Nguyễn Phồn Đ là “Tranh chấp về ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án là Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Phạm Lê Hoàng Thảo M và bị đơn ông Nguyễn Phồn Đ có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Lê Hoàng Thảo M và ông Nguyễn Phồn Đ tự nguyện tìm hiểu và tiến đến hôn nhân. Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 242, quyển số 02/2015 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 22/10/2015 thì đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Phạm Lê Hoàng Thảo M và ông Nguyễn Phồn Đ là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
[4] Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Phạm Lê Hoàng Thảo M.
Quá trình giải quyết vụ án, bà Phạm Lê Hoàng Thảo M xin được ly hôn với ông Nguyễn Phồn Đ do vợ chồng không cùng chung suy nghĩ, bất đồng quan điểm, thường xuyên gây gỗ, cãi vã, đôi khi có bạo lực gia đình. Hiện ông Đ đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam X về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” từ năm 2019 đến nay. Ông Đ đồng ý ly hôn với bà M nếu bà M vẫn tiếp tục nuôi dưỡng hai con chung.
Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.”
Áp dụng điều luật được viện dẫn nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy bà M và ông Đ đã ly thân từ năm 2019 đến nay do ông Đ đang chấp hành án tại Trại giam X, thời hạn chấp hành án là 10 năm 6 tháng tù. Thời gian còn chung sống với nhau, vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, thường xuyên gây gỗ, cãi vã. Trong thời gian sống ly thân, bà M nhận thấy tình cảm vợ chồng đã trở nên lạnh nhạt, vợ chồng không còn yêu thương, tôn trọng nhau, không thể hàn gắn trở về chung sống với nhau được. Ngoài ra, ông Đ cũng đồng ý ly hôn với bà M nếu bà M vẫn tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Từ đó cho thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà M và ông Đ đang ở trong tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà M và ông Đ là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về con chung: Trong quá trình sống chung, bà Phạm Lê Hoàng Thảo M và ông Nguyễn Phồn Đ có 02 con chung tên Nguyễn Nhã Lý Â, sinh ngày 22/8/2015 và Nguyễn Vũ Tuệ L, sinh ngày 28/02/2017. Đối với yêu cầu xin được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Lý Â và trẻ Tuệ Lâm của bà M và ông Đ yêu cầu bà M trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Lý Â và trẻ T do ông Đ đang chấp hành án. Hội đồng xét xử xét thấy bà M hiện đang trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Lý Â và trẻ T, cả hai trẻ đều có nguyện vọng được sống cùng với bà M nếu cha mẹ ly hôn.
Hội đồng xét xử xét thấy để ổn định tâm sinh lý và phù hợp nguyện vọng của trẻ. Căn cứ các Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử quyết định giao trẻ Nguyễn Nhã Lý Â và trẻ Nguyễn Vũ Tuệ L cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chung chưa đặt ra xem xét cho đến khi bà M có đơn yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung: Ghi nhận lời trình bày của bà M và ông Đ không có tài sản chung và nợ chung.
[4] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 264, Điều 266 và Điều 267 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 19, 55, 58, 69, 71, 72, 81, 82, 83, 84, 110, 116 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014;
- Căn cứ nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Lê Hoàng Thảo M.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Phạm Lê Hoàng Thảo M và ông Nguyễn Phồn Đ.
1.2. Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Nhã Lý Â, sinh ngày 22/8/2015 và Nguyễn Vũ Tuệ L, sinh ngày 28/02/2017. Giao trẻ Nguyễn Nhã Lý Â và trẻ Nguyễn Vũ Tuệ L cho bà Phạm Lê Hoàng Thảo M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trẻ Lý Â, trẻ T lần lượt trưởng thành đủ 18 tuổi.
Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với ông Nguyễn Phồn Đ cho đến khi bà Phạm Lê Hoàng Thảo M có đơn yêu cầu.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84, khoản 2 Điều 116 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc quyết định mức cấp dưỡng nuôi con.
1.3. Về tài sản chung: Ghi nhận lời trình bày của các đương sự là không có tài sản chung.
1.4. Về nợ chung: Ghi nhận lời trình bày của các đương sự là không có nợ chung.
[2] Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Phạm Lê Hoàng Thảo M phải chịu là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2023/0008275 ngày 26 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Phạm Lê Hoàng Thảo M đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
[3] Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
[4] Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trịnh Hồng Hải |
Bản án số 894/2024/HNGĐ-ST ngày 25/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 894/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Lê Hoàng Thảo M. Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Phạm Lê Hoàng Thảo M và ông Nguyễn Phồn Đ.
