|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 894/2024/HS-PT Ngày: 23 - 9 - 2024 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đắc Minh
Các Thẩm phán: Ông Dương Anh Văn
Ông Trần Ngọc Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Tiếu Phương Quyền, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hạnh, Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa trực tuyến xét xử công khai vụ án hình sự xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 437/2024/TLPT-HS ngày 22/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 891/2024/QĐXXPT-HS ngày 04/9/2024 đối với các bị cáo Từ Thị B, Trần Thị H. Do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 33/2024/HS-ST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
Phiên tòa được tiến hành tại 02 điểm cầu, điểm cầu trung tâm là Phòng xử án của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; điểm cầu thành phần là Phòng xử án của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
Tại điểm cầu trung tâm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đắc Minh
Các Thẩm phán: Ông Dương Anh Văn
Ông Trần Ngọc Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Tiếu Phương Quyền, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hạnh, Kiểm sát viên.
Tại điểm cầu thành phần gồm có:
- Các bị cáo kháng cáo:
- Từ Thị B, sinh năm 1968 tại Cà Mau; nơi cư trú: Ấp H, xã N, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm vuông; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Từ Văn K (đã chết) và bà Phạm Thị X (đã chết); chồng tên Trần Út X1 và có 04 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giam từ ngày 22/11/2023 đến nay (có mặt).
- Trần Thị H, sinh năm 1986 tại Cà Mau; nơi cư trú: Ấp H, xã N, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Út X1 và bà Từ Thị B (là bị cáo trong cùng vụ án); chồng tên Tô Văn T1 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giam từ ngày 22/11/2023 đến nay (có mặt).
- Người bào chữa cho các bị cáo: Luật sư Nguyễn Ngọc H2, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).
Địa chỉ: Văn phòng L8, số E V, phường S, quận L, Thành phố Hà Nội.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Út X1 (chồng bị cáo B), sinh năm 1969 (có mặt).
- Ông Tô Văn T1 (chồng bị cáo H), sinh năm 1979 (vắng mặt).
Cùng nơi cư trú: Ấp H, xã N, huyện Đ.
(Trong vụ án còn có các bị hại không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập đến phiên tòa.)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2004, Từ Thị B bắt đầu mở và làm chủ hụi các dây hụi loại 15 ngày, hụi 30 ngày, các dây hụi này đã mãn. Đến năm 2019, B tiếp tục mở thêm 09 dây hụi, loại hụi 500.000 đồng (đ)/15 ngày, hụi 1.000.000đ/15 ngày và 01 tháng, hụi 2.000.000đ/tháng cho nhiều hụi viên tham gia để hưởng hoa hồng. Hoa hồng hưởng như sau (hụi 500.000đ, tiền hoa hồng 400.000đ/01 chân hốt; hụi 1.000.000đ, tiền hoa hồng 600.000đ/01 chân hốt; hụi 2.000.000đ, tiền hoa hồng 1.200.000đ/01 chân hốt). Do B không biết chạy xe nên Trần Thị H (con ruột B) thường xuyên chở B đi gom hụi, dần dần H biết cách làm hụi và cùng B đứng ra tổ chức các dây hụi. Trong đó: B làm chủ riêng 05 dây hụi (Dây 1, hụi mở ngày 20/3/2019 (15/02/2019 âl); Dây 2, hụi mở ngày 08/02/2020 (15/01/2020 âl); Dây 4, hụi mở ngày 04/8/2020 (15/6/2020 âl); Dây 7, hụi mở ngày 09/7/2021 (30/5/2021 âl); Dây 9, hụi mở ngày 01/5/2022 (30/4/2022 âl); B và H cùng làm chủ 04 dây hụi (Dây 3, hụi mở ngày 23/5/2020 (15/4/2020 âl); Dây 5, hụi mở ngày 16/10/2020 (ngày 30/8/2020 âl); Dây 6, hụi mở ngày 11/4/2021 (ngày 30/02/2021 âl); Dây 8, hụi mở ngày 19/11/2021 (ngày 15/10/2021 âl), B giao Hên theo dõi, quản lý 04 dây hụi này, cho H lấy tiền hoa hồng nhưng khi bỏ thăm, hốt hụi, bán hụi thì cả 02 đều biết rõ. Đến tháng 7/2022, B và H tuyên bố đình hụi do mất cân đối về tài chính và không còn khả năng chi trả tiền hụi cho các hụi viên, còn 08/09 dây hụi chưa mãn.
Mục đích chiếm đoạt tiền của các hụi viên B, H dùng vào việc đóng hụi chết cho các dây hụi cả 02 tham gia, đóng hụi chết cho các hụi viên đã hốt hụi trước đó nhưng bỏ đi khỏi địa phương và chi xài cá nhân riêng (dùng vào việc nuôi tôm công nghiệp nhưng thua lỗ - đã xác minh). Với thủ đoạn lợi dụng hụi viên tin tưởng, không đi bỏ thăm hụi định kỳ đầy đủ và không có giấy theo dõi hụi, B và H tự ý lấy tên của các hụi viên để hốt 27 chân hụi và bán khống 10 chân hụi, chiếm đoạt số tiền 910.192.000đ. Trong đó: Bảy chiếm đoạt 675.417.000₫ (tự ý hốt 20 chân hụi, chiếm đoạt 526.197.000đ, bán khống 06 chân hụi, chiếm đoạt 149.220.000₫); Hên chiếm đoạt 234.775.000đ (tự ý hốt 07 chân hụi, chiếm đoạt 161.520.000đ, bán khống 04 chân hụi, chiếm đoạt 73.255.000đ), cụ thể như sau:
1.1/. Dây hụi do Từ Thị B làm chủ, B chiếm đoạt ở dây 1 và 2, số tiền 426.715.000đ; còn dây 4, 7 và 9 không chiếm đoạt:
- + Dây hụi số 1: Mở ngày 20/3/2019 (ngày 15/02/2019 âl), loại hụi 1.000.000đ/tháng, tổng số 43 chân, (có 30 hụi viên tham gia, Bảy tham gia 01 chân, đã hốt ở kỳ thứ nhất). Dây hụi khui được 40 kỳ, còn 03 kỳ chưa khui thì đình hụi, hụi viên hốt 32 kỳ. Bảy tự ý hốt 08 chân hụi, chiếm đoạt số tiền 249.400.000đ, gồm:
- Tại kỳ hụi thứ 7 và 11, B tự ý lấy tên hụi viên Nguyễn Thị L (tên hụi “T2, C, H3”) và hụi viên Nguyễn Bé R (tên hụi “Riêng, L1, Chế 2"), bỏ thăm thấp nhất 325.000đ, cao nhất 360.000đ, hốt hụi chiếm đoạt số tiền 59.630.000đ.
- Tại các kỳ hụi thứ 16, 17 và 18, B tự ý lấy tên hụi viên Dương Thị Bích T3 (tên hụi “Dì 7, T4, K1”), hụi viên tên Lâm Văn T5 (tên hụi là “C”), hụi viên Nguyễn Thị L (tên hụi “T2, C, H3”), bỏ thăm thấp nhất là thăm 360.000đ và cao nhất là 375.000đ, hốt chiếm đoạt số tiền 92.850.000đ.
- Tại kỳ hụi thứ 20, 24 và 29, B tự ý lấy tên hụi viên Nguyễn Thị H4 (tên hụi “H2”), hụi viên Lê Hồng D, tên hụi “Dì 2 Giáo” và hụi viên Nguyễn Thị L (tên hụi “Hổ”) bỏ thăm thấp nhất là 350.000đ, cao nhất là 415.000đ, hốt hụi chiếm đoạt số tiền 96.920.000đ.
- * Trong dây hụi này có 10 hụi viên tham gia 11 chân hụi còn sống, số tiền thực đóng là 257.455.000đ chưa được hốt, cụ thể:
- Nguyễn Thị H4 (tên hụi “H2”): 01 chân, thực đóng 23.405.000đ.
- Võ Út G (tên hụi “Út Gái”): 01 chân, thực đóng 23.405.000đ.
- Huỳnh Thị X2 (tên hụi “Mợ 3”): 01 chân, thực đóng 23.405.000đ.
- Lê Thị T6 (tên hụi “Trung Thúy”): 01 chân, thực đóng 23.405.000đ.
- Đặng Mỹ T7 (tên hụi “Mợ 10”): 01 chân, thực đóng 23.405.000đ.
- Hứa Kim T8 (tên hụi “Thuyền Gạo”): 01 chân, thực đóng 23.405.000₫.
- Hồng Kim C1 (tên hụi “Hoàng A”): 01 chân, thực đóng 23.405.000đ.
- Võ Hồng C2 (tên hụi “Dượng 3"): 01 chân, thực đóng 23.405.000₫
- Lê Hồng Q1 (tên hụi “Dì 2 Giáo”): 01 chân, thực đóng 23.405.000đ.
- Nguyễn Thị L (tên hụi “Thúy, H3"): 02 chân, thực đóng 23.405.000đ.
- + Dây hụi số 2: Mở ngày 08/02/2020 (ngày 15/01/2020 âl), loại hụi 1.000.000đ/tháng, tổng số 46 chân (có 33 hụi viên tham gia, Bảy tham gia 01 chân, đã hốt ở kỳ thứ nhất). Dây hụi khui được 29 kỳ, còn 17 kỳ chưa khui thì đình hụi, hụi viên hốt 27 chân. Bảy tự ý hốt 02 chân hụi của hụi viên và bán 04 chân hụi khống, chiếm đoạt số tiền 177.315.000đ, cụ thể:
- Tại kỳ hụi thứ 3, ngày 07/4/2020 (ngày 15/3/2020 âl), B tự ý lấy tên hụi viên Nguyễn Thị L (tên hụi “Mận”) bỏ thăm 365.000đ, hốt hụi chiếm đoạt số tiền 28.940.000₫.
- Tại kỳ hụi thứ 5, ngày 06/6/2020 (ngày 15/4/2020 âl), B tự ý lấy tên hụi viên Võ Hồng C2 (tên hụi “10 Lăn”), bỏ thăm 415.000đ, hốt hụi chiếm đoạt số tiền 27.155.000đ.
- * Ngoài ra, bị can B thực hiện hành vi bán 04 chân hụi khống, chiếm đoạt số tiền 121.420.000đ, cụ thể:
- Kỳ 1: Ngày 22/01/2020 âl, B bán 02 chân hụi khống cho bà Lê Bích N, chiếm đoạt số tiền 58.800.000đ, B trả tiền lãi cho bà N là 23.730.000₫.
- Kỳ 4: Ngày 25/4/2020 âl, B bán 01 chân hụi khống cho bà Lê Bích N, chiếm đoạt số tiền 29.400.000đ, B trả tiền lãi cho bà N là 10.775.000đ.
- Kỳ 7: Ngày 15/7/2020 âl, B bán 01 chân hụi khống cho bà Thiều Thị H5, chiếm đoạt số tiền 33.220.000đ, B trả tiền lãi cho bà H5 là 9.350.000đ.
- * Trong dây hụi này có 17 hụi viên tham gia 19 chân hụi còn sống, số tiền thực đóng là 319.865.000đ chưa được hốt, cụ thể:
- Trần Hoàng S (tên hụi “Nhanh Sinh”): 01 chân, thực đóng 16.835.000đ.
- Tô Minh T9 (tên hụi “Cậu 6 Thuận”): 02 chân, thực đóng 33.670.000đ.
- Lê Bích N (tên hụi “Vợ T9”): 01 chân, thực đóng 16.835.000đ.
- Tạ Thanh T10 (tên hụi “T11, L2, C3, G1"): 01 chân, thực đóng 16.835.000đ.
- Tô Việt T12 (tên hụi “Út Thùy”): 01 chân, thực đóng 16.835.000đ.
- Võ Út G (tên hụi “Út Gái”): 01 chân, thực đóng 16.835.000đ.
- Trần Thúy H6 (tên hụi “Nói”): 01 chân, thực đóng 16.835.000đ.
- Cao Thị T13 (tên hụi “Út Khởi”): 01 chân, thực đóng 16.835.000đ.
- Tô Thị Đ (tên hụi “Út Đẹp”): 01 chân, thực đóng 16.835.000đ.
- Tô Thu N1 (tên hụi “Vũ Lâm”): 01 chân, thực đóng 16.835.000đ.
- Nguyễn Hồng T14 (tên hụi “Khanh, Hoàng B1”): 02 chân, thực đóng 33.670.000₫.
- Trần Thị H7 (tên hụi “6 H2”): 01 chân, thực đóng 16.835.000đ.
- Hồng Kim N2 (tên hụi “Ngọt”): 01 chân, thực đóng 16.835.000đ.
- Võ Hồng C2 (tên hụi “10 Lăn”): 01 chân, thực đóng 16.835.000đ.
- Huỳnh Văn T15 (tên hụi “10 Thông Thả”): 01 chân, thực đóng 16.835.000đ.
- Trần Thị P (tên hụi “Xuyên”): 01 chân, thực đóng 16.835.000đ.
- Nguyễn Thị L (tên hụi “Mận”) : 01 chân, thực đóng 16.835.000đ.
- + Dây hụi số 4: Mở ngày 04/8/2020 (ngày 15/6/2020 âl), loại hụi 1.000.000đ/tháng, tổng số 37 chân (có 29 hụi viên tham gia, Bảy tham gia 02 chân – đã hốt). Dây hụi khui được 23 kỳ, còn 14 kỳ chưa khui thì đình hụi. Dây hụi này B không thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền của hụi viên.
- + Dây hụi thứ 7: Mở ngày 09/7/2021 (ngày 30/5/2021 âl), loại hụi 1.000.000đ/tháng, tổng số 40 chân (có 29 hụi viên tham gia, Bảy tham gia 01 chân – đã hốt). Dây hụi khui được 12 kỳ, còn 28 kỳ chưa khui thì đình hụi. Dây hụi này B không thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền của hụi viên.
- + Dây hụi số 9: Mở ngày 01/5/2022 (ngày 01/5/2022 âl), loại hụi 1.000.000đ/tháng, tổng số 33 chân, (có 25 hụi viên tham gia, Bảy tham gia 03 chân – đã hốt 02 chân). Dây hụi khui được 03 kỳ, còn 30 kỳ chưa khui thì đình hụi. Dây hụi này B không thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền của hụi viên.
1.2/. Dây hụi do Từ Thị B và Trần Thị H cùng làm chủ, B và H cùng chiếm đoạt ở dây hụi số 3, 5, 6 chiếm đoạt số tiền 483.477.000₫ (Bảy chiếm đoạt 248.702.000đ, H chiếm đoạt 234.775.000đ); dây số 8 không chiếm đoạt.
- + Dây hụi số 3: Hụi mở ngày 23/5/2020 (ngày 15/4/2020 âl), loại hụi 1.000.000đ/15 ngày, tổng số 50 chân (có 29 hụi viên tham gia, dây hụi này đã mãn). Trong đó: Hên và B tham gia 06 chân (Bảy tham gia 02 chân – đã bán 02 chân; Hên tham gia 04 chân – đã bán 01 chân, hốt 03 chân). Dây hụi này đã mãn, hụi viên hốt 46 chân. Bảy tự ý lấy tên hụi viên hốt 03 chân; Hên tự ý tên hụi viên hốt 01 chân và bán 01 khống hụi chân, chiếm đoạt số tiền 176.835.000₫ (B chiếm đoạt 105.725.000đ, Hên chiếm đoạt 71.110.000đ), cụ thể:
- Tại các kỳ hụi 5, 7 và 24, B tự ý lấy tên hụi viên Lâm Văn T5 (tên hụi “Tý, B2”), hụi viên Nguyễn Ngọc A1 (tên hụi “G1”) và hụi viên Võ Hồng C2 (tên hụi “Dượng 3”, bỏ thăm thấp nhất là 265.000đ, cao nhất là 325.000đ, hốt hụi chiếm đoạt số tiền 105.725.000đ.
- Tại kỳ hụi 22, ngày 13/3/2021 (ngày 01/02/2021 âl), H tự ý lấy hụi viên Lâm Văn T5 (tên hụi “Tý, B2”), bỏ thăm 295.000đ, hốt hụi chiếm đoạt số tiền 37.855.000₫.
- * Ngoài ra, bị can H thực hiện hành vi bán 01 chân hụi khống ở kỳ thứ 3 (ngày 22/4/2020 âl) cho hụi viên tên Nguyễn Ngọc A1, chiếm đoạt số tiền 33.255.000đ, Hên trả tiền lãi là 17.610.000đ.
- * Trong dây hụi này có 03 hụi viên tham gia 04 chân hụi còn sống, số tiền thực đóng là 121.940.000₫ chưa được hốt, cụ thể:
- Lâm Văn T5 (tên hụi “Tý, B2”): 02 chân, thực đóng 60.970.000đ.
- Nguyễn Ngọc A1 (tên hụi “Giang”): 01 chân, thực đóng 30.485.000đ.
- Võ Hồng C2 (tên hụi “Dượng 3”): 01 chân, thực đóng 30.485.000đ.
- + Dây hụi số 5: Mở ngày 16/10/2020 (ngày 30/8/2020 âl), loại hụi 2.000.000đ/tháng, tổng số 24 chân (có 17 hụi viên tham gia). Trong đó: B và H tham gia 04 chân (Bảy tham gia 02 - bán 01 chân, hốt 01 chân; Hên tham gia 02 chân - đã hốt). Dây hụi khui được 21 kỳ, còn 03 kỳ chưa khui thì đình hụi, hụi viên hốt 16 chân. Bảy tự ý lấy tên hụi viên hốt 02 chân, H tự ý lấy tên hụi viên hốt 03 chân, chiếm đoạt số tiền 140.315.000đ (B chiếm đoạt 53.760.000đ, Hên chiếm đoạt 86.555.000₫), cụ thể:
- Tại các kỳ hụi 6 và 9, B tự ý lấy tên hụi viên Thiều Văn T16 (tên hụi “2 Tính” và Nguyễn Tuyết H8 (tên hụi “8 D1”), bỏ thăm bỏ thăm thấp nhất 720.000đ, cao nhất 1.000.000đ, hốt hụi chiếm đoạt số tiền 53.760.000đ.
- Tại các kỳ hụi 8, 12 và 13, Hên tự ý lấy tên hụi viên Nguyễn Thị V (tên hụi “2 Mến”), hụi viên Huỳnh Thanh N3 (tên hụi “Nhẹt”), hụi viên Từ Thị C4 (tên hụi “Dì 9”), bỏ thăm thấp nhất 710.000đ, cao nhất 925.000đ, hốt hụi chiếm đoạt số tiền 86.555.000đ.
- * Trong dây hụi này có 08 hụi viên tham gia 08 chân hụi còn sống, số tiền thực đóng 170.920.000đ chưa được hốt, cụ thể:
- Nguyễn Thị V (tên hụi “2 Mến”): 01 chân, thực đóng 21.365.000đ.
- Lâm Văn T5 (tên hụi “Tý”): 01 chân, thực đóng 21.365.000đ.
- Huỳnh Thanh N3 (tên hụi “Nhẹt”): 01 chân, thực đóng 21.365.000đ.
- Đặng Thanh P1 (tên hụi “2 P1”): 01 chân, thực đóng 21.365.000đ.
- Nguyễn Tuyết H8 (tên hụi “8 D1"): 01 chân, thực đóng 21.365.000đ.
- Lê Văn M1 (tên hụi “10 Kẹt”): 01 chân, thực đóng 21.365.000đ.
- Từ Thị C4 (tên hụi “Dì 9”): 01 chân, thực đóng 21.365.000đ.
- Thiều Văn T16 (tên hụi “2 Tính”): 01 chân, thực đóng 21.365.000đ.
- + Dây hụi số 6: Hụi mở ngày 11/4/2021 (ngày 30/02/2021 âl), loại hụi 500.000đ/15 ngày, tổng số 44 chân (có 25 hụi viên tham gia, B và H tham gia 07 chân, bán 02 chân, hốt 05 chân). Dây hụi khui được 29 kỳ, còn 15 kỳ chưa khui thì đình hụi, hụi viên hốt 21 chân. Bảy tự ý lấy tên hụi viên hốt 05 chân, bán 02 chân hụi khống; Hên tự ý lấy tên hụi viên hốt 03 chân, bán 03 chân hụi khống, chiếm đoạt số tiền 166.372.000₫ (B chiếm đoạt 89.217.000đ, Hên chiếm đoạt 77.110.000₫), cụ thể:
- Tại các kỳ hụi 7, 8 và 13, Hên tự ý lấy tên hụi “Xui Đẹp”, tên hụi “L3” (chân hụi do H chơi nhưng đã bán cho Nguyễn Ngọc A1 trước đó) và tên hụi viên Tạ Thanh T10 (tên hụi “2 T11”), bỏ thăm thấp nhất 200.000đ, cao nhất 220.000đ, hốt hụi chiếm đoạt số tiền 37.110.000đ.
- Tại các kỳ hụi 19, 20, 21, 25 và 27, B tự ý lấy tên hụi viên Tô Kiều N4 (tên hụi “Kiều”), hụi viên Lê Hồng M2 (tên hụi “4 Mơ”), hụi viên “Luyện – không có trong danh sách hụi”, bỏ thăm thấp nhất 227.000đ, cao nhất 300.000đ, hốt hụi chiếm đoạt số tiền 61.217.000đ.
- * Ngoài ra, bị can B và H thực hiện hành vi bán 05 chân hụi khống, chiếm đoạt số tiền 68.000.000đ, cụ thể:
- Kỳ 5, ngày 01/5/2021 (âl), B bán 02 chân hụi khống cho ông Võ Văn L4, chiếm đoạt 28.000.000đ, B trả tiền lãi cho ông L4 là 11.572.000đ.
- Kỳ 5 và ngày 20/3/2021 (âl), H bán 02 chân hụi khống cho bà Nguyễn Ngọc A1, chiếm đoạt 26.000.000đ, H trả tiền lãi cho bà Ngọc A1 là 12.162.000đ.
- Kỳ 6, ngày 01/5/2021 (âl), H bán 01 chân hụi khống cho ông Lê Văn M1, chiếm đoạt 14.000.000đ, Hên trả tiền lãi cho ông M1 là 5.786.000đ.
- * Dây hụi này còn có 15 hụi viên tham gia 23 chân hụi còn sống, số tiền thực đóng 171.776.000đ chưa được hốt, cụ thể:
- Nguyễn Thị V (tên hụi “2 Mến”): 01 chân, thực đóng 7.808.000đ.
- Lê Bích N (tên hụi “Thuần”): 01 chân, thực đóng 7.808.000đ.
- Tạ Thanh T10 (tên hụi “2 T11”): 03 chân, thực đóng 23.424.000đ.
- Lâm Văn T5 (tên hụi “Tý”): 01 chân, thực đóng 7.808.000₫.
- Tô Việt T12 (tên hụi “Út Thùy”): 01 chân, thực đóng 7.808.000đ.
- Nguyễn Ngọc A1 (tên hụi “G1”): 02 chân, thực đóng 15.616.000đồng.
- Tô Kiều N4 (tên hụi “Kiều”): 02 chân, thực đóng 15.616.000đồng.
- Võ Văn G2 (tên hụi “G2”): 01 chân, thực đóng 7.808.000đ.
- Trương Thanh C5 (tên hụi “Ca”): 02 chân, thực đóng 15.616.000đ.
- Trần Thị H7 (tên hụi “Cậu 6 H2"): 02 chân, thực đóng 15.616.000đ.
- Lê Kim C6 (tên hụi “Út Hồng”): 01 chân, thực đóng 7.808.000đ.
- Đặng Thanh P1 (tên hụi “2 P1”): 02 chân, thực đóng 15.616.000đ.
- Lê Hồng M2 (tên hụi “4 Mơ”): 01 chân, thực đóng 7.808.000đ.
- Lê Văn M1 (tên hụi “10 Kẹt”): 01 chân, thực đóng 7.808.000đ.
- Phạm Thành L5 (tên hụi “9 Lập”): 02 chân, thực đóng 15.616.000đ.
- + Dây hụi số 8: Mở ngày 19/11/2021 (nhằm ngày 15/10/2021 âl), loại hụi 1.000.000đ/15 ngày, tổng số 25 chân (có 20 hụi viên tham gia, Hên tham gia 03 chân). Dây hụi khui được 08 kỳ, còn 17 kỳ chưa khui thì đình hụi. Dây hụi này B và H không thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền của hụi viên.
Như vậy, tổng số tiền Từ Thị B và Trần Thị H chiếm đoạt của hụi viên là 910.192.000đ. Trong đó: B chiếm đoạt số tiền 675.417.000đ, H chiếm đoạt số tiền 234.775.000đ.
- Tại Cáo trạng số 13/CT-VKS-P1 ngày 16 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau đã truy tố B về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự, truy tố H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2024/HS-ST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau quyết định:
Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Từ Thị B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, phạt bị cáo 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 22 tháng 11 năm 2023.
- Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Trần Thị H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, phạt bị cáo 5 (năm) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 22 tháng 11 năm 2023.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Cùng ngày 06/5/2024, các bị cáo Từ Thị B, Trần Thị H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Các bị cáo Từ Thị B, Trần Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, xin giảm nhẹ hình phạt vì mức án sơ thẩm quá nặng; sau khi xét xử sơ thẩm, gia đình các bị cáo đã khắc phục hậu quả tổng cộng là 171.844.000 (một trăm bảy mươi mốt triệu tám trăm bốn mươi bốn nghìn) đồng.
Luật sư bào chữa cho các bị cáo trình bày: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, với các lý do:
Các bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự, đã có sự ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, gia đình có công với cách mạng, có nhiều thành tích, hoàn cảnh khó khăn. Trong quá trình sinh sống, bị cáo luôn chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân tại nơi cư trú, nơi làm việc. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng là tại địa phương. Tại cấp phúc thẩm, gia đình các bị cáo Từ Thị B, Trần Thị H đã khắc phục hậu quả tổng cộng là 171.844.000 (một trăm bảy mươi mốt triệu tám trăm bốn mươi bốn nghìn) đồng như sau: ngày 27/5/2024 bà Trần Thị P nhận số tiền 16.835.000 đồng, ngày 04/6/2024, ông Tô Việt T12 nhận số tiền 16.835.000 đồng và số tiền 7.808.000 đồng, ngày 04/6/2024, ông Lâm Văn T5 nhận số tiền 90.143.000 đồng và số tiền 16.050.000 đồng, ngày 04/6/2024, bà Nguyễn Thị V nhận số tiền 24.173.000 đồng. Riêng bị cáo Trần Thị H cần xác định bị cáo đã nộp toàn bộ số tiền chiếm đoạt cho các bị hại như xác nhận của ông Trần Út X3 (là chồng bà Từ Thị B) là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nộp khắc phục hậu quả cho các bị cáo. Đây là tình tiết quan trọng về khắc phục hậu quả. Hơn nữa, bị cáo H có vai trò thứ yếu, giúp sức cho bị cáo Từ Thị B, nên cần cá thể hóa vai trò của bị cáo để xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Từ Thị Bảy 10 (mười) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự, bị cáo Trần Thị H 05 (năm) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự, là có căn cứ. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm, gia đình các bị cáo đã nộp khắc phục hậu quả tổng cộng là 171.844.000 (một trăm bảy mươi mốt triệu tám trăm bốn mươi bốn nghìn) đồng. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới theo luật định, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
- Lời nói sau cùng của bị cáo B và bị cáo H: Thừa nhận hành vi phạm tội và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo Từ T, Trần Thị H trong hạn luật định, hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của các bị cáo:
[2.1] Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và chỉ xin giảm nhẹ hình phạt, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị hại, nhân chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ. Qua đó, có đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 20/3/2019 đến ngày 01/5/2022, bị cáo Từ Thị B làm chủ 09 dây hụi. Trong đó, có 05 dây hụi bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt, gồm: 03 dây hụi 01 tháng khui một lần (có 02 dây hụi loại 01 triệu đồng (gồm dây hụi thứ nhất mở ngày 20/3/2019 (nhằm ngày 15/01/2019 âm lịch, viết tắt là dây hụi thứ nhất), dây hụi thứ 02 mở ngày 08/02/2020 (nhằm ngày 15/01/2020 âm lịch, viết tắt là dây hụi thứ 02) và 01 dây hụi loại 02 triệu đồng mở ngày 16/10/2020 (nhằm ngày 30/8/2020 âm lịch, viết tắt là dây hụi thứ 05)); 02 dây hụi 15 ngày khui một lần (gồm dây hụi 01 triệu đồng mở ngày 23/5/2020 (nhằm ngày 15/4/2020 âm lịch, viết tắt là dây hụi thứ 03) và dây hụi 500.000 đồng mở ngày 11/4/2021 (nhằm ngày 30/02/2021 âm lịch, viết tắt là dây hụi thứ 06)). Trong 05 dây hụi này, ở dây hụi thứ 03, 05 và 06 có con ruột là Trần Thị H cùng tham gia làm chủ hụi với bị cáo B. Ở dây hụi thứ nhất và thứ 02, bị cáo B tự ý hốt 10 chân hụi chiếm đoạt 249.400.000đ và bán khống 04 chân hụi chiếm đoạt 177.315.000đ. Ở dây hụi thứ 03, 05 và 06, bị cáo B tự ý hốt 10 chân hụi chiếm đoạt 220.702.000₫ và bán khống 02 chân hụi chiếm đoạt 28.000.000đ. Tổng cộng, trong 05 dây hụi nói trên, bị cáo B tự ý hốt 20 chân hụi chiếm đoạt 526.197.000₫ và bán khống 06 chân hụi chiếm đoạt 149.220.000đ, tổng số tiền chiếm đoạt là 675.417.000đ. Đối với Trần Thị H, ở 03 dây hụi cùng với bị cáo B làm chủ, bị cáo tự ý hốt 07 chân hụi chiếm đoạt 161.520.000đ và bán khống 04 chân hụi chiếm đoạt 73.655.000đ, tổng số tiền chiếm đoạt là 235.175.000đ.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo B về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự, bị cáo H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[2.2] Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, làm cho nhiều gia đình bị thiệt hại nghiêm trọng về tài sản, lâm vào hoàn cảnh khó khăn về kinh tế, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự của địa phương. Riêng đối với các dây hụi thứ 03, 05 và 06, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, trong đó, bị cáo H là người thực hành. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm có cân nhắc đến các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng cho các bị cáo:
[2.2.1] Đối với bị cáo B:
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên.
- Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo và gia đình đã khắc phục được 483.400.000đ; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; chưa có tiền án, tiền sự; trong thời gian tham gia hoạt động ở địa phương, bị cáo được Ban chấp hành Hội LHPN xã N tặng Giấy khen do có thành tích xuất sắc trong công tác, được Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng CSXH tỉnh C ghi nhận do có thành tích đóng góp tích cực cho hoạt động của Chi nhánh Ngân hàng CSXH tỉnh C năm 2012 và được biểu dương năm 2013; kiến thức pháp luật hạn chế do trình độ học vấn thấp; Gia đình có người có công với cách mạng (anh chồng tên Trần Văn L6 là thương binh 4/4, anh chồng tên Trần Hoàng L7 được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất, cậu ruột tên Phạm Sông B3 được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì, là thương binh 4/4); Các bị hại có đơn xin bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo hoặc có bị hại có yêu cầu về dân sự, nhưng lại không có yêu cầu xử lý về hình sự đối với bị cáo, gồm: Nguyễn Thị H4, Huỳnh Thị X2, Võ Hồng C2, Lê Hồng Q1, Tô Thị Đ, Huỳnh Văn T15, Trần Thị P, Thiều Thị H5, Nguyễn Thị V, Lê Văn M1, Võ Văn G2, Phạm Thành L5; Ngoài ông Trần Hoàng S, ông Huỳnh Thanh N3, bà Hứa Kim T8 và bà Huỳnh Thị X2.
[2.2.2] Đối với bị cáo H:
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên;
- Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo và gia đình đã khắc phục được 483.400.000₫; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Chưa có tiền án, tiền sự; Kiến thức pháp luật hạn chế do trình độ học vấn thấp; Gia đình có người có công với cách mạng (bác ruột tên Trần Văn L6 là thương binh 4/4, bác ruột tên Trần Hoàng L7 được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất, ông cậu tên Phạm Sông B3 được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì, là thương binh 4/4); Trong thời gian tham gia hoạt động ở địa phương, mẹ bị cáo được Ban chấp hành Hội LHPN xã N tặng Giấy khen do có thành tích xuất sắc trong công tác, được Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng CSXH tỉnh C ghi nhận do có thành tích đóng góp tích cực cho hoạt động của Chi nhánh Ngân hàng CSXH tỉnh C năm 2012 và được biểu dương năm 2013; Có bị hại xin bãi nại cho bị cáo; Có bị hại có yêu cầu về dân sự, nhưng lại không có yêu cầu xử lý về hình sự đối với bị cáo, gồm: Nguyễn Thị H4, Huỳnh Thị X2, Võ Hồng C2, Lê Hồng Q1, Tô Thị Đ, Huỳnh Văn T15, Trần Thị P, Thiều Thị H5, Nguyễn Thị V, Lê Văn M1, Võ Văn G2, Phạm Thành L5; Ngoài ông Trần Hoàng S, ông Huỳnh Thanh N3, bà Hứa Kim T8 và bà Huỳnh Thị X2, các bị hại có mặt còn lại tại phiên tòa xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của các bị cáo, xét mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử đối với các bị cáo là có cơ sở. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm, gia đình các bị cáo tiếp tục khắc phục thêm 171.844.000 đồng cho các bị hại, trong đó bị cáo Trần Thị H đã khắc phục toàn bộ hậu quả mà bản án sơ thẩm đã tuyên xử, đây là tình tiết giảm nhẹ mới, thể hiện sự ăn năn, hối cải của các bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo, giảm một phần hình phạt cho các bị cáo.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về trách nhiệm dân sự, án phí dân sự, hình sự sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Từ Thị B, Trần Thị H. Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2024/HS-ST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau về phần hình phạt áp dụng đối với các bị cáo.
Tuyên xử:
-
Tuyên bố các bị cáo Từ Thị B, Trần Thị H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và khoản 1 Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Từ Thị B 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 22/11/2023.
- Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và khoản 1 Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thị H 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 22/11/2023.
Tiếp tục tạm giam các bị cáo để bảo đảm việc thi hành án.
- 2/. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- 3/. Án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Từ Thị B, Trần Thị H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Dương Anh Văn | Trần Ngọc Tuấn | Nguyễn Đắc Minh |
Bản án số 894/2024/HS-PT ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 894/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm
