|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 89/2024/HS-ST Ngày: 30 – 10 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Ông Hà Văn Đông.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Vi Văn Duẩn.
2/ Bà Lô Thị Hà.
Thư ký phiên toà: Bà Vi Hải Yến – Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Vi Ngọc Thái – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 81/2024/TLST – HS ngày 04 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Đặng Văn H, tên gọi khác: Không; sinh năm: 1983 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Khánh H1 và bà Nguyễn Thị C; chung sống như vợ chồng với chị Nguyễn Thị N (không đăng ký kết hôn) và có 01 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2002 bị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 76/2002/HSST ngày 26/12/2002 (đã được xóa án tích). Năm 2020 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số 182/2020/HSST ngày 25/11/2020 (đã được xóa án tích); bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/7/2024 đến nay. (Có mặt)
- Họ và tên: Tăng Minh H2, tên gọi khác: Không; sinh năm: 1982 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tăng Văn N1 (đã chết) và bà Đặng Thị L; có vợ là Ngô Thị V và 02 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/7/2024 đến nay. (Có mặt)
- Họ và tên: Vi Văn T, tên gọi khác: Không; sinh năm: 1986 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: bản Đ, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Văn T1 (đã chết) và bà Lang Thị M; có vợ là Kim Thị M1 và 01 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2020 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 15 tháng theo quyết định số 26/2020/QD-TA ngày 04/11/2020, chấp hành xong quyết định ngày 07/12/2021; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/7/2024 đến nay. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cùng là người nghiện chất ma túy nên vào sáng ngày 04/7/2024 Tăng Minh H2 đến nhà gặp Đặng Văn H, qua trao đổi H2 nói với H mình có tiền muốn mua ma túy về sử dụng nhưng không biết nơi bán H có thể mua giúp được về để sử dụng chung không, H nói với H2 mình có quen biết một người bạn ở huyện Q có thể mua hộ ma túy được. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày H2 điều khiển xe mô tô YAMAHA Sirius màu đỏ đen, mang biển kiểm soát 37B2-348.50 đến nhà H đưa số tiền 250.000đ (hai trăm năm mươi nghìn đồng) nhờ mua ma túy rồi H2 chở H đi lên huyện Q mua ma túy để sử dụng. Khi đến xã C, huyện Q theo chỉ dẫn của H cả hai đi vào nhà của Vi Văn T ở bản Đ, xã C là người Hùng quen biết từ trước đó khi cùng nhau làm công bốc cây keo thuê tại xã C, tại sân nhà của T qua trao đổi H nói với T có biết nơi nào bán ma túy không nhờ T mua hộ để sử dụng, T trả lời có biết nơi bán nên H đưa số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) cho T nhờ mua hộ, sau khi nhận tiền T nói H và H2 ra ngoài đường đứng chờ mình, sau đó T đi đâu một lúc quay trở về đưa cho H 01 (một) gói nhỏ ma túy được bọc bên ngoài bằng mảnh bao thuốc lá màu vàng, H cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái của mình ngồi lên xe mô tô do H2 điều khiển đi về. Khoảng 13 giờ cùng ngày trên đường về thì bị lực lượng Công an huyện Q đang làm nhiệm vụ tuần tra đảm bảo an ninh trật tự yêu cầu dừng xe kiểm tra hành chính, khi xe vừa dừng H thả gói ma túy từ trong lòng bàn tay trái của mình xuống mặt đường nơi dừng xe nhưng bị phát hiện bắt quả tang, niêm phong vật chứng, tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang và về trụ sở để tiếp tục điều tra làm rõ sự việc xử lý theo quy định. Chiều cùng ngày, sau khi biết thông tin H và Hậu bị bắt quả tang T đã tự nguyện đến cơ quan Cảnh sát Công an huyện Q đầu thú, khai nhận toàn bộ sự việc.
Tại biên bản mở niêm phong vật chứng xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại, lập ngày 04/7/2024 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An, xác nhận bên trong gói niêm phong có:
- 01 (một) gói chất rắn màu trắng được bọc bằng mảnh giấy bạc bao thuốc lá màu vàng (nghi là ma túy). Gói chất rắn màu trắng được bọc bằng mảnh giấy bạc bao thuốc lá màu vàng có khối lượng là 0,205g (không phẩy hai trăm lẻ năm gam) cả bì; Sau khi loại bỏ bao bì, số chất rắn màu trắng có khối lượng là 0,155g (không phẩy một trăm năm mươi lăm gam). Cán bộ kỹ thuật hình sự lấy toàn bộ 0,155g (không phẩy một trăm năm mươi lăm gam) chất rắn màu trắng nói trên để đưa đi giám định tính chất ma túy.
- Số vật chứng còn lại bao gồm: Mảnh giấy bạc bao thuốc lá màu vàng và vỏ bao niêm phong cũ sau khi kiểm tra, lấy mẫu xong được niêm phong lại theo quy định.
Kết luận giám định số: 753/KL-KTHS(Đ2-MT), ngày 10/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “- Mẫu chất rắn màu trắng thu giữ của Đặng Văn H và Tăng Minh H2 gửi giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
- Số chất rắn màu trắng thu giữ của Đặng Văn H và Tăng Minh H2 có khối lượng là 0,155g (không phẩy một trăm năm mươi lăm gam).”
Bản cáo trạng số: 84/CT-VKS-QC ngày 02/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, truy tố các bị cáo Đặng Văn H, Tăng Minh H2 và Vi Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Đặng Văn H từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam.
Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Tăng Minh H2 từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam.
Xử phạt bị cáo Vi Văn T từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam.
Buộc các bị cáo chịu tiền án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, đề nghị không áp dụng thêm hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng gồm mảnh giấy bạc bao thuốc lá màu vàng và vỏ bao niêm phong cũ sau khi kiểm tra, lấy mẫu xong được niêm phong lại theo quy định.
Đề nghị tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước đối với số tiền 50.000đ (năm mươi nghìn đồng) tạm giữ tại bị cáo Đặng Văn H.
Trả lại 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11 Pro màu xanh, máy đã qua sử dụng tạm giữ của bị cáo Đặng Văn H.
Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô YAMAHA Sirius màu đỏ đen, biển kiểm soát 37B2-348.50, xe đã qua sử dụng và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A20s màu xanh, đã qua sử dụng tạm giữ của bị cáo Tăng Minh H2 được xác định là tài sản hợp pháp của bị cáo và gia đình, không sử dụng vào mục đích phạm tội, cơ quan điều tra Công an đã ra quyết định trả lại tài sản theo quy định, do đó đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét thêm.
Tại phần tranh luận các bị cáo không có ý kiến tranh luận hay bào chữa cho mình. Lời nói sau cùng tại phiên tòa các bị cáo nhận tội và xin xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Những chứng cứ xác định có tội: Căn cứ những tài liệu, chứng cứ cơ quan điều tra Công an thu thập có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại; đơn xin đầu thú và biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú; kết luận giám định; bản tự khai, biên bản hỏi cung, lấy lời khai của các bị cáo và người liên quan, phù hợp với lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa, cũng như những tài liệu, chứng cứ khách quan khác thu thập có trong hồ sơ, đủ căn cứ để xác định:
Trong lúc tuần tra làm nhiệm vụ tại khu vực bản Độ 2, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An, tổ công tác Công an huyện Q tiến hành kiểm tra hành chính phát hiện, bắt quả tang các bị cáo Đặng Văn H và Tăng Minh H2 có hành vi cất giấu 01 (một) gói ma túy (Heroine) được bọc bên ngoài bằng mảnh bao bạc thuốc lá màu vàng có trọng lượng sau khi loại bỏ bao bì là 0,155g (không phẩy một trăm năm mươi lăm gam). Sau khi bị bắt quả tang các bị cáo khai nhận gói ma túy có nguồn gốc nhờ bị cáo Vi Văn T mua hộ với mục đích để sử dụng, sau khi biết thông tin các bị cáo H và Hậu bị bắt quả tang bị cáo T đã tự nguyện đến cơ quan Công an đầu thú và khai nhận toàn bộ sự việc. Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, theo như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của các bị cáo có tính chất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an ninh xã hội tại địa phương, ma túy là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và căn bệnh truyền nhiễm khác. Các bị cáo đều là người có đầy đủ năng lực hành vi, trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của chất ma túy cũng như việc thực hiện các hành vi trái phép liên quan đến ma túy là vi phạm pháp luật, bản thân bị cáo H có nhân thân xấu liên quan đến hành vi tội phạm ma túy, bị cáo T đã từng bị đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc nhưng không lấy đó làm bài học chịu khó tu dưỡng, rèn luyện bản thân, chỉ để nhằm thỏa mãn nhu cầu bất hợp pháp của cá nhân mà các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, nên cần lên cho các bị cáo mức án nghiêm, phù hợp với vai trò, tính chất, mức độ phạm tội của mỗi bị cáo, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để các bị cáo được giáo dục, cải tạo, sửa chữa lỗi lầm trở thành người công dân tốt, sống có ích cho xã hội và răn đe giáo dục phòng ngừa chung.
Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc, phân công vai trò, lên kế hoạch từ trước. Trong vụ án bị cáo Đặng Văn H là người tích cực thực hiện hành vi phạm tội, biết rõ bị cáo H2 có nhu cầu muốn mua ma túy để sử dụng nên đã chủ động đưa H2 đi mua ma túy và là người trực tiếp trao đổi nhờ mua hộ ma túy, bị cáo có ít tình tiết giảm nhẹ có nhân thân xấu nên cần buộc bị cáo chịu trách nhiệm hình sự cao hơn các bị cáo khác. Đối với bị cáo Tăng Minh H2 là người đề xuất việc mua ma túy về sử dụng, đồng thời là người đưa tiền nhờ bị cáo Đặng Văn H mua ma túy để cùng sử dụng, tuy nhiên trước khi phạm tội có nhân thân tốt, có hai tình tiết giảm nhẹ do đó cần buộc bị cáo chịu trách nhiệm hình sự thấp hơn bị cáo H, bị cáo Vi Văn T là người thực hiện hành vi giúp sức, trực tiếp đi mua hộ ma túy cho các bị cáo khác, tuy nhiên không nhằm mục đích để được nhận tiền công hoặc hưởng lợi gì, có hai nhiều tình tiết giảm nhẹ và có vai trò thứ yếu hơn trong vụ án, do đó cần buộc bị cáo chịu trách nhiệm hình sự thấp hơn hai bị cáo còn lại là phù hợp.
[4] Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo Tăng Minh H2 có bố, mẹ đẻ là người có công được tặng thưởng huân chương kháng chiến, đối với bị cáo Vi Văn T sau khi sự việc bị phát hiện đã tự nguyện ra đầu thú, đó là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Đặng Văn H khai nhận có bố đẻ là Đặng Khánh H1 được tặng thưởng huân chương kháng chiến, tuy nhiên trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh nên Hội đồng xét xử không chấp nhận cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, các bị cáo có thể bị áp dụng thêm các hình phạt bổ sung. Tuy nhiên theo tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo đều là lao động tự do không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, gia đình thuộc diện khó khăn, đang bị tạm giam, không có tài sản riêng và khả năng thi hành án, nên Hội đồng xét xử không xem xét áp dụng hình thêm phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[6] Căn cứ vào lời khai nhận của bị cáo Vi Văn T Cơ quan điều tra Công an đã tiến hành điều tra, xác minh về hành vi bán ma túy của người có tên Vi Đức M2 ở khu vực bản Độ 2, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Quá trình điều tra xác minh tại bản Độ 2, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An có một người có họ tên Vi Đức M2, sinh năm 1990, quá trình điều tra vụ án người tên M2 không có mặt tại địa phương, đi đâu, làm gì, ở đâu gia đình và chính quyền địa phương không rõ, ngoài ra theo lời khai của bị cáo T việc mua bán ma túy ngoài hai bên trực tiếp trao đổi, thực hiện không có người thứ ba chứng kiến hay biết về sự việc, do đó chưa có đủ căn cứ tài liệu, chứng cứ chứng minh về hành vi phạm tội của người tên Vi Đức M2 để xử lý theo quy định của pháp luật, do đó cơ quan điều tra Công an huyện Q tiếp tục tiến hành điều tra làm rõ sự việc đối với người tên M2, nếu như có đủ căn cứ, tài liệu xác định có hành vi phạm tội sẽ xem xét xử lý bằng một vụ án khác.
[7] Về vật chứng: Khối lượng ma túy (Heroine) 0,155g (không phẩy một trăm năm mươi lăm gam) đã được giám định hết, những vật chứng còn lại gồm mảnh bao bạc gói thuốc lá màu vàng và vỏ bao niêm phong cũ là những vật không có giá trị và giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Số tiền 50.000đ (năm mươi nghìn đồng) tạm giữ từ bị cáo Đặng Văn H được xác định là tiền nhằm mục đích phạm tội, do đó cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước theo quy định.
Chiếc điện thoại di động OPPO F11 Pro màu xanh, máy đã qua sử dụng tạm giữ của bị cáo Tăng Minh H2 được xác định là tài sản hợp pháp của bị cáo không sử dụng vào mục đích phạm tội trong vụ án, do đó cần xem xét trả lại cho bị cáo.
Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 37B2-348.50 và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A20s màu xanh, máy đã qua sử dụng được xác định là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị cáo Tăng Minh H2 và gia đình, bị cáo không sử dụng vào mục đích phạm tội, tại giai đoạn điều tra cơ quan điều tra Công an huyện Q đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là đúng quy định, do đó Hội đồng xét xử không xem xét lại.
[8] Về án phí: Buộc các bị cáo chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Đặng Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 04/7/2024.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Tăng Minh H2 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 04/7/2024.
Xử phạt bị cáo Vi Văn T 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 04/7/2024.
-
Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy mảnh giấy bạc bao thuốc lá màu vàng và toàn bộ vỏ bao niêm phong cũ được bỏ vào 01 (một) phong bì thư mặt trước ghi: “Vật chứng thuộc vụ Đặng Văn H cùng đồng bọn – Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 04/7/2024 tại xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An”.
Trả lại cho bị cáo Đặng Văn H 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, tên thiết bị O, IMEI1: 864182040459290, IMEI2: 864182040459282, màu xanh, bên trong có gắn thẻ sim số 0827266088. (Những vật chứng nêu trên có đặc điểm chi tiết theo biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 03/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu)
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng). (Vật chứng được gửi bảo quản tại Kho bạc nhà nước Q, theo Biên bản giao nhận tài sản số 34/2024/BBBG-KBNN ngày 30/9/2024 giữa Công an huyện Q và Kho bạc Nhà nước Q, có bảng kê chi tiết tài sản giao nhận kèm theo)
-
Án phí: Căn cứ vào Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Đặng Văn H, Tăng Minh H2 và Vi Văn T chịu án phí Hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Văn Đông |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
|
Vi Văn Duẩn – Lô Thị Hà |
Hà Văn Đông |
Bản án số 89/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 89/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Do nghiện chất ma túy, bản thân có tiền nhưng không biết nơi mua ma túy nên Tăng Minh H đến nhà gặp Đặng Văn H1 hỏi H1 có quen biết ai bán ma túy không cùng đi mua về sư dụng và được H1 đồng ý chở lên huyện C gặp người quen của H là T nhờ T mua hộ 01 gói ma túy với số tiền là 200.000 đồng, sau khi mua được ma túy trên đường về bị bắt quả tang, khối lượng ma túy (Heroine) thu được là 0,155g (Không phảy một trăm năm mươi lăm gam).
