Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

Bản án số: 890/2024/DSPT

Ngày: 30-9-2024

V/v “Tranh chấp dân sự hợp đồng tặng

cho quyền sử dụng đất, đòi tài sản, hủy

hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất,

hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng

đất".

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Tuấn Vinh

Các Thẩm phán:

Ông Trần Văn Đạt

Bà Nguyễn Thị Thụy Vũ

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Nhi – Thư ký viên.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh:

Nguyễn Vi Dũng - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong các ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại điểm cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và điểm cầu Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 261/2024/TLPT-DS ngày 10 tháng 04 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 02/2024/DS-ST ngày 30 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân tỉnh Trà Vinh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 2595/2024/QĐPT-DS ngày 08 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1964; địa chỉ: Số H P, khóm D, phường A, thành phố T, tỉnh Trà Vinh ( Có mặt).

Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị T: Bà Nguyễn Thị Ngọc M, sinh năm 1986; địa chỉ: Khóm H, phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh, theo văn bản ủy quyền ngày 24/3/2023 ( Có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh T1 - Luật sư đoàn luật sư tỉnh B ( Có mặt).

* Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1975; địa chỉ: Ấp S, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh ( Có mặt).

* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Trà Vinh; địa chỉ trụ sở: Số I L, phường B, thành phố T, tỉnh Trà Vinh ( Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

- Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T; địa chỉ trụ sở: Số D M, khóm C, phường F, thành phố T, tỉnh Trà Vinh ( Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

- Ngân hàng thương mại cổ phần Đ - Chi nhánh T7; địa chỉ: Số B L, khóm C, phường B, thành phố T, tỉnh Trà Vinh ( Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

- Bà Phạm Thị Ngọc T3, sinh năm 1982; địa chỉ: Ấp S, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh ( Vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của bà Phạm Thị Ngọc T3: Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1975; địa chỉ: Ấp S, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh, theo văn bản ủy quyền ngày 05/9/2022

- Ông Võ Tuấn T4, sinh năm 1961; địa chỉ: Số D N, khóm D, phường A, thành phố T, tỉnh Trà Vinh ( Vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của ông Võ Tuấn T4: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1964; địa chỉ: H P, khóm D, phường A, thành phố T, tỉnh Trà Vinh, theo văn bản ủy quyền ngày 01/02/2021 ( Có mặt).

*Người kháng cáo: Nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T và người đại diện hợp pháp của bà T là chị Nguyễn Thị Ngọc M trình bày: Bà Nguyễn Thị T có thửa đất số 2560, diện tích 2.370m², tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại ấp S, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh được Ủy ban nhân dân thị xã T (nay là thành phố T) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Nguyễn Thị T vào ngày 16/02/2004. Nguồn gốc đất do bà T nhận chuyển nhượng của ông Nhan Đồng C vào ngày 15/11/2002, liền kề là đất của ông Nguyễn Văn T2 thửa số 1653, diện tích 2.330m², tờ bản đồ số 8 (được cấp đổi thành thửa 712 diện tích 2.708,5m², tờ bản đồ số 37), nguồn gốc thửa đất 1653 do ông T2 nhận chuyển nhượng từ bà Võ Thị Ngọc A. Khi bà T có nhu cầu xây dựng hàng rào trên đất theo hiện trạng mốc ranh trước đây giữa bà T với bà A đã thỏa thuận, thì ông T2 ngăn cản cho rằng bà T xây dựng hàng rào là lấn sang phần đất của ông T2, từ đó phát sinh tranh chấp, bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông T2 bà T3 trả lại diện tích thực đo 612,6m² thuộc một phần thửa đất 2560 nằm trong tổng diện tích 2.370m² và công nhận diện tích đất tranh chấp cho bà; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông T2 đối với thửa đất 712, diện tích 2.708,5m², tờ bản đồ số 37, tọa lạc tại ấp S, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Đối với tài sản trên đất là cây trồng sẵn trên đất bà T yêu cầu phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ai thì người đó có quyền sở hữu toàn bộ tài sản gắn liền với đất. Bà T thống nhất theo kết quả đo đạc ngày 12/12//2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T kèm theo sơ đồ khu đất, đồng thời bà yêu cầu rút lại một phần khởi kiện diện tích đối với diện tích 140,2m², thuộc một phần thửa 712, tờ bản đồ số 37 theo tài liệu đo đạc năm 2004, như vậy tổng diện tích bà T yêu cầu ông T2 trả là 514,9m², thuộc thửa 2560.

Bị đơn ông Nguyễn Văn T2 trình bày: Sau khi ông và vợ ông là bà Phạm Thị Ngọc T3 kết hôn thì được cha vợ là ông Phạm Văn T5 chuyển nhượng lại diện tích đất 600m², khi nhận chuyển nhượng trên đất có sẵn căn nhà cấp bốn, xung quanh có cái ao và một số cây trồng trên đất, do là con trong nhà nên không có làm giấy tờ chuyển nhượng. Nguồn gốc diện tích 600m² ông T5 nhận chuyển nhượng từ ông Lê Hoàng O vào năm 1999 có làm giấy tay, diện tích đất này ông cũng không biết thuộc thửa đất nào, giấy tờ ai đứng tên. Đến năm 2016, ông có nhận chuyển nhượng của bà Võ Thị Ngọc A thửa đất 1653, diện tích 2.330m², tờ bản đồ số 8 (được cấp đổi thành thửa 712 diện tích 2.708,5m², tờ bản đồ số 37), tọa lạc tại ấp S, xã L, thành phố T và được Ủy ban nhân dân thành phố T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp. Sau đó, bà T có hỏi ông xin cặm một cột ranh qua bên phần đất của ông để làm hàng rào, nhưng ông không đồng ý vì trên đất bà T đã có trụ ranh đá cặm sẵn đúng vụ trí đất của bà T kể từ khi địa chính xuống đo đạc cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại cho ông, do đó xảy ra tranh chấp. Nay ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà T, ông cũng không có yêu cầu phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của bà T, thống nhất kết quả khảo sát đo đạc của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T. Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 712 diện tích 2.708,5m², tờ bản đồ số 37, tọa lạc tại ấp S, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh thì ông đã thế chấp để vay tiền tại Chi nhánh Ngân hàng B, nhưng hiện nay ông đã trả nợ xong hết cho ngân hàng và đã nhận về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên do đất này còn tranh chấp nên cơ quan có thẩm quyền chưa thực hiện xoá thế chấp cho ông.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn: Bà Phạm Thị Ngọc T3 ủy quyền cho ông Nguyễn Văn T2 thống nhất với lời trình bày của ông T2.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố T vắng mặt có ý kiến tại Công văn số 3184/UBND-NC ngày 05/8/2022 như sau: Ngày 16/02/2024, Ủy ban nhân dân thị xã T (nay là thành phố T) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Võ Thị Ngọc A đối với thửa đất 1653 diện tích 2.330m², tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại ấp S, xã L, thành phố T được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 11 của Nghị định số 17/1999/NĐ-CP ngày 29/3/1999 của Chính phủ về thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất và thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất. Ngày 27/6/2016, chỉnh lý chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn T2 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T (thực hiện theo Công văn số 874/CNTPTV ngày 06/7/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T). Giấy chứng nhận quyền dụng đất của ông Nguyễn Văn T2 được cấp ngày 25/7/2016 thuộc thẩm quyền của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T.

Ngày 16/02/2004, Ủy ban nhân dân thị xã T (nay là thành phố T) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Nguyễn Thị T đối với đất số 2560 diện tích 2.370m², tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại ấp S, xã L, thành phố T là đúng quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T vắng mặt có ý kiến tại Công văn số 1534/STNMT-VPĐKĐĐ ngày 09/6/2022 như sau: Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa 712 diện tích 2.708,5m², tờ bản đồ số 37, tọa lạc tại ấp S, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh cho ông Nguyễn Văn T2 ngày 25/7/2016 là đúng theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng thương mại cổ phần Đ - Chi nhánh T7 xác định ông Nguyễn Văn T2 và bà Phạm Thị Ngọc T3 đã trả tất toán nợ vay ngày 27/12/2022 ngân hàng đã trả lại cho ông T2 và bà T3 là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với với thửa 712 diện tích 2.708,5m², tờ bản đồ số 37, tọa lạc tại ấp S, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh nên ngân hàng không có yêu cầu.

Bản án dân sự sơ thẩm số: 02/2024/DS-ST ngày 30 tháng 01 năm 2024, Toà án nhân dân tỉnh Trà Vinh đã quyết định:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Trà .
  2. Ông Nguyễn Văn T2 được tiếp tục sử dụng 472,4m² thuộc một phần thửa 712, tổng diện tích 2.708,5m², tờ bản đồ số 37, tọa lạc tại ấp S, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (ký hiệu A diện tích 465,7m², B diện tích 6,7m², đất có vị trí tứ cận như sau:
    • - Phần A: Hướng Đông giáp thửa 2560, kích thước 4,8m; hướng Tây giáp kênh, kích thước 6.25m; hướng Nam giáp phần A1 của thửa 712, kích thước 86,0m; hướng Bắc giáp phần D của thửa 2560 kích thước 83,0m.
    • - Phần B: Diện tích 6,7m².

    (Kèm theo sơ đồ vị trí khu đất tranh chấp)

  3. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 2560 diện tích 2.370m², tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại xã L, thị xã T (nay là thành phố T) tỉnh Trà Vinh) do Ủy ban nhân dân thị xã T (nay là thành phố T) cấp cho hộ bà Nguyễn Thị T ngày 16/02/2004 để điều chỉnh cấp lại đúng quy định pháp luật. Bà Nguyễn Thị T được quyền đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành các thủ tục theo quy định để điều chỉnh diện tích đất theo phần quyết định của bản án này khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Ông Nguyễn Văn T2 được tiếp tục quản lý, sử dụng các cây trồng trên đất gồm 12 cây dừa (dưới 05 năm tuổi); 15 cây bưởi; 20 buội chuối; 05 cây mai; 01 cây chanh.

Để đảm bảo cho việc thi hành án, khi bản án có hiệu lực pháp luật, các đương sự có nghĩa vụ giữ nguyên hiện trạng, không được thay đổi đất và các tài sản trên đất dưới bất kỳ hình thức nào khi chưa được sự đồng ý của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

  1. Đình chỉ phần yêu cầu của bà Nguyễn Thị T rút lại phần tranh chấp đối với diện tích 140,2m² (ký hiệu A1), thuộc một phần thửa đất số 712, tờ bản đồ số 37, tọa lạc tại ấp S, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.

Ngoài ra, bản án còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 31/01/2024 nguyên đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo, giữ nguyên lời trình bày như tại cấp sơ thẩm, xác định phần đất tranh chấp chuyển nhượng từ bà Ngọc A sau đó nguyên đơn đã được cấp Giấy chứng nhận QSD đất 2.370 m2. Việc cấp chủ quyền cho bà T đúng luật định. Đối với việc chuyển nhượng từ bà Ngọc A qua ông T2 là không đúng luật, tại thời điểm chuyển nhượng, Giấy chứng nhận của bà Ngọc A đã quá hạn nhưng cơ quan có thẩm quyền vẫn chấp nhận cho chuyển nhượng. Đối với việc bà T ký giáp ranh cho ông T2, việc ký này là do bà T sơ ý ký khống khi chưa có thông tin, sơ đồ, có chứng cứ là sự xác nhận của người giáp ranh là bà N và bưu điện thành phố T xác định thời điểm ký giấy 11/7/2016 tôi đang có mặt tại trụ sở Bưu điện do đó Bản mô tả ranh giới là không có giá trị.

Về tố tụng cấp sơ thẩm có vi phạm là không đưa Văn phòng công chứng đã chứng nhận hợp đồng chuyển nhượng giữa bà Ngọc A và ông T2 vào tham gia tố tụng, Tòa án sơ thẩm tự hủy Giấy chứng nhận cấp cho bà T khi không có yêu cầu là vượt quá yêu cầu khởi kiện, không cho đối chất việc ký khống biên bản mô tả ranh giới mà đưa ra phán quyết là có thiếu sót, bản án không mô tả vị trí, sơ đồ phần đất tranh chấp dẫn đến không thể thi hành án. Đề nghị hủy án sơ thẩm.

Bị đơn trình bày: Bản án sơ thẩm là có căn cứ, đề nghị y án.

Đại diện Viện kiểm sát trình bày:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử, các đương sự đã tuân thủ đầy đủ các quy định của bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung kháng cáo: Cấp sơ thẩm đã đảm bảo về mặt tố tụng, không có sự vi phạm.

Xét, bà T đã ký giáp ranh đất, ranh giới đất đã cắm các trụ đá từ trước cùng các lời khai, tài liệu chứng khác thể hiện việc cấp Giấy chứng nhận cho ông T2 là đúng luật định. Bản án sơ thẩm là có căn cứ đề nghị không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo nằm trong hạn luật định và hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét nội dung kháng cáo:

Xét, thửa đất số 2560, diện tích 2.370m², tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại ấp S, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh là của bà Nguyễn Thị T nhận chuyển nhượng từ ông Nhan Đồng C vào ngày 15/11/2002 và được Ủy ban nhân dân thị xã T (nay là thành phố T) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Nguyễn Thị T vào ngày 16/02/2004.

Thửa 712 diện tích 2.708,5m², tờ bản đồ số 37, toạ lạc tại ấp S, xã L, thành phố T là của vợ chồng ông Nguyễn Văn T2 và bà Phạm Thị Ngọc T6, trong đó: Một phần đất nhận chuyển nhượng lại của ông Phạm Văn T5 (cha vợ của ông T2) diện tích 600m², phần đất này có nguồn gốc trước đây ông T5 nhận chuyển nhượng của ông Lê Hoàng O diện tích 600m² vào năm 1999, có giấy tay chuyển nhượng đất, khi nhận chuyển nhượng thì trên đất có sẵn căn nhà cấp bốn, xung quanh có cái ao và một số cây trồng trên đất, do là con trong nhà nên giữa ông T5 và ông T2 không có làm giấy tờ chuyển nhượng (hiện trạng vẫn còn nền nhà, cái ao cùng một số cây trồng trên đất ông T2 quản lý, sử dụng) và một phần ông T2 nhận chuyển nhượng của bà Võ Thị Ngọc A năm 2016 thửa đất 1653, diện tích 2.330m², liền kề phần đất trước đây ông T5 mua của ông O. Sau khi nhận chuyển nhượng thửa đất số 1653 của bà Ngọc A, ông T2 đã yêu cầu cơ quan đăng ký đất đai xuống khảo sát, đo đạc, cặm trụ đá và ký giáp ranh với các hộ liền kề khi đó có bà Nguyễn Thị T, bà Đỗ Thị N1 trực tiếp chỉ ranh và ký tên xác nhận, đến ngày 25/7/2016 ông T2 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp đổi hai phần đất ông nhận chuyển nhượng nêu trên thành thửa 712 diện tích 2.708,5m², tờ bản đồ số 37.

Xét nguyên nhân dẫn đến tranh chấp thửa 2560 của bà T và thửa 712 của ông T2 có nguồn gốc chiếc từ thửa lớn 1653 của ông N2 Đồng Chuối diện tích 4.700m², trước đây ông C thỏa thuận miệng chuyển nhượng lại cho ông Lê Hoàng O không làm giấy sang nhượng, ông O giữ lại 600m² cất nhà, đào ao lên líp trồng cây, phần còn lại của thửa 1653 năm 2004 ông O chuyển nhượng một phần cho bà Võ Thị Ngọc A, năm 2013 bà A chuyển nhượng cho bà T một phần, một phần cho ông T2. Do giữa ông O và C không làm thủ tục sang nhượng từ đầu nên khi ông O chuyển nhượng đất cho bà A thì ông C là người đứng ra ký hợp đồng chuyển nhượng, trong đó có đất của ông O đã chuyển nhượng cho ông T5 không được trừ ra, nên năm 2016 ông T2 cấp đổi quyền sử dụng đất được cấp đổi thành thửa 712 diện tích từ 2.330m² tăng lên 2.708,5m². Việc này được ông Nhan Thế D (con của ông Nhan Đồng C hiện 99 tuổi già yếu, không còn nhận thức), ông Lê Hoàng O, ông Phạm Văn T5 thừa nhận ông O có chuyển nhượng đất cho ông T5, Trưởng Ban N3, xã L ông Kiên Sô H xác nhận việc chuyển nhượng và xác định các bên có căm trụ đá để phân ranh, ngoài phần 600m² thì ông O chuyển nhượng cho bà Ngọc A, bà A chuyển nhượng lại cho bà T2 và ông T.

Xét về diện tích đất tranh chấp thể hiện tại Công văn số 1177/VPĐKĐĐ-KTĐC ngày 12/12/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T xác định phần đất tranh chấp có diện tích là 612,6m² có 03 phần trong này: Phần A diện tích 465,7m² theo tư liệu đo đạc năm 1992 thuộc thửa 2560 của bà Nguyễn Thị T, theo tư liệu đo đạc năm 2004 thuộc thửa 712 của ông Nguyễn Văn T2; Phần B có diện tích 6,7m² theo tư liệu đo đạc năm 1992 thuộc thửa 2560 của bà T, theo tư liệu đo đạc năm 2004 của ông T2. Riêng phần A1 có diện tích 140,2m² thuộc thửa 712 của ông T2, tại phiên hòa giải ngày 27/12/2023 (BL 304) bà T xin rút lại phần này không tranh chấp Hội đồng xét xử xét thấy việc bà T rút yêu cầu tranh chấp là hoàn toàn tự nguyện nên đình chỉ đối với yêu cầu này. Xét bản chất của vụ việc tranh chấp thì giữa đất của ông T2 và bà T có sự tăng giảm về tư liệu qua các thời kỳ đo đạc. Tại công Văn số 549/VPĐKĐĐ-KTĐC ngày 12/9/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T xác định qua kiểm tra hồ sơ cấp đổi và chồng ghép tư liệu 1992 và đo đạc chính quy năm 2004 thì việc cấp đổi thửa 712 cho ông T2 có trùm lên thửa 2560 của bà T, nguyên nhân do 02 tài liệu đo đạc khác nhau, một loại tài liệu đo đạc năm 1992 theo dạng tài liệu giấy tài kiệu đo đạc 2004 dạng số vì vậy quá trình chồng ghép có sự nhầm lẫn. Tại Công văn số 29/VPĐKĐĐ-KTĐC ngày 12/01/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai kèm theo Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất đã thể hiện rõ quá trình khảo sát để cấp lại thửa 712 có sự xác định lại ranh đất theo hiện trạng giữa các bên sử dụng đất, nên việc cấp giấy chứng nhận thửa 712 cho ông T2 là đúng trình tự, thủ tục theo quy định. Theo Biên bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 11/7/2016 có chữ ký xác nhận và ghi ý kiến đồng ý của bà Nguyễn Thị T, là chủ sử dụng đất liền kề, sơ đồ mô tả thửa đất 712 của ông T2 có chiều ngang cạnh giáp kênh là 26,41m; chiều ngang giáp đường đất có hai đoạn, một đoạn 13,97m và một đoạn 20,89m (đúng với sơ đồ thửa đất của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 712 ông T2 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T ngày 25/7/2016). Đối chiếu với kết quả khảo sát đo đạc tại Sơ đồ khu đất kèm theo Công văn số 1177/VPĐKĐĐ-KTĐC ngày 12/12/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T, có kết quả như sau: Thửa 712 chiều ngang giáp kênh thực đo 20,20m, phần giáp đường đất thực đo là 22,1m; phần đất tranh chấp có chiều ngang giáp kênh là 6,25m, có chiều ngang giáp đường đất gồm 02 đoạn: Một đoạn 4,8m và một đoạn 3,1m; như vậy nếu cộng cả phần đất tranh chấp vào phần thực đo thì thửa 712 có chiều ngang vẫn thiếu so với Biên bản cặm ranh và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 712 của ông T2, việc thửa đất 712 giảm diện tích so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do sự chỉ ranh giữa các bên.

Như vậy, việc bà T ký tên và ghi đồng ý vào Biên bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 11/7/2016 là đã có xem xét xác định ranh giới, hiện trạng đất và đã thống nhất ranh giới, mốc giới sử dụng của mỗi bên, hiện tại các trụ đá vẫn còn nguyên hiện trạng, không có sự chuyển dịch, phần đất tranh chấp từ khi mua của ông Hoàng O năm 1999, gia đình ông T2 đã sử dụng ổn định, cất nhà và trồng cây trên đất cho đến nay (hiện trạng trên đất vẫn còn nền nhà cũ như ông T2 trình bày khi nhận chuyển nhượng lại đất từ ông T5 thì trên đất đã có sẵn nhà, cái ao và cây cối), gia đình bà T không có ngày nào quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp này, xét thấy việc cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đất cho gia đình ông T2 là đúng đối tượng sử dụng đất, đúng quy định tại khoản 1 Điều 101 của Luật đất đai 2013.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy bà T khởi kiện yêu cầu ông T2 trả lại cho diện tích 514,9m² là không có căn cứ, việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông T2 thửa đất 712, diện tích 2.708,5m², tờ bản đồ số 37, tọa lạc tại ấp S, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh, yêu cầu ông T2 trả lại phần đất tranh chấp cho bà là không có cơ sở chấp nhận. Để đảm giải quyết mang tính toàn diện của vụ kiện đúng hiện trạng sử dụng và diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà T, Cấp sơ thẩm xem xét hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 2560, diện tích 2.370m², tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại ấp S, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh được Ủy ban nhân dân thị xã T (nay là thành phố T) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Nguyễn Thị T vào ngày 16/02/2004 là phù hợp.

[3] Đối với các nội dung khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xét.

[4] Do không được chấp nhận kháng cáo, bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

I/ Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị T, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 30 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

Căn cứ khoản 2 Điều 26, Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 92, khoản 4 Điều 91, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; khoản 2 Điều 166 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 101, 203 của Luật đất đai 2013; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTV QH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Trà .
  2. Ông Nguyễn Văn T2 được tiếp tục sử dụng 472,4m² thuộc một phần thửa 712, tổng diện tích 2.708,5m², tờ bản đồ số 37, tọa lạc tại ấp S, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (ký hiệu A diện tích 465,7m², B diện tích 6,7m², đất có vị trí tứ cận như sau:
    • - Phần A: Hướng Đông giáp thửa 2560, kích thước 4,8m; hướng Tây giáp kênh, kích thước 6.25m; hướng Nam giáp phần A1 của thửa 712, kích thước 86,0m; hướng Bắc giáp phần D của thửa 2560 kích thước 83,0m.
    • - Phần B: Diện tích 6,7m².

    (Kèm theo sơ đồ vị trí khu đất tranh chấp)

  3. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 2560 diện tích 2.370m², tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại xã L, thị xã T (nay là thành phố T) tỉnh Trà Vinh) do Ủy ban nhân dân thị xã T (nay là thành phố T) cấp cho hộ bà Nguyễn Thị T ngày 16/02/2004 để điều chỉnh cấp lại đúng quy định pháp luật. Bà Nguyễn Thị T được quyền đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành các thủ tục theo quy định để điều chỉnh diện tích đất theo phần quyết định của bản án này khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Ông Nguyễn Văn T2 được tiếp tục quản lý, sử dụng các cây trồng trên đất gồm 12 cây dừa (dưới 05 năm tuổi); 15 cây bưởi; 20 buội chuối; 05 cây mai; 01 cây chanh.

Để đảm bảo cho việc thi hành án, khi bản án có hiệu lực pháp luật, các đương sự có nghĩa vụ giữ nguyên hiện trạng, không được thay đổi đất và các tài sản trên đất dưới bất kỳ hình thức nào khi chưa được sự đồng ý của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

  1. Đình chỉ phần yêu cầu của bà Nguyễn Thị T rút lại phần tranh chấp đối với diện tích 140,2m² (ký hiệu A1), thuộc một phần thửa đất số 712, tờ bản đồ số 37, tọa lạc tại ấp S, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
  2. Về chi phí phí tố tụng: Tổng chi phí thẩm định tại chỗ và yêu cầu cung cấp thông tin là 20.968.575 đồng (hai mươi triệu, chín trăm sáu mươi tám nghìn, năm trăm bảy mươi lăm đồng), buộc bà Nguyễn Thị T phải chịu số tiền này, bà T đã nộp đủ.

Ông Nguyễn Văn T2 không phải chịu chi phí tố tụng.

  1. Về án phí dân sự Buộc bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 3.055.000 đồng (ba triệu, không trăm năm mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai số 0003130 ngày 15/01/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh, hoàn trả cho bà T số tiền trên lệch 2.755.000 đồng (hai triệu, bảy trăm năm mươi lăm nghìn đồng) nhận tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.

Ông Nguyễn Văn T2 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

II/ Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm được khấu trừ số tiền đã nộp tại Biên lai tạm ứng số 0002553 ngày 02/02/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Trà Vinh.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp cao tại TPHCM
  • - TAND tỉnh Trà Vinh
  • - Cục THADS tỉnh Trà Vinh
  • - Đương sự
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Tuấn Vinh

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Đạt

Nguyễn Thị Thụy Vũ

Dương Tuấn Vinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 890/2024/DSPT ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp dân sự hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, đòi tài sản, hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 890/2024/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp dân sự hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, đòi tài sản, hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger