Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 892/2024/HS-PT

Ngày: 23-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Minh Tâm
Các Thẩm phán Ông Nguyễn Văn Minh
Bà Trần Thị Hòa Hiệp

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đỗ Hồng Quân, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Thanh Sơn, Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 395/2024/TLPT – HS ngày 10 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo Nhỉn Sám M, do có kháng cáo của bị cáo, bị hại với Bản án hình sự sơ thẩm số 53/2024/HS-ST ngày 09/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 943/2024/QĐPT-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024.

Bị cáo có kháng cáo:

Nhỉn Sám M1, sinh năm 1953, tại Quảng Ninh; Tên gọi khác: Không có; Số CCCD: [...], cấp ngày 29/9/2022, tại Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ C2. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Số E, tổ A, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Chỗ ở hiện tại: Số C, tổ B, khu phố C, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ học vấn: Lớp 02/12; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ (Đảng, chính quyền): Không. Con ông Nhỉn A P, sinh năm: Không rõ (chết) và bà Lương S, sinh năm: Không rõ (chết). Gia đình có 02 chị em, bị cáo là thứ nhất; có chồng Nguyễn Văn M2, sinh năm 1940; có 02 người con, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 1991.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/02/2023 theo Lệnh bắt tạm giam số 01/LB-VP.CQCSĐT ngày 20/12/2022, của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ.

Đến ngày 28/6/2023, được áp dụng biện pháp Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 97/LC-VPCQCSĐT của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ (có mặt).

Người bào chữa theo yêu cầu của bị cáo: Luật sư Đặng Văn D - Chi nhánh Văn phòng L1 và cộng sự - thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ (có mặt).

Bị hại có kháng cáo: anh Bùi Văn L, sinh năm 1992; Địa chỉ thường trú: 1, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Văn M2, sinh năm 1940; Địa chỉ: Số C, tổ B, khu phố C, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
  2. Anh Nguyễn Hồng Â, sinh năm 1983; Địa chỉ thường trú: ấp B, xã B, huyện D, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
  3. Công ty TNHH T2 (tên cũ Công ty TNHH T2); Địa chỉ: B, tổ I, khu phố D, phướng A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đào Văn C, sinh năm 1960; Địa chỉ: B, tổ C, khu phố A A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

  1. Chị Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1990 (có mặt).
  2. Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1991 (có mặt).

Cùng địa chỉ: Số E, tổ A, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Hồng Â, sinh năm 1983, thường trú tại ấp B, xã B, huyện D, tỉnh Tây Ninh nắm được thông tin Nhỉn Sám M (mẹ vợ của Â) đang nhờ người làm giấy tờ thửa đất số 67, tờ bản đồ số 42, diện tích 9.196 m² tọa lạc tại phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để bán cho người khác. Nên  đã giới thiệu và rủ anh Bùi Văn L, sinh năm 1992 thường trú 10/4, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (bạn của Â) cùng góp tiền mua thửa đất trên với giá 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng) để bán kiếm lời. Do trước đó, được M chỉ vị trí thửa đất nên  dẫn anh L đi xem đất. Sau khi xem xong, anh L đã đồng ý góp tiền với  mỗi người là 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng) mua thửa đất của M. Do  không có tiền, nên  hỏi vay mượn của anh L số tiền 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng) để góp tiền mua chung thì anh L đồng ý. Đầu tháng 10/2020,  dẫn anh L đến gặp M để trao đổi mua thửa đất trên, lúc này M đưa cho anh L xem một tờ giấy biên nhận hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất số 5145/VPĐK-QSDĐ ngày 06/10/2007, do Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh Đồng Nai tiếp nhận hồ sơ và cấp cho M nên L đã đồng ý mua.

Ngày 13/10/2020, anh L đi cùng ông Bùi Văn T1 (cha của L) và chị Bùi Thị H1 (chị của L) đến nhà M để làm thủ tục mua bán đất. Sau khi thoả thuận, M viết

giấy tay bán thửa đất số 67, tờ bản đồ số 42, diện tích 9.196 m² tại phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cho anh Bùi Văn L với giá 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng). Sau khi nhận đủ tiền, M đưa cho anh L tờ giấy biên nhận số 5145/VPĐK-QSDĐ đồng thời, M làm hợp đồng ủy quyền cho anh L để liên hệ các cơ quan chức năng làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng thửa đất trên, M cam kết với anh L là thửa đất số 67 tờ bản đồ số 42 chưa bán cho ai khác và không có tranh chấp, vẫn thuộc quyền quản lý và sử dụng của gia đình M, nếu anh L không làm được thủ tục thì M cũng không trả lại số tiền 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng) cho anh L. Sau khi nhận được biên nhận số 5145/VPĐK-QSDĐ và Hợp đồng ủy quyền, anh L đến Ủy ban nhân dân phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất và trích lục thông tin về thửa đất số 67, tờ bản đồ số 42 thì được Ủy ban nhân dân phường A cung cấp Văn bản số 378 ngày 11/5/2021, với nội dung thửa đất số 67, tờ bản đồ số 42 thuộc các thửa đất 2901, 2850, 3010, 3011, 3012, 3013, 2956 tờ bản đồ địa chính số 02 (cũ) đã được Ủy ban nhân tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận số AC432699 ngày 25/7/2005 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 009814 ngày 22/12/2004, cho Công ty Trách nhiệm hữu hạT2 (TNHH ) Thương mại V.

Khi biết được thông tin trên, anh L đã đến gặp M và yêu cầu M trả lại số tiền 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng) nhưng M vẫn khẳng định thửa đất trên thuộc quyền quản lý và sử dụng của gia đình M, đồng thời không trả lại tiền cho anh L. Ngày 26/4/2022, anh L làm đơn tố cáo hành vi trên của M đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ.

Quá trình Điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ xác định:

  • Thửa đất số 67, tờ bản đồ số 42 đang thuộc quản lý, sử dụng của Công ty TNHH T2 từ năm 2004 (nay là Công ty T2) do ông Đào Văn C, sinh năm 1961, địa chỉ: 2, tổ A, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai là người đại diện theo pháp luật của Công ty.
  • Giấy biên nhận hồ sơ đăng ký sử dụng đất số 5145/VPĐK-QSDĐ ngày 06/10/2007, được cấp cho thửa đất số 30, tờ bản đồ số 46 tại xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai (nay là phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai).
  • Thửa đất số 30, tờ bản đồ số 46 gồm các thửa đất số 3471, 3472, 3473 và 3485 tờ bản đồ số 02 (cũ) tại xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai, diện tích 3640m² do Ủy ban nhân huyện L, tỉnh Đồng Nai cấp cho Nhỉn S1 Múi ngày 19/8/2005, số vào sổ H00340. Đến tháng 11/2007, M chuyển nhượng quyền sử dụng các thửa đất trên cho ông Lầu Nhật D1, sinh năm 1978, địa chỉ: Số E, M, phường A, quận A, thành phố Hồ Chí Minh, số biên nhận 6062/VPĐK-QSDĐ theo quy định.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra, Nhỉn Sám M thừa nhận thửa đất số 67, tờ bản đồ số 42 không biết rõ nguồn gốc chủ sử dụng, nhưng M đã viết giấy tay bán lại cho anh L. Đối với giấy biên nhận số 5145/VPĐK-QSDĐ ngày 06/10/2007, do Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh Đồng Nai tiếp nhận hồ sơ và cấp cho Múi là của thửa đất số 30, tờ bản đồ số 46 thì M đã chuyển nhượng cho người

khác (ông Lầu Nhật D1). Khi Múi thoả thuận bán thửa đất số 67, tờ bản đồ số 42 cho anh LÂ, M không bàn bạc gì trước với ông Nguyễn Văn M2 (chồng của M). Thời điểm đó, ông M2 đang bị bệnh nặng nằm trong phòng nên M không nói cho ông M2 biết gì về vụ việc mua bán thửa đất trên. Sau khi M viết giấy bán đất cho anh L thì M đưa tờ giấy bán đất cho ông M2 ký, M không nói với ông M2 biết là bán thửa đất nào, ông M2 cũng không hỏi M là ký giấy tờ gì, vì tin tưởng M nên ông M2 đã ký vào giấy bán đất. Ngoài ra, M cũng không bàn bạc gì với  (con rể M) về việc thửa đất trên đã bán.

Lời khai của bị can Nhỉn Sám M (bút lục số 378 - 382, 384 - 385, 387 - 392); Lời khai của bị hại Bùi Văn L (bút lục số 286 - 296). Lời khai người có nghĩa vụ liên quan Nguyễn Hồng  (bút lục số 366 - 369), Nguyễn Văn M2 (bút lục số 370 - 372). Lời khai người làm chứng: Lầu N (bút lục số 309 - 310), Bùi Văn T1, Bùi Thị H1, Nguyễn Thị Kim T, Châu Văn C1Đào Văn C (bút lục số 341 - 348).

Vật chứng của vụ án:

  • 01 (một) giấy biên nhận hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất số 5145/VPĐK-QSDĐ ngày 06/10/2007, do Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh Đồng Nai cấp cho Nhỉn Sám Múi (bản gốc).
  • 01 (một) giấy bán đất đề ngày 13/10/2020, giữa Nhỉn S, Nguyễn Văn M2 với bên mua Bùi Văn L. Mặt sau của giấy bán đất là nội dụng việc giao nhận tiền (bút lục số 307 - 308).

Biện pháp tư pháp:

Tiếp tục tạm giữ, lưu theo hồ sơ vụ án 01 (một) giấy biên nhận hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất số 5145/VPĐK-QSDĐ ngày 06/10/2007, do Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh Đồng Nai cấp cho Nhỉn Sám Múi (bản gốc). 01 (một) giấy bán đất đề ngày 13/10/2020, giữa Nhỉn S, Nguyễn Văn M2 với bên mua Bùi Văn L. Mặt sau của giấy bán đất là nội dụng việc giao nhận tiền.

Về trách nhiệm dân sự:

Hiện Nhỉn Sám M đã trả lại số tiền 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng) và bồi thường số tiền 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) cho anh Bùi Văn L, hiện anh L không có yêu cầu gì thêm.

Tại bản Cáo trạng số 188/CT-VKS-P2 ngày 06/9/2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Nhỉn Sám M về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 53/2024/HS-ST ngày 09/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã quyết định:

Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Tuyên bố: bị cáo Nhỉn S1 Múi phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, o, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt: bị cáo Nhỉn S1 Múi 07 (B) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án (trừ thời gian đã bị tạm giam từ ngày 01/02/2023 đến 28/6/2023).

Buộc bị hại Bùi Văn L hoàn trả lại cho anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị Kim T số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về áp dụng Luật thi hành án, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Ngày 02/3/2024, bị cáo Nhỉn S1 Múi có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 24/4/2024, bị hại Bùi Văn L có đơn kháng cáo đề nghị tăng nặng hình phạt đối với bị cáo M và sửa phần dân sự theo hướng không buộc bị hại trả lại số tiền 500.000.000 đồng cho anh H, chị T. Ngày 05/9/2024, bị hại Bùi Văn L có đơn rút kháng cáo yêu cầu tăng nặng hình phạt đối với bị cáo M, giữ nguyên kháng cáo về phần trách nhiệm dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử sửa phần bản án sơ thẩm theo hướng không buộc bị hại trả lại số tiền 500.000.000 đồng cho anh H, chị T.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Bị hại Bùi Văn L vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị Kim T có ý kiến tự nguyện không yêu cầu bị hại trả lại số tiền 500.000.000 đồng vì đây là tiền anh H, chị T tự nguyện bồi thường cho bị hại.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:

  • Đề nghị đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo tăng hình phạt của bị hại do bị hại đã rút kháng cáo.
  • Đối với kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt là không có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về tội danh, hình phạt đối với bị cáo.
  • Về phần trách nhiệm dân sự đề nghị sửa bản án theo hướng không buộc bị hại trả lại số tiền 500.000.000 đồng.

Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Án sơ thẩm xét xử bị cáo mức án 07 năm tù là quá nghiêm khắc. Bị cáo M có rất nhiều tình tiết giảm nhẹ như đã khắc phục hoàn toàn thiệt hại, bị cáo hiện đã hơn 71 tuổi, nhận thức kém về pháp luật, học vấn thấp. Trước khi xét xử phúc thẩm bị hại L cũng đã rút kháng cáo phần tăng hình phạt đối với bị cáo, các con của bị cáo đã bồi thường tổng cộng

2.500.000.000 đồng cho bị hại L, trong đó có 500.000.000 đồng là bồi thường thêm. Bản thân bị cáo có nhiều bệnh nền, cần mổ tim do hẹp van tim, có bệnh án của bệnh viện xác nhận. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ 01 phần hình phạt cho bị cáo.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo M đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Nhỉn Sám M và bị hại Bùi Văn L làm trong hạn luật định nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại Bùi Văn L có đơn xin rút một phần kháng cáo, không yêu cầu tăng nặng hình phạt đối với bị cáo M nữa và đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Khoản 3 Điều 342, Khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với kháng cáo yêu cầu tăng nặng hình phạt và tiến hành xét xử vắng mặt bị hại.

[3] Về nội dung:

[3.1] Xét kháng cáo của bị cáo Nhỉn S1 Múi:

[3.1.1] Về tội danh: Xét lời khai nhận tội của bị cáo Nhỉn S1 Múi tại phiên toà phúc thẩm là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ căn cứ pháp lý để kết luận:

Ngày 13/10/2020, tại số nhà E, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Bị cáo đã có thủ đoạn gian dối ký giấy bán thửa đất số 67, tờ bản đồ số 42, diện tích 9.196 m² tọa lạc tại phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cho anh Bùi Văn L. Mặc dù thửa đất trên bị cáo không có quyền quản lý và sử dụng, thực tế thửa đất số 67, tờ bản đồ số 42 thuộc phường A, thành phố B đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB009814 ngày 22/12/2004 và số AC432699 ngày 25/7/2005, cho Công ty trách nhiệm hữu hạn T2 (nay là Công ty T2) quản lý sử dụng. Nhưng vì muốn có tiền, để tạo lòng tin bị cáo đã nói dối với anh Bùi Văn L, Nguyễn Hồng  thửa đất này của bị cáo và đưa ra một giấy biên nhận hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất số 5145/VPĐK-QSDĐ ngày 06/10/2007, do Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh Đồng Nai tiếp nhận hồ sơ và cấp cho bị cáo không phải là thửa đất số 67, tờ bản đồ số 42 để bán cho anh L nhằm chiếm đoạt số tiền 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng).

Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ.

[3.1.2] Về hình phạt:

Hành vi của bị cáo N Sám Múi gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do đó cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa, răn đe chung.

Trong vụ án này, bị cáo M không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự như thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải; nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo là người dân tộc H2, trình độ văn hóa thấp, không am hiểu quy định pháp luật, khi phạm tội bị cáo già yếu, thường xuyên ốm đau, là người trên 70 tuổi phạm tội, hoàn cảnh gia đình khó khăn, chồng bị cáo bị bệnh nặng phải nằm thở oxy, bị cáo đã trả lại toàn bộ tiền cho bị hại, được bị hại bãi nại.

Bản án sơ thẩm áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, xử phạt bị cáo mức án 7 (bảy) năm tù là phù hợp, không nặng như đơn kháng cáo của bị cáo đã nêu.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không có tình tiết giảm nhẹ nào mới, do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên tội danh, hình phạt như bản án sơ thẩm đã xét xử.

[3.2] Xét kháng cáo của bị hại Bùi Văn L:

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị hại Bùi Văn Long cung c thêm cho Tòa án Văn bản xác nhận bồi thường thiệt hại ngày 27/8/2024, nội dung anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị Kim T xác nhận số tiền 500.000.000 đồng là tiền gia đình bị cáo N Sám Múi tự nguyện bồi thường cho bị hại Bùi Văn L.

Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị Kim T trình bày số tiền 500.000.000 đồng là tiền của anh chị thay bị cáo N Sám Múi tự nguyện bồi thường cho bị hại Bùi Văn L, anh chị không yêu cầu bị hại L trả lại số tiền này và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo M.

Như vậy, việc anh H, chị T bồi thường số tiền 500.000.000 đồng cho anh Bùi Văn L là thỏa thuận dân sự riêng của các đương sự, không thuộc phạm vi giải quyết trong vụ án hình sự này. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định số tiền 500.000.000 đồng là tiền bị hại Bùi Văn L yêu cầu tính lãi và buộc anh L phải hoàn trả lại cho anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Thị Kim T là không chính xác, cần sửa bản án sơ thẩm về nội dung này.

[4] Từ những phân tích, nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần sửa một phần bản án sơ thẩm về phần dân sự, giữ nguyên phần hình sự về tội danh, hình phạt đối với bị cáo Nhỉn Sám M.

[5] Lời đề nghị của luật sư bào chữa cho bị cáo không phù hợp với nhận định của HĐXX nên không được chấp nhận. Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

[6] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nhỉn Sám M là người cao tuổi nên được miễn án phí hình sự phúc thẩm.

[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo yêu cầu tăng nặng hình phạt của bị hại Bùi Văn L.

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,

Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nhỉn Sám M.

Chấp nhận kháng cáo về phần dân sự của bị hại Bùi Văn L.

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 53/2024/HS-ST ngày 09/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Tuyên xử:

[1] Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Tuyên bố: bị cáo Nhỉn S1 Múi phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, o, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt: bị cáo Nhỉn S1 Múi 07 (B) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án (trừ thời gian đã bị tạm giam từ ngày 01/02/2023 đến 28/6/2023).

[2] Về trách nhiệm dân sự: Không chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị Kim T về việc yêu cầu bị hại Bùi Văn L phải hoàn trả lại số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) vì đây là số tiền đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại Bùi Văn L theo Văn bản xác nhận bồi thường thiệt hại ngày 27/8/2024.

[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Miễn án phí hình sự phúc thẩm cho bị cáo Nhỉn Sám M3.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày thời hạn hết kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.

[5] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

CÁC THẨM PHÁN THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Minh

Trần Thị Hòa Hiệp

Vương Minh Tâm

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao
  • tại Tp Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Cục THADS tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Công an tỉnh Đồng Nai
  • - Bị cáo;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Vương Minh Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 892/2024/HS-PT ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 892/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo yêu cầu tăng nặng hình phạt của bị hại Bùi Văn L. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nhỉn Sám M. Chấp nhận kháng cáo về phần dân sự của bị hại Bùi Văn L. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 53/2024/HS-ST ngày 09/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger