Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 892/2024/HS-PT

Ngày 07 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Minh

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tất Nam và bà Lê Thị Mai.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Hải Anh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 năm 2024, tại Điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội và Điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam. Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 1065/2024/TLPT-HS ngày 24 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo Phạm Văn TPhạm Việt T1 phạm tội “Cướp tài sản”, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2024/HS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.

- Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Phạm Văn T, sinh năm 1996 tại Hải Dương; nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện B, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn L và bà Vũ Thị T2; có vợ Nguyễn Thị Ngọc H và 03 con: Lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 28/12/2023 đến ngày 05/01/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. (có mặt)
  2. Phạm Việt T1, sinh năm 1988 tại Hải Dương; nơi cư trú: Số C đường Đ, thị trấn K, huyện B, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn D và bà Phạm Thị L1 (đều đã chết); vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 28/12/2023 đến ngày 05/01/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. (có mặt)

Người bào chữa cho 02 bị cáo: Ông Đinh Anh T3 - Luật sư Văn phòng L2 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H. (có mặt)

Trong vụ án còn có 02 bị cáo khác không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 18/12/2023, anh Trương Công H1, sinh năm 1997, trú tại tổ dân phố B, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa, do có ý định thuê xe ô tô tự lái mang đi cầm cố để vay tiền tiêu sài cá nhân nên gặp và thuê chiếc xe ô tô, hiệu M loại CX5, biển kiểm soát (BKS) 36A - 886.04 của chị Lê Thị Y, sinh năm 1992, trú tại số A B, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa với giá thuê xe là 1.200.000 đồng/01 ngày, thời gian thuê xe là 10 ngày, kể từ ngày 18/12/2023 đến ngày 28/12/2023, trả tiền thuê xe trước 05 ngày là 6.000.000 đồng và tiền đặt cọc thuê xe là 20.000.000 đồng, đến ngày 23/12/2023 thì sẽ phải thanh toán tiền thuê xe 05 ngày tiếp theo. Sau khi thuê được xe ô tô BKS 36A - 886.04, anh H1 liên hệ với Lê Quốc V, sinh năm 1993, trú tại Chung cư R, phường L, thành phố T nhờ V giới thiệu chỗ cầm cố xe ô tô để vay tiền, V đồng ý.

V liên lạc với Phạm Văn T để cầm cố xe ô tô trên, T đồng ý và bảo V mang xe ô tô đến khu vực Nhà văn hóa thành phố T, tỉnh Ninh Bình để thuận lợi cho việc đi lại và giao dịch cầm cố. Đồng thời, T liên lạc và nhờ Đào Ngọc T4, sinh năm 1990, trú tại thôn T, xã Q, thành phố T đến kiểm tra xe. Tại thành phố T, VTrường T7 cầm cố xe ô tô BKS 36A - 886.04 để cho anh H1 vay số tiền 200.000.000đồng, lãi suất 18.000.000đồng/30 ngày/200.000.000đồng. Tuy nhiên, V nói với anh H1T nhận cầm cố xe ô tô BKS 36A - 886.04 và cho anh H1 vay 200.000.000đồng, thời gian vay là 30 ngày, lãi suất vay là 30.000.000đồng/30 ngày/200.000.000đồng. Ngoài ra, chi phí công giới thiệu là 10.000.000đồng, đồng thời phải trả nợ V số tiền 55.000.000đồng, anh H1 chỉ được nhận về 105.000.000 đồng, anh H1 đồng ý.

Sau đó, anh H1 viết Giấy bán xe ô tô BKS 36A - 886.04 và nhận tiền đặt cọc trước 200.000.000 đồng, viết Giấy vay tiền có nội dung anh H1 để lại xe ô tô BKS 36A - 886.04 để vay 200.000.000đồng rồi đưa cho T. V bảo T chuyển cho anh H1 105.000.000đồng, chuyển cho V 77.000.000đồng và cắt lãi trước 18.000.000đồng. T dùng tài khoản số 28329399999 mở tại Ngân hàng Q chuyển cho anh H1 105.000.000đồng qua tài khoản số 0351001150211 mở tại Ngân hàng V1 mang tên Trương Công H1; chuyển cho V 77.000.000 đồng qua tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng TMCP V2 mang tên Lê Quốc V.

Ngày 23/12/2023 là thời hạn phải thanh toán tiền thuê xe 05 ngày tiếp theo, chị Y gọi điện cho anh H1 nhưng không liên lạc được. Ngày 25/12/2023, chị Y theo dõi định vị thì phát hiện xe ô tô BKS 36A - 886.04 đang hiển thị ở vị trí thuộc huyện B, tỉnh Hải Dương. Cùng ngày, chị Y cùng bố đẻ là ông Lê Văn H2, sinh năm 1970, trú tại khu F thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa đi theo vị trí định vị đến địa phận thôn M, xã B, huyện B thì thấy xe ô tô BKS 36A - 886.04 đang đỗ tại ven đường. Ông Hải quan S thấy bên trong xe không có người nên đã sử dụng chìa khóa phụ nổ máy xe ô tô BKS 36A - 886.04 rồi điều khiển xe đi về hướng tỉnh Thanh Hóa. Khi chị Y đi về đến thành phố H thì T điện thoại với chị Y nói: “H1 đang để xe chỗ em”, chị Y nói: “H1 thuê xe chị được 5 ngày, sau 5 ngày gọi điện, nhắn tin không nghe máy thì chị thấy xe ở đây chị thu xe về và mang xe về để trình báo Công an giải quyết”, T nói: “Mai em vào Thanh Hóa em trả chìa khóa xe cho chị, chị không cần báo Công an".

Do không biết việc chị Y đã lấy lại xe ô tô BKS 36A - 886.04, ngày 26/12/2023 anh H1 điện thoại với T hỏi vay thêm 50.000.000đồng nhưng T không đồng ý. Anh H1 liền nói: “Em có chiếc xe nữa muốn cầm cắm”, T hỏi: “Xe gì”, anh H1 nói: “Xe ô tô Kia K3”, T hỏi: “Xe như nào”, anh H1 nói: “Xe mượn của anh”, T nói: “Mượn thì được, mang đến đây”. Lúc này, T có ý định lấy chiếc xe ô tô Kia K3 này của anh H1 để ép anh H1 phải trả lại cho T 200.000.000 đồng đã vay trước đó nên T hẹn anh H1 mang xe ô tô đến khu vực Trạm thu phí C1, tỉnh Ninh Bình để giao dịch. Sau đó, T nói cho Vũ Phạm Kỳ A biết việc T nhận cầm cố xe ô tô BKS 36A - 886.04 và cho anh H1 vay 200.000.000 đồng nhưng sau đó bị chị Y là chủ xe lấy lại xe, nay anh H1 lại muốn cầm cố chiếc xe ô tô khác để vay tiền. T nói: “Bây giờ chỉ có giữ được xe nó thì mới lấy lại được tiền, nó không cho lấy xe thì đánh vài cái thôi, xong nó trả tiền thì trả xe, nó là Công an đấy”, Kỳ A nói: “Nếu lấy xe của H1 về thì anh em mình có thể dính án rất cao, còn trình báo cơ quan Công an về việc H1 cắm xe vay tiền sau đó bị chủ xe lấy về thì Công an xử lý sẽ mất nhiều thời gian nhưng như thế thì an toàn”.

T gọi điện liên lạcvới V nói về việc anh H1 gọi điện cho T bảo mang xe ô tô đến cắm tiếp để vay tiền và dặn T không nói cho V biết vì anh H1 đang nợ Việt tiền, nếu nói cho V biết thì V sẽ đòi tiền. Tiếp theo, T bảo V không nói cho anh H1 biết việc chị Y đã đến lấy lại xe ô tô BKS 36A - 886.04 để anh H1 tiếp tục mang xe ô tô đến cầm cố, V đồng ý (T không trao đổi bàn bạc gì với V về việc Trường sẽ lấy xe ô tô của anh H1 để bắt anh H1 trả lại số tiền 200.000.000 đồng).

Sau đó, T bảo Kỳ A đi cùng để lấy xe ô tô của anh H1, Kỳ A đồng ý. T nói: “Bạn có ai tin tưởng được không để đi cùng anh em mình lấy số đông uy hiếp dọa H1 để lấy xe ô tô của H1 về, sợ nó phục, mang đồ đi phòng thân”, Kỳ A nói: “Tớ có bình xịt hơi cay rồi”. Kỳ A gọi điện rủ Phạm Việt T1Nguyễn Đình N đến nhà Kỳ A để đi cùng và gọi điện cho anh Đỗ Danh Đ, sinh năm 1998, trú tại thôn H, xã H, huyện B là lái xe ô tô taxi gia đình để thuê anh Đ chở đi. Khoảng 19 giờ cùng ngày, anh Đ điều khiển xe ô tô Kia Cerato BKS 34A - 601.17 đi đónvà chở T, Kỳ A, NT1 đi theo hướng dẫn đến khu vực Trạm thu phí C1, tỉnh Ninh Bình. Trên đường đi, T điện thoại cho anh H1 nói: “Đi chưa”, anh H1 nói: “Em bắt đầu đi” (trên xe không ai nói chuyện, trao đổi và bàn bạc nội dung liên quan về việc lấy chiếc xe ô tô của anh H1).

Khi đến gần khu vực Trạm thu phí C1, mọi người xuống xe đi vệ sinh, anh Đ ở trên xe ô tô xem điện thoại. Lúc này, T, T1, Kỳ AN đứng ở cạnh đường nói chuyện, T1 hỏi T: “Mày gọi bọn anh đi đến đây làm gì, sao hoang vắng thế”, T liền cho Kỳ A, T1N xem đoạn Video clip về việc chủ xe ô tô BKS 36A - 886.04 tự ý đến lấy lại xe trên điện thoại của T rồi kể lại sự việc trước đó H1 cầm cố xe ô tô BKS 36A - 886.04 cho T để vay số tiền 200.000.000đồng nhưng đã bị chủ xe đến lấy lại. Do vậy, T bảo Kỳ A, T1, N đi cùng để uy hiếp anh H1 trả tiền, nếu anh H1 không trả tiền thì đánh mấy cái và lấy xe ô tô của anh H1, buộc anh H1 phải trả lại 200.000.000đồng, đồng thời bảo T1: “Tý anh xem nó có phục mình không”, T1 nói: “Ừ để tý anh để ý cho”.

Sau khi được T đồng ý cầm cố xe cho vay tiền, anh H1 liên lạc với anh Lê Trọng B, sinh năm 1984, trú tại số 12b04 Chung cư R, phường L, thành phố T hỏi thuê một chiếc xe ô tô tự lái để làm phương tiện đi tỉnh Hà Nam có việc, anh B đồng ý. Khoảng 22 giờ ngày 26/12/2023, anh B điều khiển xe ô tô hiệu Nissan Navara BKS 36C - 370.75 đi đến số D đường H, phường Q, thành phố T để giao xe. Tại đây, anh B và anh H1 thỏa thuận thống nhất giá thuê xe là 900.000đồng/01 ngày, thời hạn thuê là 07 ngày kể từ ngày 26/12/2023 đến ngày 03/01/2024, anh H1 đặt cọc trước số tiền thuê xe là 15.000.000 đồng. Thuê được xe ô tô BKS 36C - 370.75, anh H1 bảo T5 (H1 mới quen, hiện chưa xác định được lai lịch) thuê T2 (là lái xe ô tô taxi, hiện chưa xác định được lai lịch) điều khiển xe ô tô BKS 36C - 370.75 chở cả nhóm đi gặp T. Khi đến khu vực Trạm thu phí C1, anh H1 gặp và bảo T cho anh H1 cầm cố chiếc xe ô tô BKS 36C - 370.75 để vay 250.000.000đồng, thời gian vay 20 ngày. T đồng ý nhưng cắt lãi trước 30 triệu đồng, anh H1 đồng ý. Do thấy anh H1 đi cùng nhiều người, T bảo anh H1: “Ở đây đông người, sang tỉnh khác để giao dịch” rồi yêu cầu anh H1 đi theo, anh H1 đồng ý và bảo T5, T2 đi về trước. Sau đó, T điều khiển xe ô tô BKS 36C - 370.75 chở anh H1, T1Kỳ A đi về hướng cầu T, huyện L, tỉnh Hà Nam; anh Đ điều khiển xe taxi chở N đi theo sau.

Khoảng 01h30' sáng ngày 27/12/2023, khi đi đến đoạn đường ĐH05 địa phận thôn N, xã Đ, huyện L thì T dừng xe lại. Tại đây, T nói với anh H1 là cầm cố chiếc xe ô tô BKS 36C - 370.75 để cho anh H1 vay 200.000.000đồng và cho vay thêm 50.000.000đồng đối với chiếc xe ô tô BKS 36A - 886.04 mục đích để anh H1 tin tưởng. Khoảng 30 phút sau, khi anh Đ chở N đi đến, T1 bảo N lấy tập mẫu giấy tờ mua bán xe để trên xe ô tô mang xuống đưa cho Kỳ A. Khi N xuống xe thì anh Đ điều khiển xe ô tô đi về phía trước khoảng 30-50 mét chờ, N cầm mẫu giấy bán xe đưa cho Kỳ A để đưa cho anh H1 viết giấy bán chiếc xe ô tô BKS 36C - 370.75 cho T với giá 250.000.000đồng để đảm bảo cho khoản vay 250.000.000 đồng. Anh H1 đồng ý và viết giấy bán xe ô tô với nội dung bên bán xe Trương Công H1, sinh năm 1997, trú tại thị trấn T, Q, Thanh Hóa bán chiếc xe ô tô BKS 36C - 370.75, để trống bên mua rồi ký tên, điểm chỉ xác nhận. T để giấy bán xe vào trong xe ô tô BKS 36C - 370.75, quay lại hỏi anh H1 lấy tiền mặt hay chuyển khoản, anh H1 nói thế nào cũng được nhưng T không đưa tiền mà dùng tay trái túm vào cổ áo anh H1 quát: “Đ.mẹ mày, mày lừa tao à, chủ xe CX5 nó lấy xe tao rồi” đồng thời dùng tay phải tát vào mặt anh H1 hai đến ba phát và nói tiếp: “Trả tiền thì tao trả xe”. Anh H1 vung tay lên thì Kỳ A lao đến sử dụng bình xịt hơi cay xịt vào vùng đầu, mặt và dùng chân lên gối vào người anh H1; T1 lao đến dùng chân trái đạp vào mạng sườn bên phải anh H1; N lao đến dùng chân trái đạp về phía anh H1 nhưng lại đạp trúng phần mu bàn tay trái T1.

Anh H1 bị đấm, đá nhiều phát vào vùng mặt, lưng, bụng thì cúi người xuống và bỏ chạy thì T điều khiển xe ô tô BKS 36C - 370.75 chở Kỳ A đi về Hải Dương; anh Đ điều khiển xe ô tô BKS 34A - 601.17 chở T1N đi theo. Trên đường đi, T phát hiện trên xe có lắp thiết bị định vị nên đã vào mạng xã hội Facebook tìm kiếm thuê thợ (hiện chưa xác định được lai lịch) đến tháo vứt bỏ thiết bị định vị của chiếc xe ô tô BKS 36C - 370.75 đi. Về đến nhà, T lấy 02 chiếc BKS 30G - 928.38 giả (T mua trên mạng của một đối tượng không biết lai lịch với giá 1.000.000 đồng) rồi tiếp tục điều khiển xe đến kho bãi để trống cạnh nhà K, T tháo bỏ BKS 36C - 370.75 ra và lắp chiếc BKS 30G - 928.38 giả vào xe ô tô để che giấu.

Sau khi bị nhóm T đánh và lấy chiếc xe ô tô BKS 36C - 370.75, anh H1 điện thoại thông báo cho anh B biết và đến Công an huyện L, tỉnh Hà Nam trình báo vụ việc.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường vụ án “Cướp tài sản” xảy ra ngày 27/12/2023 tại thôn N và thôn V, xã Đ, huyện L đã bị xáo trộn do phương tiện giao thông đi lại. Quá trình khám nghiệm thu giữ 01 chiếc kích xe; 01 túi nhựa bên trong có 04 thanh kim loại màu đen; 09 bọc ghế giả da; 01 lọ hình trụ cao 14,5cm, đường kính 3,5cm, vỏ bằng kim loại màu xanh có in chữ “NATO” được niêm phong theo quy định.

Ngày 28/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Phạm Văn T, Vũ Phạm Kỳ A, Phạm Việt T1Nguyễn Đình N. Quá trình thi hành lệnh không thu giữ được tài liệu, đồ vật có liên quan đến vụ án.

Vũ Phạm Kỳ Anh giao nộp 01 chiếc xe ô tô hiệu Nissan Navara BKS 36C - 370.75 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X.

Phạm Văn T giao nộp 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax; 01 điện thoại di động hiệu Samsung ZFold 4; 01 Giấy chứng nhận kiểm định của chiếc xe ô tô BKS 36C - 370.75; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm của chiếc ô tô BKS 36C - 370.75 và 02 Giấy bán xe ô tô, bên bán xe Trương Công H1 đối với chiếc ô tô BKS 36C - 370.75.

Nguyễn Đình N giao nộp 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11. Phạm Việt T1 giao nộp 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy M335G. Anh Trương Công H1 giao nộp 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S.

Chị Lê Thị Y1 giao nộp 01 Hợp đồng thuê xe đề ngày 18/12/2023; 01 bản phô tô Giấy bán xe đề ngày 18/12/2023 với nội dung Trương Công H1 có bán chiếc xe Mazda CX5 BKS 36A - 886.04, số tiền 200 triệu đồng; 01 bản phô tô Giấy vay tiền đề ngày 18/12/2023 với nội dung Trương Công H1 có vay số tiền 200 triệu đồng, có để lại chiếc xe Mazda CX5 BKS 36A - 886.04 là tài sản đảm bảo cho số tiền vay.

Anh Lê Trọng B giao nộp 01 bản sao Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 26A8036308, mang tên Nguyễn Thị H3 kinh doanh cho thuê xe tự lái; 01 bản sao Căn cước công dân mang tên Lê Trọng B; 01 bản phô tô Giấy ủy quyền đề ngày 28/01/2022 về việc Nguyễn Ngọc C cho Lê Trọng B mượn chiếc xe ô tô Nissan Navana BKS 36C - 370.75 và 01 một bản phô tô Giấy ủy quyền đề ngày 20/11/2022 về việc Nguyễn Ngọc C cho Lê Trọng B sử dụng chiếc xe ô tô Nissan Navana BKS 36C - 370.75.

Anh Nguyễn Ngọc C giao nộp 01 bản phô tô Giấy ủy quyền đề ngày 20/11/2022 với nội dung Nguyễn Ngọc C ủy quyền chiếc xe ô tô BKS 36C - 370.75 cho anh Lê Trọng B; 01 bản phô tô Hợp đồng thuê xe ô tô đề ngày 20/11/2022 với nội dung Nguyễn Ngọc C cho anh Lê Trọng B thuê chiếc xe ô tô BKS 36C - 370.75 để kinh doanh cho thuê xe tự lái; 01 bản phô tô Căn cước công dân và một Giấy xác nhận thông tin nơi cư trú đều mang tên Nguyễn Ngọc C; 01 bản sao Chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 36C - 370.75; 01 Biên bản bàn giao xe mang tên khách hàng Nguyễn Ngọc C với Công ty Cổ phần K, Đ, Hà Nội; 01 Hợp đồng mua bán xe ô tô đề ngày 10/11/2021 với nội dung Công ty Cổ phần K, Đông Đ1 bán xe ô tô tải NVARA cho Nguyễn Ngọc C; 01 bản phô tô Hợp đồng cho vay và 01 bản phô tô Hợp đồng thế chấp cùng Giấy đề nghị vay vốn có tài sản thế chấp có nội dung bên vay, bên thế chấp mang tên Nguyễn Ngọc C.

Anh Vũ Văn T6, sinh năm 1984, trú tại xã P, huyện Â, tỉnh Hưng Yên là cậu ruột Nguyễn Đình N giao nộp 02 Phiếu kết quả xét nghiệm, 01 Phiếu thu tiền kiêm bảng kê chi phí khám bệnh và 01 bản phô tô Căn cước công dân đều mang tên Nguyễn Đình Ú là bố đẻ Nguyễn Đình N; 01 Bệnh án tâm thần của Bệnh viện đa khoa tỉnh H và 01 bản phô tô Căn cước công dân đều mang tên Vũ Thị Y2 là mẹ đẻ của Nguyễn Đình N; 01 bản phô tô Bằng khen mang tên Nguyễn Đình A1; 01 bản phô tô Sổ lĩnh tiền trợ cấp xã hội và 01 Đơn xác nhận của UBND xã B.

Kiểm tra dấu vết trên thân thể anh Trương Công H1 phát hiện tại gò má phía trên gần mắt bên phải có vết bầm tím, không rách da chảy máu trên diện (03x01)cm; hai mắt trái phải có màu đỏ, nước mắt chảy.

Tại Kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 05/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên tỉnh Hà Nam, kết luận: “Chiếc xe ô tô Nissan Navana BKS 36C - 370.75 có giá 605.880.000 đồng”.

Tại Kết luận giám định số 1017/KL-KTHS ngày 08/3/2024 của V3 - Bộ C2, kết luận: “chất lỏng trong bình hình trụ tròn, vỏ bình sơn màu xanh, trên thân bình có chữ “NATO SUPER - PARALISANT” gửi giám định có thành phần nonivamide. Nonivamide gây kích ứng mạnh niêm mạc da và mắt, sưng viêm niêm mạc, bỏng rát, chẩy nước mắt khi tiếp xúc; bình hình trụ tròn trên gửi giám định là bình xịt hơi cay thuộc công cụ hỗ trợ.”.

Xử lý vật chứng: Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh H đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại 01 Chiếc xe ô tô Nissan Navana BKS 36C - 370.75 cùng đồ vật, giấy tờ có liên quan cho anh Nguyễn Ngọc C là chủ sở hữu xe ô tô.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Trương Công H1 không đề nghị, đồng thời từ chối giám định nên không xác định được tỷ lệ tổn thương cơ thể.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2024/HS-ST ngày 14/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam đã quyết định:

Căn cứ điểm a khoản 4, khoản 6 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51 (áp dụng khoản 2 Điều 51 đối với bị cáo T, N, T6), Điều 17, Điều 50, Điều 58, Điều 38, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí tòa án:

Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn T, Vũ Phạm Kỳ A, Phạm Việt T1Nguyễn Đình N phạm tội “Cướp tài sản”. Xử phạt:

  • + Bị cáo Phạm Văn T 19 (Mười chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2023.
  • + Bị cáo Vũ Phạm Kỳ A 18 (Mười tám) năm 06 (S1) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2023.
  • + Bị cáo Phạm Việt T1 18 (Mười tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2023.
  • + Bị cáo Nguyễn Đình N 18 (Mười tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2023.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 21/8/2024 và ngày 26/8/2024, các bị cáo Phạm Việt T1Phạm Văn T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.

Luật sư bào chữa cho các bị cáo trình bày: Nhất trí với tội danh như Viện kiểm sát đề nghị, tuy nhiên về hình phạt tù mà Tòa sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo là quá nghiêm khắc, vì các bị cáo đều có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội do bột phát nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết tại điểm s khoản 1 Điều 51. Ngoài ra, hậu quả của vụ án đã được khắc phục, các xe ô tô đã trả lại cho chủ sở hữu nên không có thiệt hại về tài sản; nguyên nhân dẫn đến việc các bị cáo phạm tội là do bị hại cũng có lỗi. Bên cạnh đó, bị cáo T có ông nội được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất, có bố đẻ tham gia quân đội và được tặng Bằng khen của Bộ Q1; bị cáo T1 do bố mẹ mất sớm nên việc giáo dục và nhận thức pháp luật của bị cáo có phần hạn chế, bị cáo T1 có ông ngoại tham gia kháng chiến nên các bị cáo đều được các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem xét mở lượng khoan hồng để giảm nhẹ cho các bị cáo thêm một phần hình phạt tù nhằm tạo điều kiện, giúp đỡ các bị cáo tích cực cải tạo, sớm được trở về với xã hội, làm công dân có ích.

Các bị cáo đều nhất trí với lời bào chữa của các Luật sư và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Đơn kháng cáo của các bị cáo gửi trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo của các bị cáo Phạm Văn TPhạm Việt T1, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

[2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Phạm Văn TPhạm Việt T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như tại phiên tòa sơ thẩm; phù hợp với lời khai của các bị cáo và các bị cáo khác tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận tội của các bị cáo còn được chứng minh bởi lời khai của bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, đã có đủ căn cứ khẳng định: Ngày 18/12/2023, anh Trương Công H1 thuê chiếc xe ô tô BKS 36A - 886.04 của chị Lê Thị Y1 rồi mang cầm cố cho bị cáo T để vay số tiền 200.000.000đồng. Quá hạn thanh toán tiền thuê xe, chị Y1 không gọi được cho anh H1 nên ngày 25/12/2023, qua thiết bị định vị trên xe ô tô, chị Y1 phát hiện xe ô tô trên đang ở huyện B, tỉnh Hải Dương nên đã đi đến rồi sử dụng chìa khoá phụ thu hồi chiếc xe ô tô BKS 36A - 886.04 mang về. Do bị chị Y1 thu hồi xe ô tô và sau đó thấy anh H1 đặt vấn đề tiếp tục cầm cố chiếc xe ô tô khác cho T để vay tiền nên T nảy sinh ý định chiếm giữ chiếc xe ô tô này để buộc anh H1 phải trả lại số tiền 200.000.000đồng đã vay trước đó. T sau đó nói lại sự việc cho Vũ Phạm Kỳ A, Phạm Việt T1Nguyễn Đình N biết và rủ đi cùng để uy hiếp buộc anh H1 phải trả tiền và được các bị cáo đồng ý.

Khoảng 02 giờ sáng ngày 27/12/2023, tại thôn N, xã Đ, huyện L, tỉnh Hà Nam. Sau khi bị cáo T nhận cầm cố chiếc xe ô tô BKS 36C - 370.75 để cho anh H1 vay số tiền 250.000.000đồng và được anh H1 viết giấy bán xe ô tô BKS 36C - 370.75, bị cáo T đã không đưa tiền như thoả thuận mà dùng tay trái túm vào cổ áo anh H1 quát: “Đ.mẹ mày, mày lừa tao à, chủ xe CX5 nó lấy xe tao rồi”, dùng tay phải tát vào mặt anh H1 hai đến ba cái; Kỳ A sử dụng bình xịt hơi cay xịt vào vùng đầu, mặt, dùng chân lên gối vào người anh H1; T1 dùng chân trái đạp vào mạng sườn bên phải anh H1; N dùng chân trái đạp anh H1 nhưng không trúng mà đạp trúng phần mu bàn tay trái Tiệp, anh H1 cúi người xuống và bỏ chạy. Sau khi anh H1 bỏ chạy, bị cáo T đã chiếm đoạt chiếc xe ô tô BKS 36C - 370.75 trị giá 605.880.000đồng của anh H1 mang về kho bãi cạnh nhà Kỳ A cất giấu. Như vậy, các bị cáo Phạm Văn T, Vũ Phạm Kỳ A, Phạm Việt T1Nguyễn Đình N đã có hành vi dùng chân tay đánh, dùng bình xịt hơi cay xịt vào đầu, mặt đe doạ rồi chiếm đoạt chiếc xe ô tô trị giá 605.880.000đồng của anh Trương Công H1. Với hành vi phạm tội nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 168 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2.2] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo thấy: Hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, bị cáo T cùng các bị cáo Kỳ A, T1N đã dùng vũ lực ngay tức khắc để chiếm đoạt tài sản của anh H1, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy, cần phải xét xử nghiêm minh mới có đủ tác dụng giáo dục, cải tạo riêng đối với từng bị cáo và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

[2.3] Xét vai trò, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy: Bị cáo T là người trực tiếp và rủ các bị cáo khác cùng phạm tội nên giữ vai trò chính; các bị cáo còn lại giữ vai trò đồng phạm với vai trò giúp sức. Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo TT1 đều có nhân thân tốt, đây là lần đầu phạm tội; tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội do bột phát, nguyên nhân dẫn đến việc các bị cáo phạm tội cũng do một phần lỗi của bị hại. Bên cạnh đó, hậu quả của vụ án đã được khắc phục, các xe ô tô đã được trả lại cho chủ sở hữu và chủ sở hữu không có yêu cầu gì nên không phải xem xét trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sản. Ngoài ra, bị cáo T có ông nội được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất, có bố đẻ tham gia quân đội và được tặng Bằng khen của Bộ Q1; bị cáo T1 có ông ngoại tham gia kháng chiến, bản thân bị cáo do bố mẹ đẻ bị mất sớm nên việc giáo dục và nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mà các bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; tình tiết tăng nặng, các bị cáo không phải chịu.

[2.4] Từ những phân tích, nhận định nêu trên thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo phạm tội “Cướp tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 168 Bộ luật Hình sự và buộc các bị cáo phải chịu hình phạt tù là có cơ sở. Tuy nhiên, mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với các bị cáo là có phần quá nghiêm khắc, bởi lẽ tài sản mà các bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi ngay để trả lại cho chủ sở hữu, bị cáo T do mong muốn sớm buộc bị hại trả lại số tiền đã vay trước đó nên dẫn đến việc cùng các bị cáo khác thực hiện hành vi phạm tội; đối với bị cáo T1 là người được rủ rê, chỉ tham gia thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức, không vì mục đích lợi nhuận của bản thân. Vì vậy, cần chấp nhận kháng cáo của các bị cáo TT1 theo đề nghị của Luật sư bào chữa, để xem xét giảm nhẹ cho mỗi bị cáo một phần hình phạt, nhằm tạo điều kiện, giúp đỡ các bị cáo tích cực cải tạo, sớm có cơ hội được trở về với gia đình và xã hội, làm công dân có ích, thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật Nhà nước ta đối với người phạm tội biết ăn năn, hối cải. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tại phiên tòa, không phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

[2.5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[3] Về án phí: Do kháng cáo của các bị cáođược chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, xử:

[1] Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phạm Văn TPhạm Việt T1. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2024/HS-ST ngày 14/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam đối với các bị cáo Phạm Văn TPhạm Việt T1.

Áp dụng điểm a khoản 4, khoản 6 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 50, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 18 (Mười tám) năm (06) tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2023.

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 50, Điều 58, khoản 2 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Việt T1 17 (Mười bảy) năm tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2023.

[2] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[3] Án phí: Các bị cáo Phạm Văn TPhạm Việt T1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSNDCC tại Hà Nội;
  • - TAND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Trại Tạm giam CA tỉnh Hà Nam;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Nam;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - Bị cáo (qua trại), bị hại;
  • - Lưu HS, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Quang Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 892/2024/HS-PT ngày 07/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về hình sự (cướp tài sản)

  • Số bản án: 892/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cướp tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 07/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T, T1 cướp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger