Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 892/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 16 - 7 - 2024

V/v tranh chấp Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Minh Loan

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Mai Lan

2. Bà Võ Thị Mai

Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thành Luân là Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2024 tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 288/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 213/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 196/2024/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Trần Minh N, sinh năm 1986. Địa chỉ: Số 54/26/36 Đường A, Phường B, Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim P, sinh năm 1985. Địa chỉ: Số 54/26/36 Đường A, Phường B, Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn ông Trần Minh N trình bày:

Ông và bà Nguyễn Thị Kim P tự nguyện quen biết, tìm hiểu, yêu thương nhau, rồi tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân Phường B, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 15, quyển số 01/2014 ngày 19/2/2014. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không cùng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp nên cả hai đã sống ly thân. Hai vợ chồng đã nhiều lần hàn gắn và quay về sống chung để giải quyết mâu thuẫn nhưng không thành. Nay tình cảm vợ chông không còn, mục đích của hôn nhân không đạt, nên ông yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị Kim P để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Không có

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim P trình bày (Theo bản tự khai ngày 17/4/2024 và Biên bản hòa giải ngày 13/5/2024):

Bà và ông Trần Minh N tự nguyện quen biết, tìm hiểu, yêu thương nhau, rồi tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân Phường B, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 15, quyển số 01/2014 ngày 19/2/2014. Sau khi kết hôn, quá trình vợ chồng sống chung không xảy ra mâu thuẫn, ông N cũng có nhiều mối quan hệ với nhiều người phụ nữ khác bên ngoài nhưng bà vẫn bỏ qua. Nay bà vẫn còn tình cảm với ông Trần Minh N nên không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Không có

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử:

Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về phiên toà sơ thẩm.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên toà hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71 và Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Ông Trần Minh N yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị Kim P nên quan hệ giải quyết trong vụ án là tranh chấp ly hôn, bà Nguyễn Thị Kim P hiện đang cư ngụ tại quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự đây là vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Kim P.

[3]. Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa ông Trần Minh N và bà Nguyễn Thị Kim P là hôn nhân tự nguyện và hợp pháp được pháp luật công nhận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 15, quyển số 01/2014 do Ủy ban nhân dân Phường B, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 19/02/2014.

Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc nhau. Ông Trần Minh N trình bày giữa ông và bà Nguyễn Thị Kim P bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp. Ông và bà Nguyễn Thị Kim P đã nhiều lần hàn gắn để giải quyết mâu thuẫn nhưng không có kết quả. Bà Nguyễn Thị Kim P trình bày ông Nguyễn Minh Nhựt có nhiều mối quan hệ với nhiều người phụ nữ khác, tuy nhiên bà vẫn còn tình cảm với ông Nguyễn Minh Nhựt và sẵn sàng bỏ qua để hàn gắn hôn nhân. Điều này thể hiện quan hệ hôn nhân giữa ông Trần Minh N và bà Nguyễn Thị Kim P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Về phía bà Nguyễn Thị Kim P đã được Tòa án triệu tập tham gia các phiên hòa giải nhằm tạo điều kiện cho ông Trần Minh N và bà Nguyễn Thị Kim P hàn gắn đoàn tụ, nhưng bà Nguyễn Thị Kim P vẫn không có mặt thể hiện bà Nguyễn Thị Kim P không có thiện chí giải quyết những mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn giữa ông Trần Minh N và bà Nguyễn Thị Kim P là có thật, đã trầm trọng, tình cảm không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Trần Minh N theo quy định tại Điều 51, Khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông Trần Minh N và bà Nguyễn Thị Kim P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông Trần Minh N phải chịu án phí về ly hôn là 300.000 đồng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật phí, lệ phí và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án.

[4]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 51, 54, 56, 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Minh N được ly hôn với bà Nguyễn Thị Kim P.

    Giấy chứng nhận kết hôn số 15, quyển số 01/2014 do Ủy ban nhân dân Phường B, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 19/02/2014 cho bà Nguyễn Thị Kim P và ông Trần Minh N không còn hiệu lực pháp luật.

  2. Về con chung: Không có.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Ông Trần Minh N và bà Nguyễn Thị Kim P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Trần Minh N phải chịu án phí về ly hôn là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng do ông Trần Minh N đã nộp theo biên lai thu số 0012754 ngày 15/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Trần Minh N đã nộp đủ án phí.
  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
  6. Về quyền kháng cáo: Ông Trần Minh N có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Nguyễn Thị Kim P vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND quận Gò Vấp;
  • - Chi cục THADS quận Gò Vấp;
  • - UBND Phường B, quận Gò Vấp;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Minh Loan

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 892/2024/HNGĐ-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 892/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger