Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 890/2024/HS-PT

Ngày: 23 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Toàn
Các Thẩm phán: Ông Chung Văn Kết
Ông Hoàng Minh Thịnh

Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 663/2024/TLPT- HS ngày 24 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị Thúy N do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thúy N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 288/2024/HS-ST ngày 19/6/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Thị Thúy N; sinh năm: 1994; tại tỉnh Bình Định; thường trú: 193/2/31 Đường số F, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hoá: 12/12; giới tính: nữ; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh C và bà Tô Thị Út E; có chồng (là bị cáo Nguyễn Anh T trong vụ án) và 02 con sinh năm 2014 và năm 2023; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: bị Ủy ban nhân dân Quận A1, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 07/QĐ-XPVPHC ngày 03/01/2020 về hành vi kinh doanh hàng hóa nhập lậu. Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, “có mặt”.

- Người bào chữa: Luật sư Tô Bá T1, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. Có mặt.

Ngoài ra còn có bị cáo khác không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 15 giờ 00 phút ngày 24/12/2022, Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Chi cục Hải quan sân bay quốc tế T6 tiến hành kiểm tra đối với Nguyễn Anh T khi làm thủ tục nhập cảnh vào Việt Nam trên chuyến bay QH326 từ B (Thái Lan) về sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất Thành phố H (sau đây viết tắt sân bay T). Qua kiểm tra phát hiện T vận chuyển 02 kiện hành lí kí gửi (mang tag: 1P549268 tên Nguyễn Anh T; tag: 1P554363 tên Nguyễn Minh T2) bên trong chứa 45 vỏ Iphone 14 ProMax rỗng và bánh kẹo các loại. Tiến hành kiểm tra trong người T phát hiện có 12 máy điện thoại Iphone 14 ProMax, mới 100% được T quấn quanh đai giấu bên trong người.

Lời khai ban đầu Nguyễn Anh T thừa nhận đã thuê Nguyễn Minh T2 (là em vợ của T) đi Thái Lan để mua gom điện thoại Iphone mới các loại đem về Việt Nam để T cùng vợ là Nguyễn Thị Thúy N bán kiếm lời. T và N cùng kinh doanh điện thoại tại cửa hàng K1 (địa chỉ H G, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh). Mỗi điện thoại Iphone 14 ProMax T mua tại Thái Lan giá khoảng 31.000.000 đồng và đem về Việt Nam bán lại với giá khoảng 33.000.000 đồng. T cùng Nguyễn Minh T2 mở các hộp điện thoại Iphone mới (còn seal) lấy điện thoại ra quấn quanh người để cất giấu, còn các hộp điện thoại rỗng thì T và T2 để kẹo vào bên trong hộp, bên ngoài hộp ngụy trang bằng các loại bánh kẹo khác nhau để khi đi qua Hải quan thì không bị phát hiện. T khai 45 hộp điện thoại trong hành lý ký gửi đều có điện thoại kèm theo, 12 cái điện thoại T đem theo đã bị phát hiện thu giữ trong người, còn 33 cái điện thoại Iphone 14 Promax còn lại do T2 mang theo, đã đi qua lực lượng Hải quan mà không bị phát hiện. Do T2 bị giữ lại, nên biết số điện thoại của T2 mang theo được cất giấu thế nào, tại đâu.

Tuy nhiên, tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, T thay đổi lời khai, chỉ khai nhận hành vi vận chuyển 12 điện thoại di động Iphone 14 Promax do T thu mua từ Thái Lan đem về Việt Nam để bán kiếm lời nhưng không khai báo hải quan. Đối với 33 vỏ hộp điện thoại Iphone 14 Promax bị phát hiện và thu giữ không có máy điện thoại đi kèm, T đã gửi máy điện thoại cho một người bạn của T cư trú tại Thái Lan (T khai không rõ nhân thân, lai lịch, chỉ biết nhà ở gần trung tâm thương mại C2).

Nguyễn Anh T và Nguyễn Thị Thúy N khai nhận: tháng 5/2020, T cùng N mở cửa hàng kinh doanh điện thoại di động các loại (chủ yếu là Iphone) tên Khoa Thiên M, địa chỉ H G, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh do N đứng tên chủ hộ kinh doanh. Từ tháng 9/2022, T bắt đầu đi Thái Lan để mua điện thoại Iphone mới về Việt Nam bán kiếm lời, ban đầu T mua số lượng ít, mỗi chuyến từ 4-5 điện thoại, sau đó tăng lên 10-15 cái để nguyên hộp, nhằm né tránh nộp thuế, không khai báo hải quan. Nguồn gốc tiền để mua điện thoại là do N đưa tiền mặt và chuyển khoản cho T, N biết rõ việc T đi Thái Lan mua điện thoại Iphone 14 Promax đem về Việt Nam để bán kiếm lời mà không khai báo hải quan. T và N móc nối, thỏa thuận với Lê Văn N1 (là nhân viên kỹ thuật phụ trách bảo dưỡng máy bay tại Sân bay T thuộc Công ty TNHH Một thành viên K2 (VAECO) để vận chuyển trái phép số lượng lớn điện thoại Iphone 14 Promax do T mua từ Thái Lan ra khỏi sân bay T mà không khai báo hải quan. Phương thức thực hiện: N1 cung cấp lịch trực bảo dưỡng máy bay của N1 cho T để T sẽ đặt vé máy bay về mang theo điện thoại cùng mã chuyến bay thuộc lịch trực bảo dưỡng của N1. Khi máy bay vừa hạ cánh ở sân đỗ, T và N1 hẹn gặp nhau tại thang xuống máy bay, N1 sẽ nhận túi điện thoại của T bỏ vào túi đồ nghề và di chuyển theo hướng ra sân bay cổng ga quốc nội để tránh sự kiểm soát, khai báo của cơ quan hải quan, N1 hẹn giao lại số điện thoại cho N hoặc T ngoài sân bay. Sau đó, T và N cùng bán số điện thoại này tại Việt Nam để thu lợi. N1 được nhận tiền công từ 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng/01 điện thoại (từ thời điểm). Để giúp sức cho việc mua gom, đem điện thoại từ Thái Lan về Việt Nam buôn lậu, T và N còn thuê Nguyễn Minh T2 (em ruột của N) thực hiện.

Qua tra xét, xác định Lê Văn N1 đã hỗ trợ T và N vận chuyển trót lọt số lượng lớn điện thoại Iphone 14 Promax do T, T2 mua từ Thái Lan mang về Việt Nam. N1 đã nhận tiền công tổng cộng là 533.500.000 đồng do vợ chồng Tuấn N2 chuyển khoản từ tài khoản Ngân hàng số 19035053453014 đứng tên Nguyễn Anh T và tài khoản số 19035640601018 đứng tên Nguyễn Thị Thúy N sang tài khoản của N1 số 10621525837011 và tin nhắn trao đổi qua mạng xã hội Zalo giữa T-Nga-Tgọc. Trong đó, có 02 chuyến Ngọc giúp Tung-Nga vận chuyển tổng cộng 60 cái điện thoại Iphone 14 Promax vào ngày 05/11/2022 và ngày 12/11/2022 thể hiện cụ thể: việc thanh toán tiền công của N1 qua tài khoản cá nhân ngày 07/11/2022 số tiền 27.000.000 đồng (tương ứng 30 cái điện thoại với 900.000 đồng/cái); ngày 12/11/2022 T bay về Việt Nam trên chuyến bay VN604 giao 30 cái điện thoại cho N1, được trả công 27.000.000 đồng (trừ 1.000.000 đồng tiền mua linh kiện điện thoại, chuyển vào tài khoản N1 26.000.000 đồng).

Tuy nhiên, sau này giá điện thoại trong nước giảm, cách vận chuyển này không có lợi nhuận cao nên từ tháng 12/2022, T và T2 qua Thái Lan mua gom số lượng lớn điện thoại Iphone 14 Promax tại các cửa hàng của A trong các trung tâm thương mại: Central World, R, MBK, I, S, Central Prama... sau đó, che giấu đem về Việt Nam bằng cách lấy máy điện thoại quấn vào đai quanh người, dùng bánh kẹo nhét vào các vỏ hộp, qua cửa hải quan không khai báo (không theo hình thức thuê N1 xách điện thoại phải chi tiền); tiền mua điện thoại tại Thái Lan, T thanh toán chuyển khoản bằng tiền Việt Nam cho Đoàn Triệu N3 (là người Việt Nam định cư tại Thái Lan, không lai lịch), sau đó N3 sẽ chuyển khoản lại bằng tiền Bath cho người bán hàng tại Thái Lan.

Ngày 22 và 23/12/2022, T và T2 qua Thái Lan mua gom điện thoại, T báo với N đã mua được 45 cái Iphone 14 Promax nên sẽ về Việt Nam vào ngày 24/12/2022. Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 24/12/2022, Nguyễn Anh T và Nguyễn Minh T2 nhập cảnh vào Việt Nam trên chuyến bay QH326 từ B Thái Lan về Sân bay T. Khi Nguyễn Anh T đi qua luồng đỏ của bộ phận soi chiếu Hải quan thì bị lực lượng chức năng kiểm tra, phát hiện đang cất giấu trong người 12 điện thoại Iphone 14 ProMax mới 100% và vận chuyển 02 kiện hành lí kí gửi có dán tem đứng tên Nguyễn Anh T và Nguyễn Minh T2, bên trong chứa 45 vỏ hộp điện thoại Iphone 14 ProMax rỗng và bánh kẹo các loại, nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tang vật. Riêng Nguyễn Minh T2 làm thủ tục nhập cảnh sau Nguyễn Anh T khoảng 10 phút và không bị giữ. T khai số điện thoại này còn gửi người bạn bên Thái Lan giữ giúp; N-T2 đều khai không biết số điện thoại này đang ở đâu, do ai cất giữ.

Nguyễn Minh T2 khai: thừa nhận có đi Thái Lan cùng T mua điện thoại Iphone 14 ProMax mới 100% tại các trung tâm thương mại, sau khi mua điện thoại về, T có để vào ba lô và giao cho T2 đem về Việt Nam, đưa người tên N1; sau tháng 12 thì T2 có từng đi chung vài chuyến với T, cất giấu điện thoại đã mua được vào người, bỏ bánh kẹo vào vỏ hộp, không khai báo hải quan. Riêng ngày 23/12/2022, T2 có qua Thái Lan mua gom điện thoại cho T2, ngày 24/12/2022 có về cùng chuyến bay với Nguyễn Anh T, nhưng không đem theo bất kỳ điện thoại nào T giao. Sau khi ra khỏi sân bay, nghe thông tin T bị bắt, vì lo sợ nên đã cư trú nhiều nơi, né tránh việc cơ quan chức năng mời làm việc. Mỗi chuyến đi Thái Lan giúp T-Nga, được trả công khoảng 1.000.000 đồng -2.000.000 đồng và được chi trả tiền khách sạn, tiền ăn.

Lê Văn N1 khai nhận: thông qua mối quan hệ xã hội, quen biết vợ chồng Nguyễn Anh T và Nguyễn Thị Thúy N, có thỏa thuận chuyển hàng là điện thoại di động mới 100% ra khỏi khu vực sân bay T, giao cho T-Nga để lấy phí hưởng lợi. Cụ thể: Ngọc báo T lịch trực bảo dưỡng chuyến bay để T đặt lịch bay về sân bay T, sau khi đặt được vé của chuyến bay đã thông báo, cả hai hẹn vị trí gặp tại lối ra máy bay (cửa trước hoặc sau), tại khu vực thang xuống hoặc ống lồng, để nhận túi điện thoại của T. Sau đó, N1 để túi này vào túi đồ nghề bảo dưỡng, di chuyển theo quy định dành cho nhân viên kỹ thuật, N1 lén đi lối ra ga quốc nội, nhằm né tránh khu vực kiểm tra, giám sát hải quan, liên lạc với N hoặc T để nhận lại điện thoại, sau đó được N chuyển tiền công qua tài khoản ngân hàng. Ngoài việc nhận hàng từ T, đôi lúc T báo bận, giao hàng cho người em tên T2 gặp N1 để giao. Thừa nhận, tại sao kê tài khoản có nhận 02 khoản tiền do N chuyển đến thanh toán cho tiền công chuyển 60 cái điện thoại ra khỏi khu vực sân bay.

Kết quả xác minh, điều tra:

Kết quả kiểm tra điện thoại di động thu giữ của Nguyễn Anh T thể hiện các tin nhắn zalo với tài khoản “VK IU” (Nguyễn Thị Thúy N) và “Em T3” (Nguyễn Minh T2) có nội dung bàn bạc, thỏa thuận về việc thu mua điện thoại Iphone tại Thái Lan, cách thức che giấu để mang về Việt Nam.

Kiểm tra điện thoại di động của Lê Văn N1 thể hiện các tin nhắn trao đổi giữa N1 và N, T về các nội dung trao đổi, thỏa thuận, thanh toán tiền khi thực hiện hành vi phạm.

Ngày 10/7/2023, Phòng K3 Công an Thành phố H có Kết luận giám định số 3096/KL-KTHS: Tìm thấy trong điện thoại di động thu giữ của Nguyễn Anh T tập tin hình ảnh, L, danh bạ, cuộc gọi, W, W1, zalo, tin nhắn điện thoại. Kết quả trích xuất lưu trữ được lưu trong 01 ổ cứng di động màu đen dung lượng 1TB, Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển kèm theo hồ sơ vụ án.

Kết quả xác minh từ ngày 30/9/2022 đến 24/12/2022: Nguyễn Anh T xuất-nhập cảnh 14 lần; Nguyễn Minh T2 xuất-nhập cảnh 18 lần, trong đó có 09 lần nhập cảnh cùng một chuyến bay. Ngày 12/11/2022, T và T2 nhập cảnh về Việt Nam trên chuyến bay VN604 (phù hợp thông tin đã hẹn trước với Lê Văn N1).

Xác minh tại T7 được biết: Thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi của mặt hàng điện thoại thông minh là 0%; Thuế suất thuế giá trị gia tăng của mặt hàng điện thoại thông minh là 10%.

Kết quả xác minh Chi cục Hải quan Sân bay T6 trả lời: Về quy định đối với điện thoại thông minh khi xách tay vào Việt Nam, căn cứ khoản 2 Điều 54 Luật Hải quan, Điều 60 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan: Trường hợp hành lý của người nhập cảnh có mặt hàng điện thoại di động mới 100% với tổng giá trị Hải quan vượt quá 10.000.000 đồng thì phải làm thủ tục Hải quan như đối với hàng hóa nhập khẩu.

Kết quả xác minh tại Chi cục hải quan cửa khẩu Sân bay Quốc tế T6: Không còn lưu giữ hình ảnh camera của Nguyễn Minh T2 khi đi qua khu vực soi chiếu hải quan vào ngày 24/12/2022; không còn lưu giữ hình ảnh camera của Nguyễn Anh T và Nguyễn Minh T2 khi đi qua khu vực soi chiếu hải quan đối với các chuyến bay nhập cảnh vào Việt Nam của T và T2 trước ngày 24/12/2022.

Kết quả xác minh sao kê tài khoản Ngân hàng của Nguyễn Anh T, Nguyễn Thị Thúy N thể hiện: Trong thời gian từ ngày 21/12/2022 đến 24/12/2022 (T đi buôn chuyến hàng bị bắt giữ), N đã chuyển khoản cho T số tiền 1.589.999.999 đồng, T khai nhận sử dụng số tiền này để mua 45 điện thoại di động Iphone 14 Promax tại Thái Lan bằng cách chuyển khoản cho Đoàn Triệu N3 (người Việt Nam định cư tại Thái Lan) để N3 giúp T chuyển tiền B cho những người bán điện thoại. Ngoài ra, vào các ngày T xuất cảnh đi Thái Lan, Nguyễn Thị Thúy N đều chuyển khoản cho T (số tiền mỗi lần chuyển từ hơn 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng).

Ngày 30/12/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận T có Kết luận định giá tài sản số 175/HĐĐGTS-TTHS kết luận 12 điện thoại Iphone 14 Promax các loại có giá trị là 354.000.000 đồng.

Ngày 19/10/2023, Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự cấp Thành phố có kết luận định giá tài sản số 7280/KL-HĐĐGTS kết luận: Điện thoại di động Iphone 14 Promax 128GB hàng mới 100% vào thời điểm ngày 05/11/2022 và thời điểm ngày 12/11/2022 có giá trị tính tròn là 33.990.000 đồng đã bao gồm 10% VAT. Như vậy, với 60 điện thoại Iphone 14 Promax do Nguyễn Anh T, Nguyễn Thị Thúy N, Lê Văn N1, Nguyễn Minh T2 buôn lậu vào ngày 05/11/2022 và ngày 12/11/2023 có giá trị là 2.039.400.000 đồng.

Tiến hành cho Nguyễn Anh T, Nguyễn Minh T2, Lê Văn N1 xác định vị trí giao điện thoại tại cửa máy bay, các bị can đều xác nhận vị trí T - T2 giao điện thoại cho N1 là ngay tại vị trí bậc đầu tiên của cầu thang dành cho khách hàng lên xuống máy bay khi máy bay đáp ở xa không cập vào ống lồng, hoặc ngay tại vị trí vừa ra đến cửa máy bay tiếp giáp ống lồng khi máy bay cập vào ống lồng để khách đi ra khỏi máy bay.

Kết quả xác minh, truy tìm 33 máy điện thoại có thông tin tương ứng trên vỏ hộp điện thoại thu giữ được: Cơ quan Cảnh sát điều tra C đã thu giữ được 02 điện thoại liên quan trong vụ án gồm: điện thoại di động Iphone 14 ProMax loại 256GB, có số IMEI 1: 353703850448647, số IMEI 2: 356703850299420 do bà Nguyễn Phương T4 (sinh năm 1987; địa chỉ: A Hồ N, khu phố D, phường B, TP . TP .) sử dụng và điện thoại di động Iphone 14 ProMax loại 128GB, có số IMEI 1: 358795286667483, số IMEI 2: 358795286834992 do bà Trần Thị Thùy Q (CMND số [...], địa chỉ: V, C, TP ., An Giang) sử dụng.

Kết quả ghi lời khai bà Trần Thị Thùy Q: Điện thoại di động Iphone 14 ProMax loại 128GB, có số IMEI 1: 358795286667483, số IMEI 2: 358795286834992 do bà Q mua của một người không rõ nhân thân, lai lịch thông qua mạng xã hội, hiện bà Q không còn thông tin liên lạc với người bán điện thoại.

Kết quả ghi lời khai bà Nguyễn Phương T4: Điện thoại trên do bà T4 mua tại cửa hàng điện thoại di động Hoàng Kim M1 (địa chỉ A T, phường T, Quận A, TP .) vào ngày 19/01/2023 với giá 34.900.000 đồng. Khi mua điện thoại chỉ có hóa đơn bán lẻ, không có hóa đơn chứng từ thể hiện nguồn gốc xuất xứ.

Qua xác minh, ghi lời khai chủ cửa hàng Hoàng Kim M1 xác định cửa hàng Hoàng Kim M1 giao dịch, mua bán điện thoại trên với bà Nguyễn Thị N (sinh năm 1974; HKTT: C L, Phường A, Quận A, TP .; nơi ở hiện tại: 6 H, Phường A, Quận A, TP .). Việc mua bán đều không có hóa đơn, chứng từ, hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ. Kết quả ghi lời khai bà Nguyễn Thị N khai nhận N chuyên mua bán điện thoại Iphone mới không rõ nguồn gốc xuất xứ, không có hóa đơn chứng từ các hội nhóm trên mạng xã hội (chủ yếu là telegram) sau đó bán lại cho khách hàng, các cửa hàng, cá nhân có dấu hiệu tiêu thụ hàng nhập khẩu trái phép. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ.

Vật chứng thu giữ:

- Khi bắt quả tang Nguyễn Anh T thu giữ:

  • + 02 (hai) điện thoại di động Iphone 14 ProMax loại 256 GB, hàng mới 100%;
  • + 10 (mười) điện thoại di động Iphone 14 ProMax loại 128 GB, hàng mới 100%;
  • + 45 (bốn mươi lăm) hộp Iphone 14 ProMax rỗng bên trong chứa kẹo bánh các loại;
  • + 02 (hai) thùng rỗng dùng để chứa 45 hộp Iphone 14 ProMax có gắn tag: 1P549268 tên Nguyễn Anh T; tag: 1P554363 tên Nguyễn Minh T2.
  • + 01 (một) điện thoại di động Iphone 13 ProMax, số máy: MLH73ZA/A, số Seri: NJMJP41TJC, 128GB, IMEI: 35124630097736 (điện thoại cũ, đã bị vỡ mặt lưng và màn hình) chứa sim số: 0933869079 và sim số: 0909878684.
  • + 01 (một) hộ chiếu số: C4170781 tên Nguyễn Anh T, 01 (một) vé máy bay chuyến QH326 ngày 24/12/2022 tên Nguyễn Anh T; 02 (hai) tag hành lí: 05231P549268 NME:NGUYEN/ANHTUANMR; tag: 05231P554363 NME: NGUYEN/MINHTRUNG.

- Khám xét nơi kinh doanh của Nguyễn Anh T tại cửa hàng K1 thu giữ: một số linh kiện điện tử do bà N khai nhận mua trôi nổi trên thị trường, không có hoá đơn chứng từ, không rõ nguồn gốc xuất xứ (được bỏ trong 01 thùng carton có dán giấy niêm phong ghi ngày 25/12/2022 có chữ ký của bà Nguyễn Thị Thúy N). Ngày 28/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố đã có văn bản số 5224/PC01-Đ3 chuyển đồ vật, tài liệu thu giữ cho Công an quận T để xử lý theo thẩm quyền.

  • + 01 (một) điện thoại di động Iphone 14 ProMax loại 256GB, có số IMEI 1: 353703850448647, số IMEI 2: 356703850299420 (đã qua sử dụng) do bà Nguyễn Phương T4 giao nộp.
  • + 01 (một) điện thoại di động Iphone 14 ProMax loại 128GB, có số IMEI 1: 358795286667483, số IMEI 2: 358795286834992 (đã qua sử dụng) do bà Trần Thị Thùy Q giao nộp.

- Khám xét chỗ ở của Lê Văn N1 thu giữ:

  • + 01 (một) túi vải màu đen do N1 sử dụng để cất giấu, vận chuyển điện thoại buôn lậu cho Nguyễn Anh T.
  • + 01 xe máy SH biển số 59V1-166.06 của bị can Lê Văn N1 và 01 bản chính giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 093011 của xe máy SH biển số 59V1-166.06 đứng tên Lê Văn C1. Kết quả xác minh tại Phòng Cảnh sát giao thông xe mô tô trên đứng tên ông Lê Văn C1 (sinh năm 1974; địa chỉ: B (P) B, Phường B, quận T) đăng ký ngày 26/6/2014. Kết quả giám định số khung, số máy nguyên thủy của xe không thay đổi. Kết quả ghi lời khai ông Lê Văn C1 và bị can Lê Văn N1 đều khai phù hợp với nhau về việc xe máy SH biển số 59V1-16606 là xe của Lê Văn N1 mua lại của ông Phạm Ngọc M2 nhưng nhờ ông Lê Văn C1 (là anh họ của N1) đứng tên để đăng ký xe (do thời điểm đó N1 không có hộ khẩu thường trú tại TP .). Thực tế xe trên là tài sản của N1, do N1 quản lý sử dụng làm phương tiện đi lại. Ông C1 không biết việc N1 sử dụng xe máy trên làm phương tiện vận chuyển hàng buôn lậu.

Khám xét chỗ ở của Nguyễn Minh Trung thu G: 01 (một) hộ chiếu số C6204137 đứng tên Nguyễn Minh T2.

Phong tỏa tài khoản và nộp tiền thu lợ bất chính:

  • + Ngày 05/01/2024, Cơ quan điều tra đã ra lệnh phong tỏa tài khoản số 137/LPT-PC01-Đ3 phong tỏa số tiền 94.243.631 đồng (chín mươi tư triệu hai trăm bốn mươi ba ngàn sáu trăm ba mươi mốt đồng) trong tài khoản số 10621525837011 đứng tên Lê Văn N1 mở tại Ngân hàng TMCP K4 Chi nhánh T8.
  • + Bị cáo Nguyễn Thị Thúy N đã nộp số tiền 200.000.000 đồng vào tài khoản tạm giữ của Cơ quan điều tra (Giấy nộp tiền ngày 11/12/2023).

Tại cơ quan điều tra, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Bản Kết luận điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Thành phố H đã nêu.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 288/2024/HS-ST ngày 19/6/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

- Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 188; điểm t, s, n khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54; Điều 58; Điều 17; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị Thúy N 04 (B1) năm tù về tội “Buôn lậu”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án theo quy định.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về tội danh, hình phạt cho các bị cáo khác; án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 01/7/2024, bị cáo Nguyễn Thị Thúy N có Đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

1. Phần xét hỏi và phần hỏi:

Bị cáo Nguyễn Thị Thúy N trình bày: Bị cáo đồng ý về phần tội danh, tuy nhiên mức án mà Tòa sơ thẩm tuyên là quá cao, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như: Khi phạm tội là bị cáo đang có thai, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã nộp lại một phần tiền thu lợi bất chính. Kính mong HĐXX xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

2. Phần tranh luận:

2.1. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

2.1.1. Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia phiên tòa chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm. Kháng cáo của bị cáo nằm trong hạn nên cần xem xét theo quy định pháp luật.

2.1.2. Về nội dung: Qua đối chiếu hồ sơ vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ chứng cứ và tuyên hình phạt 04 năm tù về tội “Buôn lậu” đối với bị cáo là tương xứng với hành vi của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm bị cáo kháng cáo nhưng không đưa ra được tình tiết mới chứng minh cho yêu cầu của mình. Do đó, đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

2.2. Luật sư Tô Bá T1 trình bày: Đề nghị ghi nhận thêm tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội tự nguyện khắc phục hậu quả” vì bị cáo đã tự nguyện đóng tiền vào ngân sách nhà nước. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, t, s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Đồng thời bị cáo đang nuôi 03 con nhỏ, mẹ bị cáo bệnh tật không ai chăm sóc. Do đó, đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của bị cáo cho bị cáo được hưởng án treo hoặc phạt tiền đối với bị cáo.

2.3. Đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa cho bị cáo và bị cáo giữ nguyên quan điểm về phần tranh tụng của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.

3. Phần bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã ăn năn hối cải, bị cáo một mình nuôi con nhỏ và bố mẹ già; bị cáo phải một mình kiếm thu nhập để trả nợ ngân hàng. Kính mong HĐXX chấp nhận kháng cáo cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị cáo Nguyễn Thị Thúy N thực hiện việc kháng cáo theo đúng quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của các bị cáo và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định:

[2.1] Ngày 24/12/2022, công an quận T phối hợp với Chi cục Hải quan sân bay quốc tế T6 đã bắt quả tang Nguyễn Anh T có hành vi nhập khẩu trái phép, không khai báo hải quan đối với 12 cái điện thoại Iphone 14 ProMax xuất xứ từ Thái Lan. Kết luận định giá tài sản số 175/HĐĐGTS-TTHS ngày 30/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận T kết luận 12 điện thoại Iphone 14 Promax các loại có giá trị là 354.000.000 đồng. Quá trình điều tra xác định, việc mua 12 điện thoại trên từ Thái Lan về Việt Nam trái phép có sự tham gia giúp sức của Nguyễn Minh T2, Nguyễn Thị Thúy N.

Ngoài ra, căn cứ vào lời khai của Nguyễn Anh T, Nguyễn Thị Thúy N và các kết quả sao kê tài khoản ngân hàng của T, N và Lê Văn N1 có cơ sở xác định ngoài hành vi bị bắt quả tang vào ngày 24/12/2022, thì vào các ngày 05/11/2022 và ngày 12/11/2022 Nguyễn Anh T, Nguyễn Minh T2, Nguyễn Thị Thúy N và Lê Văn N1 cùng thực hiện hành vi mua 60 cái điện thoại Iphone 14 Promax, từ Thái Lan vào Việt Nam trái phép. Kết luận định giá tài sản xác định 60 chiếc điện thoại trên có giá trị là 2.039.400.000 đồng.

[2.2] Các bị cáo Nguyễn Anh T, Nguyễn Minh T2, Lê Văn N1, Nguyễn Thị Thúy N nhận thức được hành vi buôn lậu là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi nên vẫn cố tình thực hiện.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực xuất nhập khẩu hàng hóa, quản lý hàng hóa qua biên giới.

[2.3] Với hành vi nêu tại mục [2.1] và nhận định tại mục [2.2], Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Anh T, Nguyễn Minh T2, Lê Văn N1, Nguyễn Thị Thúy N phạm tội “Buôn lậu” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 188 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thị Thúy N

[3.1] Đây là vụ án có đồng phạm, bị cáo N tuy không trực tiếp sang Thái Lan để mua, mang điện thoại trái phép từ Thái Lan về Việt Nam nhưng là người thực hiện việc chuyển tiền cho bị cáo Nguyễn Anh T mua điện thoại tại Thái Lan mang về Việt Nam, kiểm tra việc thu chi tài chính liên quan đến việc bán điện thoại trái phép tại Việt Nam theo chỉ đạo của bị cáo T. Do đó, bị cáo N phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò thấp hơn so với bị cáo T.

Tòa án cấp sơ thẩm khi lượng hình đã xem xét mức độ thực hiện hành vi phạm tội, vai trò của các bị cáo trong đồng phạm, xem xét nhân thân, xem xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo N là “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo N là “Người phạm tội là phụ nữ có thai”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án”, bị cáo đã nộp lại một phần tiền thu lợi bất chính, là các tình tiết quy định tại điểm n, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, từ đó xét xử bị cáo N 04 (bốn) năm tù là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi do bị cáo N thực hiện.

[3.2] Quá trình tố tụng tại giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo nhưng không cung cấp được tình tiết mới làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo hưởng án treo. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo N; chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát, giữ nguyên phần hình phạt của bản án sơ thẩm đối với bị cáo N.

[4] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Án phí hình sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Thị Thúy N phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thúy N; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 288/2024/HSST ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 188; điểm t, s, n khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54; Điều 58; Điều 17; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị Thúy N 04 (B1) năm tù về tội “Buôn lậu”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án theo quy định.

2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày thời hạn hết kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị Thúy N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

CÁC THẨM PHÁN TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Chung Văn K – H Vũ Đức Toàn

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - Bị cáo;
  • - Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh;
  • - Cục THADS TP. Hồ Chí Minh;
  • - Lưu: VP, HS (ĐTM)
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 890/2024/HS-PT ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - buôn lậu

  • Số bản án: 890/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Buôn lậu
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thúy N; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 288/2024/HSST ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger